Đề bài số 25: Phân tích nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính, cho ví dụ
Từ ngữ viết tắt: VPHC – Vi phạm hành chính
TQXP VPHC – Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
Bài làm:
Ngay phần mở đầu của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002
( bài làm có bổ sung Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh
xử phạt vi phạm hành chính….ngày 02/04/2008) có đoạn: “đấu tranh phòng
ngừa và chống vi phạm hành chính, góp phần giữ vững an ninh, trật tự, an
toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá
nhân, tổ chức, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực
quản lý của Nhà nước”. Vậy vi phạm hành chính ( VPHC) là gì? Các nguyên
tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính ( TQXP VPHC) được
tiến hành như thế nào? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu……
Về khái niệm VPHC và TQXP VPHC. VPHC là hành vi do cá nhân
hoặc tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hay vô ý, vi phạm các quy định của pháp
luật về quản lí Nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của
pháp luật phải bị xử phạt VPHC. Tại khoản 2, Điều 1 Pháp lệnh xử lí vi
phạm hành chính năm 2002, VPHC được định nghĩa một cách gián tiếp:
“Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ
chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi
phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội
phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.”
TQXP VPHC là khả năng được áp dụng các biện pháp xử lí hành chính
trong giới hạn nhất định cho cá nhân hoặc tổ chức. Thẩm quyền xử lí vi
phạm hành chính của chủ thể nào đó được xác định bằng những quyền hạn
mà pháp luật quy định cho các chủ thể đó được áp dụng biện pháp xử lí với
mức độ được xác định cụ thể. Theo pháp luật hiện hành, rất nhiều chủ thể có
thẩm quyền trong xử phạt vi phạm hành chính. TQXP VPHC được quy định
tại Điều 42 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002.
Nội dung của Điều 42 quy định nguyên tắc xác định TQXP VPHC. Nguyên
quản lí. Mức tối đa của khung phạt tiền quy định đối với từng hành vi là một
trong những tiêu chí làm căn cứ để xác định thẩm quyền xử phạt, bởi lẽ phạt
tiền là biện pháp xử phạt hành chính được áp dụng đối với hầu hết các vi
phạm hành chính trong tất cả các lĩnh vực trong quản lí hành chính Nhà
nước. Mức phạt tiền thể hiện tính nguy hiểm của hành vi, cũng như sự đánh
giá của Nhà nước với hành vi đó.
Khoản 2 Điều 42 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 quy định:
‘Thẩm quyền xử phạt của những người từ Điều 28 đến Điều 40 pháp lệnh
này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính. Trong
trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt được xác định căn cứ vào mức tối
đa của khung phạt tiền quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể”
Ví dụ: Một người có bằng lái xe ô tô đã hết hạn sử dụng điều khiển ô tô đi
vào đường cấm khi xe ô tô trong tình trạng còi, đèn không hoạt động được.
Trường hợp này người lái xe đã thực hiện 03 hành vi vi phạm hành chính
cùng một lúc.
2
Trong khi đó, thẩm quyền của Trạm trưởng, Đội trưởng của chiến sỹ cảnh
sát nhân dân được phạt tiền đến 200.000 đồng thì chức danh này có quyền
phạt đối với cả ba vi phạm chính trên
Theo pháp luật hiện hành, nếu vi phạm hành chính có khung phạt tiền kéo
dài qua ranh giới thẩm quyền của hai cấp xử phạt thì thẩm quyền xử phạt đối
với vi phạm đó sẽ thuộc thẩm quyền của cấp xử phạt cao hơn mà khoản 2
Điều 57 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 quy định: ‘ …Mức
tiề phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của
khung tiền phạt đó được quy định đối với hành vi đó..”
3. Xác định thẩm quyền xử phạt theo hình thức xử phạt
Mỗi vi phạm hành chính đều được quy định đồng thời với các hình thức
xử phạt tương ứng. Chủ thể có thẩm quyền xử phạt đối với vi phạm hành
chính phải là chủ thể có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt đã được quy
định cho hành vi đó. Hình thức xử phạt là một trong những tiêu chí xác định