162 Tổ chức công tác Kế toán thành phẩm, tiêu thụ, chi phí và xác định kết quả sản Xuất kinh doanh ở Công ty Cổ phần diêm thống nhất  - Pdf 22

Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, dới sự chỉ đạo của Đảng và chính phủ, cơ chế quản lý
kinh tế của nhà nớc đã có nhiều đổi mới và không ngừng hoàn thiện, đánh dấu bớc chuyển
đổi từ cơ chế quản lý vĩ mô của Nhà nớc, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trớc tình hình đó, sự tồn
tại hay tồn vong của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào trình độ quản lý và sức mạnh cạnh
tranh trên thị trờng . Điều nàybuộc mỗi nhà doang nghiệp phải không ngừng vơn lên, vững
mạnh trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Một sự thật tất yếu rằng cầu cần gì thì cung cần cái ấy. Chính vì vậy ! Mỗi doanh
nghiệp phải nắm bắt tốt nhu cầucủa xã hội , chia giai đoạn chia thị phần nhằm chiếm lĩnh và
cung cấp. Một doanh nghiệp sản xuất thờng đặt ra câu hỏi rằng :
Sản xuất cái gì?
Sản xuất nh thế nào?
Sản xuất cho ai?
Câu hỏi này chỉ có những nhà doanh nghiệp thực sự mạnh mới trả lời đợc. Bởi vì chỉ
có những nhà doanh nghiệp mạnh mới đứng vững đợc trên cơ chế thị trờng cạnh tranh khốc
liệt nh hiện nay. Rõ ràng một vấn đề rằng mạnh sống , mống chết.
Sản xuất và tiêu thụ vốn dĩ là 2 mặt của một vấn đề. Tuy nhiên sẽ cực khó đối với
những doang nghiệp muốn giải quyết vấn đề đó bởi một lẽ rằng điều mà mỗi doang nghiệp
quan tâm là lấy thu bù chi và có lợi nhuận, không những đơn thuần là lợi nhuận mà còn phải
tối đa hoá lợi nhuận.
Những ván đề quan trọng là làm thế nào để đạt lợi nhuận cao, hiệu quả cao trong sản
xuất và kinh doanh. Đây là câu hỏi hết sức nhức nhối đối với tất cả những doang nghiệp cả
về lý luận và thực tiễn. Muốn trả lời đợc điều này, đòi hỏi doanh nghiệp phải tinh ý nắm bắt
đợc các cơ hội kinh doanh, thu đợc các tín hiệu dù là nhỏ nhất phát ra từ các thị trờng, xử lý,
tận dụng và thực hiện một cách tốt nhất. Binh pháp có câu Tri bỉ tri kỉ, bách chiến bách
thắng. Điều này có nghĩa có nghĩa là biết ngời biết ta, trăm trận trăm thắng. Câu này trong
kinh doanh cần phải biết ngời biết mình trên mọi phơng diện từ nguồn nhân tài, vậy liệu đến
các khoản chi phí bỏ ra và kết quả đạt đợc.
Chính vì thế quá trình tiêu thụ sản phẩm có vị trí đặc biệt quan trọng đối với các
doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất nói riêng, góp phần quyết định sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp .

nhất định trong phạm vi một doanh nghiệp. Còn nói đến sản phẩm là chỉ nói đến kết quả
của quá trình sản xuất chế tạo ra về một phơng diện nhất định. Sản phẩm bao gồm cả thành
phẩm và nửa thành phẩm. Nửa thành phẩm là những sản phẩm cha qua giai đoạn chế biến
cuối cùng của quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên, có những trờng hợp do
yêu cầu của sản xuất và tiêu thụ, nửa thành phẩm có thể đợc nhập kho đẻ bán hoặc bán ngay
ra thị trờng, khi bán cho khách hàng cũng có ý nghĩa nh là thành phẩm.
Vì lẽ đó, việc phân định chính xác hai khái niệm này có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc thực hiện tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính chính xác kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của từng đơn vị trong doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp sản xuất việc chế tạo ra thành phẩm phải đảm bảo kết hợp hài
hoà cả về số lợng và chất lợng của thành phẩm với xu hớng hai mặt ngày càng tăng lên. Số l-
ợng đó là 1 con số cụ thể cùng với đơn vị đo lờng nhu kg, mét, cái.......v.v . Chất lợng của
thành phẩm phản ánh giá trị sử dụng của thành phẩm xác định theo phẩm cấp của sản phẩm
hay theo tỷ lệ phần trăm tốt hay xấu. Khối lợng thành phẩm sản xuất hoàn thiện trong từng
thời kỳ ở phạm vi doanh nghiệp là một yếu tố đánh giá qui moo của doanh nghiệp hay khả
năng doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội từ đó làm co sở ra các
quyết định cần thiết trong mối quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp, cũng nh tạo cơ sở cho
3
các cấp chức năng có thẩm quyền xác định cân đối cần thiết của từng nghành và từng vùng
hay cảu toàn bộ nền kinh tế.
Trong cơ chế thị trờng hoạt động của doanh nghiệp trong việc sản xuất ra thành
phẩm cung cấp cho xã hội theo sự chỉ đạo quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô của nhà nớc là 1
nhiệm vụ chính trị cô cùng quan trọng của các doanh nghiệp .
Mỗi doanh nghiệp có nhiệm vụ sản xuất khác nhau , thnàh phẩm của doanh nghiệp
cũng có những tác dụng khác nhau để thoả mãn nhu cầu đa dạng của thị trờng. Song nếu
thiếu đi dù chỉ 1 loại trong số sản phẩm đó sẽ làm ảnh hởng đến quá trình tiêu dùng và sản
xuất kinh doanh của những bộ phận nhất định. Chính vì lẽ đó, trong quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần phải đảm bảo tính cân đối đồng bộ trong toàn bộ nền
kinh tế quốc dân.
Qua những điều phân tích ở trên cho phép chúng ta khẳng định vị trí quan trọng của

phẩm.
Tiêu thụ thành phẩm là khâu cuối cùng trong chu trình tái sản xuất, là giai đoạn cuối
cùng của quá trình tuần hoàn vốn ở doanh nghiệp .
Quá trình bán hàng bắt đầu từ khi doanh nghiệp xuất hàng giao hàng, mua hàng .
Tuy nhiên hàng đợc xác định là đã bán (hay đêm đi tiêu thụ ) khi khách hàng đã trả tiền
hoặc chấp nhận trả tiền vì vậy xuất giao hàng đợc chia làm 2 trờng hợp nh sau:
1. Giao hàng cho khách hàng và thu đợc tiền ngay ( kể cả tiền ứng trớc cho khách
hàng )
2. Giao hàng và đợc ngời mua chấp nhận thanh toán .
Do việc áp dụng các phơng pháp bán hàng khác nhau nên hành vi giao hàng và thu
tiền có thể có những khoảng cách nhất định về không gian và thời gian. Bởi vì trong quá
trình bán hàng và thu tiền bán hàng.
Doanh thu bán hàng : Phản ánh toàn bộ số tiền thu đợc từ việc bán sản phẩm hàng
hoá hay là tổng giá trị đợc thực hiện việc bán hàng hoá sản phẩm và cung cấp lao vụ dịch vụ
cho khách hàng.
Tiền thu bán hàng: Là số tiền thực thu của doanh nghiệp về bán hàng hoá thành phẩm
bao gồm cả tiền mặt và tiền gửi ngân hàng.
Nếu xét về mặt lợng, tại một thời điểm thì doanh thu bán hàng và tiền thu bán hàng
là bằng nhau. Sự phân biệt này giúp cho doanh nghiệp xác định chính xác kết quả thu nhập
của quá trình sản xuất kinh doanh trong từng thời kỳ và giúp doanh nghiệp xác định chính
xác số thuế phải nộp cho ngân sách nhà nớc.
5
Chính vì sự phân biệt này, trong khâu bán hàng doanh nghiệp cần phải bám sát các
yêu cầu quản lý cơ bản sau:
Doanh nghiệp cần phải nắm chắc sự vận động của từng loại thanh phẩm trong quá
trình nhập xuất tồn kho trên các chỉ tiêu số lợng chất lợng và giá trị .
Doanh nghiệp cần phải nắm bắt, theo dõi chặt chẽ từng phơng thức bán hàng để tìm
ra phơng thức thanh toán có hiệu quả nhất, đồng thời luôn thúc đẩy, đôn đốc thu hồi nhanh
và đầy đủ tiền vốn .
Doanh nghiệp phải biết tình toán và xác định đúng đắn kết quả từng loại hoạt động

phân tích kinh tế đối với hoạt động bán hàng thu nhập và phân phối kết quả, t vấn cho chủ
doanh nghiệp và giám đốc lựa chọn phơng án kinh doanh có hiệu quả .
Thực hiện tốt các nhiệm vụ trên sẽ có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc quản lý
chặt chẽ thành phẩm, bán hàng trong doanh nghiệp. Song toàn bộ nhiệm vụ nêu trên chỉ thực
sự phát huy tác dụng khi cán bộ kế toán, nắm vững nội dung của việc tổ chức công tác kế
toán.
B. tổ chức công tác kế toán thành phẩm trong DNSX
I. nguyên tắc tổ chức hạch toán thành phẩm .
Thành phẩm của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, chủng loại khác nhau. Do vậy để
quản lý và hạch toán chặt chẽ thành phẩm, công tác kế toán thành phẩm phải đợc tổ chức
theo các nguyên tác sau:
- Phải tổ chức hạch toán thành phẩm theo chủng loại thành phẩm, theo đúng số lợng,
chất lợng thành phẩm .
- Phải kết hợp ghi chép giữa kế toán thành phẩm, thủ kho và phân xởng sản xuất, đảm
bảo cho thành phẩm đợc phản ánh kịp thời chính xác.
Sự biến động của thành phẩm có rất nhiều nguyên nhân vì vậy đẻ phẩn ánh đợc tình
hình biến động của thành phẩm, phải tổ chức công tác kế toán ghi chép ban đầu 1 cách khoa
học và hợp lý.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, thành phẩm khi nhập, xuất kho phải chi theo giá thực
tế . Nếu hàng ngày hạch toán chi tiết nhập xuất kho thành phẩm đợc ghi sổ theo giá
hạch toán thì cuối tháng kế toán phải trong từng thời kỳ. Nếu doanh nghiệp làm tốt các
khâu này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các bộ phận của mình , từ đó tạo ra hệ thống quản lý
chặt chẽ, khoa học trong doanh nghiệp .
Để phát huy vai trò của kế toán đối với công tác quản lý quá trình sản xuất kinh
doanh kế toán thành phẩm và bán hàng cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
7
+ Ghi chép, phản ánh kịp thời, chính xác, đầy đủ tình hình nhập xuất, tồn kho
của thành phẩm.
+ Tính toán giá thành thực tế thực tế của thành phẩm đã tiêu thụ nhằm xác định
đúng đắn kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .

1.2.1. Phơng pháp tính theo đơn giá bình quân gia quyền
Theo phơng pháp này , trớc tiên đơn giá bình quân gia quyền <giá thành sản xuất thực
tế đơn vị bình quân> của từng thứ , từng loại thành phẩm.

ì
1.2.2 Phơng pháp tính giá thực tế đích danh:
Theo phơng pháp này, vật liệu đợc xác định giá trị theo đơn chiếc hay từng lô và giữ
nguyên từ lúc nhập và cho đến lúc xuất dùng ( trừ nhãng trờng hợp điều chỉnh ). Khi nhập
nguyên vật liệu vào sẽ tính theo giá trị thực tế của vật liệu đó. Do vậy, phơng pháp này con
có tên gọi là phơng pháp đặc điểm riênghay phơng pháp thực tế đích danh và thờng sử dụng
với cácmvật liệu có giá trị cao và có tính tách biệt.
1.2.3 Phơng pháp tính theo đơn giá bình quân tồn đầu kỳ
Theo phơng pháp này, giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm xuất kho đợc tính trên
cơ sở số lợng thành phẩm xuất kho và đơn giá bình quân của thành phẩm tồn đầu kỳ.
ì
9
Đơn giá thực tế bình
quân gia quyền
=
Giá thành phẩm sản xuất Giá thành sản xuất thực tế
thực tế thành phẩm tồn đầu kỳ
+
thành phẩm nhập trong kỳ

Số lợng thành phẩm tồn + Số lợng thành phẩm
Đầu kỳ Nhập trong kỳ
Giá thành sản xuất thực

xuất trớc là tính đến thời điểm xuất kho thành phẩm chứ không hẳn đến cuối kỳ hạch toán
mới xác định . Phơng pháp này trong trờng hợp lạm phát.
Tuy nhiên hai phơng pháp tính giá thực tế FIFO & LIFO chỉ thích hợp với doanh nghiệp
kinh doanh tổng hợp vừa coa hoạt động sản xuất mua vào bán ra với việc quản lý hàng hoá
trong kinh doanh thơng mại .
2. Đánh giá thành phẩm theo giá hạch toán:
Do sự biến động thờng xuyên và do cả việc xác định thực tế của thành phẩm sản xuất
ra chỉ theo định kỳ . Vì vậy để ghi chép kịp thời trị giá thành phẩm nhập xuất,doanh nghiệp
cần sử dụng một loại giá ổn định trong một thời gian dài gọi là giá hạch toán.
Giá hạch toán là giá trị doanh nghiệp qui định có tính ổn định và chỉ đợc dùng để
ghi sổ kế toán thành phẩm hằng ngày, không có một ý nghĩa trong việc thanh toán . Giá có
thể chọn hoặc làm cơ sở xây dựng giá hạch toán là giá thành kế hoạch hoặc giá thành thực tế
tại một thời kỳ nào đó. Nhng giá hạch toán phải đợc quy định cụ thể cho từng loại thành
phẩm và phải đợc quy định thống nhất trong từng thời kỳ hạch toán.
Theo cách này, hằng ngày kế toán ghi sổ kế toán về nhập - xuất -tồn kho thành phẩm
theo giá hạch toán . Đến cuối kỳ hạch toán , kế toán tổng hợp giá thực tế thành phẩm xuất
kho trong kỳ theo công thức sau:
10
Trị giá thực tế thành
phẩm xuất kho trong kỳ
=
Trị giá hạch toán thành
phẩm xuất trong kỳ
X Hệ số giá
Trong đó Trên đây là các phơng pháp tính giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm xuất kho.
Mỗi phơng pháp nêu trên đều có nội dung, u điểm, nhợc điểm và điều kiện áp dụng nhất
định . Mỗi doanh nghiệp cần phải căn cứ vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh , khả

+
Thẻ kho : Dùng để theo dõi số lơng nhập xuất tồn kho từng thứ thành phẩm cho
từng kho <Mẫu VT-06>
Ngoài ra có biên bản kiểm nghiệm thành phẩm trớc khi nhập kho và phiếu di
chuyển thành phẩm trong nội bộ .
Chứng từ kế toán phải đợc lập và ghi chép rõ ràng, trung thực và phải khách
quan . Các chứng từ gốc của phần khách hàng này đều đợc tập trung vào bộ phận kế
toán của doanh nghiệp đẻ kiểm tra;
+ Tính rõ ràng, trung trự, đầy đủ các chỉ tiêu phản ánh trên chứng từ .
+ Tính hợp pháp hợp lệ của nghiệp vụ phát sinh.
+ Tính chính xác số hiệu, thông tin trên chứng từ.
+ Việc chấp hành quy chế quản lý, nội bộ đối với từng loại nghiệp vụ .
Trên cơ sở các chứng từ kế toán nhập - xuất kho thành phẩm đã đợc kiểm tra,
đảm bảo tính hợp lý hợp pháp thì kế toán tiến hành phân loại theo từng chứng từ
nhập xuất, từng loại thành phẩm và đối tợng mua hàng để từ đó tổng hợp các số
liệu và ghi vào sổ kế toán chi tiết và sổ kế toán tổng hợp thành phẩm thích hợp.
2. Kế toán chi tiết thành phẩm
Kế toán chi tiết thành phẩm là việc theo dõi chi tiết từng loại, từng nhóm thậm chí
đến từng thành phẩm theo từng kho thành phẩm và theo từng ngời phụ trách <thủ kho
chịu trách nhiệm bảo quản thành phẩm >
Tuỳ thuộc vào từng điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp mà có thể lựa chọn
vân dụng 1 trong 3 phơng pháp kế toán chi tiết thành phẩm sau:
Phơng pháp ghi sổ song song.
Phơng pháp sổ số d.
Phơng pháp luân chuyển.
Tuy nhiên doanh nghiệp áp dụng theo phơng pháp nào thì công việc kế toán chi
tiết thành phẩm cũng đợc tiến hành đồng thời ở cả hai nơi đó là ở kho và ở phòng kế
toán.
Tại kho : Việc thanh toán chi tiết thành phẩm đều đợc thực hiện trọn vẹn trên
thẻ kho. Thủ kho căn cứ vào các chứng từ nhập xuất kho đẻ ghi vào thẻ kho theo số l-

ký thẻ kho, khi giao thẻ kho cho thủ kho, kế toán phải ghi vào sổ .

13
Sơ đồ hạch toán chi tiết thành phẩm theo phơng
pháp thẻ song song

Ghi chú: Ghi hàng ngày
Quan hệ đối chiếu
Ghi cuối tháng
2.2 Phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển
a. Tại kho : giống hình thức song song
b. Tại phong kế toán : Không mở thẻ kế toán chi tiết thành phẩm mà mở sổ đối chiếu luân
chuyển để hạch toán số lợng và số tiền của từng thứ thành phẩm theo tổng kho ,số này ghi
mỗi tháng 1 lần vào cuối tháng trên cơ sở tổng hợp các chứng từ nhập, xuất và phát sinh
trong tháng của từng thứ thành phẩm, mỗi thứ chỉ ghi 1 dòng trong sổ .Cuối tháng đối chiếu số l-
ợng thành phẩm trên sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho, đối chiếu với kế toán tổng hợp .
Sơ đồ hạch toán thành phẩm theo phơng pháp luân chuyển

Ghi chú: Ghi hàng ngày
Quan hệ đối chiếu
Ghi cuối tháng
2.3 Phơng pháp sổ số d
14
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Thẻ hoặc
sổ
Chi tiết
thành

Ghi chú: Ghi hàng ngày
Quan hệ đối chiếu
Ghi cuối tháng
15
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Sổ số d
Kế toán tổng
hợp
Phiếu giao nhận
chứng từ nhập
Bảng luỹ kế nhập
,xuất tồn kho thành
Phiếu giao nhận
chứng từ xuất
Thực chất các phơng pháp kế toán chi tiết thành phẩm là sự phối hợp ,ghi chép theo
dõi tình hình nhập, xuất kho thành phẩm hàng ngày hoặc định kỳ giữa thủ kho và kế toán
nhằm mục đích theo dõi chặt chẽ tình hình nhập, xuất tồn kho từng thứ từng loại thành phẩm
về cả giá trị và số lợng để cung cấp những thông tin cần thiết một cách kịp thời cho chủ
doanh nghiệp và giám đốc, thực hiện chỉ đạo điều hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả
hơn. Do vậy mỗi doanh nghiệp cần phải căn cứ vào tình hình thực tế của doanh nghiệp mình
mà nghiên cú vận dụng cho phù hợp .
3. Kế toán tổng hợp thành phẩm và tiêu thụ
3.1 Tài khoản sử dụng
a.Tài khoản 155 Thành phẩm
Tài khoản này đợc dùng để phản ánh toàn bộ giá trị thành phẩm ,nử thành phẩm nhập
,xuất ,tồn kho theo giá thành thực tế ( giá thành công xởng thực tế ) .Thành phẩm ghi ở tài
khoản này là những sản phẩm, đã kết thúc quá trình chế biến do các bộ phận sản xuất chính
và sản xuất phụ của doanh nghiệp sản xuất hoặc thuê ngoài gia công đã xong đợc kiển

Nợ TK155 Có
- Giá thành thực tế của thành phẩm - Giá trị thực tế của thành phẩm xuất
nhập kho . kho .

D nợ : Giá thành thực tế thành phẩm tồn kho .
Sơ đồ hạch toán hàng tồn kho theo pp kê khai
thờng xuyên
TK 154 Tk 155 Tk 632 TK 911
(2)
*** (1) *** (5)
TK157
(3a) (3b)
TK 338
TK138
(4a)
(4b)
(1) : Giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm tự sản xuất ,thuê ngoài gia công nhập kho .
17
(2) : Giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm xuất bán
(3a) : Giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm xuất gửi đi bán ,nhờ bán đại lý ký gửi .
(3b) : Giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm gửi đi đã xác định kết quả tiêu thụ
(4a) : Trị giá thực tế của thành phẩm phát hiện thừa khi kiểm kê
(4b) : Trị giá thực tế của thành phẩm phát hiện thiếu khi kiểm kê
(5) : Cuối kỳ kết chuyển giá trị vốn thực tế của hàng đã tiêu thụ ( xuất bán trong kỳ )
3.2.2 Phơng pháp kiểm kê định kỳ : Là phơng pháp hạch toán mà mỗi nghiệp vụ nhập xuất
kho thành phẩm không đợc ghi ngay vào tài khoản mà cuối kỳ hạch toán mới tiến hành kiển
kê số thành phẩm tồn kho để tính ra số đã xuất trong kỳ và ghi sổ 1 lần .Tình hình biến động
của thành phẩm đợc phản ánh trên Tk632 Giá vốn hàng bán dùng để theo dõi giá vốn
thành phẩm ,lao vụ ,dịch vụ xuất bán trong kỳ .Giá vốn hang bán có thể là giá thành công x-
ởng thực tế hay giá thành thực tế của lao vụ, dịch vụ .

kế toán tiêu thụ thành phẩm.
1. các ph ơng thức thanh toán
Trong quá trình tiêu thụ sản phẩm giữa doanh nghiệp với ngời mua sẽ phát sinh quan
hệ thanh toán và các quan hệ này thờng thể hiện qua các phơng thức thanh toán sau đây :
. Thanh toán bằng tiền mặt hoặc xéc
. Thanh toán chậm
. Thanh toán theo hình thức hàng đổi hàng
2. Ph ơng thức tiêu thụ
Tiêu thụ thành phẩm là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp sản xuất .Thực hiện nghiệp vụ này vốn của doanh nghiệp sản xuất chuyển
từ hình thái hiện vật là thành phẩm sang hình thái tiền tệ .Doanh nghiệp sản xuất có thể tiêu
thụ thành phẩm theo những hình thức sau :
Phơng thức tiêu thụ trực tiếp : Theo hình thức này ,bên mua cử đại diện đến doanh
nghiệp sản xuất để nhận hàng, doanh nghiệp sản xuất giao trực tiếp cho đại diện bên
mua. Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, đã thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ,
thành phẩm đã xác định là tiêu thụ .
Phơng thức chuyển hàng theo hợp đồng : Theo hình thức này, căn cứ vào hợp đồng đã
ký kết doanh nghiệp sản xuất bằng phơng tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài
chuyển hàng đến giao cho bên mua ở 1 địa điểm đã thoả thuận. Thành phẩm chuyển
bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp sản xuất .Số thành phẩm này đợc xác
định là tiêu thụ khi nhận đợc tiền do bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua
đã nhận đợc hàng và chấp nhận thanh toán. Chi phí vận chuyển do doanh nghiệp sản
xuất chịu hay bên mua chịu là do sự thoả thuận trớc giữa hai bên. Nừu doanh nghiệp
sản xuất chịu chi phí vân chuyển sẽ đợc ghi vào chi phí bán hàng. Nếu bên mua chịu
chi phí vận chuyển sẽ phải thu tiền của bên mua .
Phơng thức tiêu thụ qua đại lý hoặc ký gửi : Theo hình thức này doanh nghiệp xuất
giao hàng cho cơ sở đại lý .Bên nhận đại lý sẽ trực tiếp bán hàng và phải thanh toán
tiền cho doanh nghiệp sản xuất đợc hơngr hoa hồng đại lý bán. Số thành phẩm gửi đại
20
lý vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp sản xuất. Số thành phẩm này đợc xác

vụ cho khách hàng .
Trong quá trình hạch toán doanh thu có hai câu hỏi luôn đợc đặt ra đối với doanh
nghiệp đó là :
+ Khi nào kết thúc tiêu thụ ?
+ Thời điểm xác định tiêu thụ hạch toán doanh thu .Việc tiêu thụ đợc coi là kết thúc
khi cả hai hành vi doanh nghiệp xuất giao sản phẩm cho khách hàng theo hợp đồng đã ký
kết và đợc khách hàng trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán đã hoàn thành .
Vậy doanh thu bán hàng có thể đợc ghi nhận trớc, trong hoặc sau khi mà doanh
nghiệp thu đợc tiền .
Trong quá trình tiêu thụ doanh nghiệp còn phải nộp thuế tiêu thụ cho nhà nớc .Thuế
tiêu thụ có thể là thuế doanh thu hoặc thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu .Thuế tiêu thụ
đặc biệt đợc tính trên doanh thu và đợc trừ vào tổng doanh thu bán hàng đã thực hiện .
Bên cạnh đó trong qúa trình tiêu thụ thành phẩm cũng có thể phát sinh các khoản làm
giảm doanh thu nh chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại trong
đó .
+ Chiết khấu bán hàng : là số tiền doanh nghiệp bán thoả thuận dành cho khách hàng
theo qui định của hợp đồng trong trờng hợp mua với số lợng nhiều hoặc thanh toán sớm
. Chiết khấu bán hàng : là tỉ lệ % tính theo tổng doanh thu và dùng cho khách hàng
mua với số lợng lớn .
. Chiết khấu thanh toán : là tỉ lệ % tính theo doanh thu hoặc là số tiền mà phải thu
của khách hàng trong trờng hợp khách hàng thanh toán trớc thời hạn .
+ Giảm giá hàng bán : là số tiền doanh nghiệp phải trả cho khách hàng trong trờng
hợp hoá đơn bán hàng theo giá bán bình thoừng, hàng đã xác định là tiêu thụ nhng số
hàng hoá đó do kém chất lợng ( không đúng qui cách, qui cách theo hợp đồnh và khách
hàng yêu cầu giảm giá và doanh nghiệp chấp nhận ( sử dụng tài khoản 532)
+ Doanh thu hàng bán bị trả lại : là số tiền doanh nghiệp phải trả cho khách hàng trong
trờng hợp hàng hoá đã đợc xác định là tieeu thụ nhng chất lợng hàng hoá không đảm bảo
theo đúng hợp đồng về chủng loại, qui cách và khách hàng từ chối trả lại và đợc doanh
nghiệp chấp nhận 9 sử dụng tài khoản 531)
22

23
Nợ TK511 Có
- Số thuế phải nộp tính trên doanh thu - Tổng số doanh thu bán hàng thực tế
thu bán hàng trong kỳ . phát sinh trong kỳ .
- Số giảm giá hàng bán và doanh thu của
hàng bán bị trả lại kết chuyển vào doanh
thu.
- Kết chuyển số doanh thu thuần về tiêu
thụ .
Tài khoản không có số d và có 4 tiểu khoản cấp hai :
- Tài khoản 511.1 : Doanh thu bán hàng hoá là doanh thu đã nhận đợc hoặc đợc
ngời mua chấp thụn cam kết sẽ trả về khối lợng hàng hoá ddã giao .Tài khoản 511.1 đợc
sử dụng chủ yếu cho các doanh nghiệp kinh doanh vật t hàng hoá .
- Tài khoản 511.2 : Doanh thu bán các thành phẩm :Tài khoản này đợc sử dụng
chủ yếu cho các doanh nghiệp sản xuất vật chấta nh công nghiệp, nông nghiệp, xây lắp,
lâm nghiệp ,ng nghiệp ... vv. Nội dung của tài khoản này phản ánh tổng doanh thu của
khối lợng sản phẩm đã đợc coi là tiêu thụ của doanh nghiệp sản xuất trong 1 kỳ hạch
toán .
- Tài khoản 511.3 : Doanh thu cung cấp dịch vụ : Đợc sử dụng chủ yếu cho các
nghành kinh doanh dịch vụ ( giao thông, vân tải, bu điện, du lịch, dịch vụ, khoa học kỹ
thuật ...) để theo dõi toàn bộ số doanh thu thực hiện trong kỳ .
- Tài khoản 511.4 : Doanh thu trợ cấp, trợ giá : Phản ánh các khoản thu từ trợ cấp
trợ giá của nhà nớc cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ cung cấp hàng
hoá, dịch vụ theo yêu cầu của nhà nớc.
* Tài khoản 512 Doanh thu bán hàng nội bộ : Tài khoản này dùng để phản ánh
doanh thu của số hàng hoá, lao vụ, sản phẩm tiêu thụ nội bộ giữa các đơn vị trực
thuộc trong cùng 1 công ty tổng công ty, tập đoàn, liên hiệp xí nghiệp .. hạch toán
toàn nghành. Ngoài ra tài khoản này còn sử dụng để theo dõi các khoản, 1 số nội
dung đợc coi là tiêu thụ nội bộ khác nh sử dụng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ vào hoạt
động sản xuất kinh doanh hay trả lơng, thởng cho công nhân viên chức ...


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status