Bài tập nhóm tháng 1 – Môn Luật ASXH
- Lớp N03 – Nhóm 11
LỜI MỞ ĐẦU
Trong hệ thống BHXH, chế độ hưu trí đóng một vai trò rất quan trọng. Nhờ có CĐHT mà
NLĐ sau khi hết tuổi lao động hoặc sau một số năm công tác nhất định sẽ được nghỉ hưu và
được nhận một khoản trợ cấp để ổn định cuộc sống. Chế độ này chiếm vị trí quan trọng nhất cả
về qui mô thực hiện, nội dung chuyên môn và nhu cầu tham gia của NLĐ trong xã hội. Ở Việt
Nam, CĐHT cùng với các chế độ BHXH khác đã góp phần rất to lớn vào việc ổn định đời sống
của NLĐ và gia đình họ. Do vậy, yêu cầu hiểu và nắm rõ các qui định pháp luật về CĐHT nói
riêng và các chế độ BHXH nói chung là quan trọng và cần thiết. Sau đây là nội dung bài luận
của nhóm chúng em với chủ đề: ‘Phân tích và bình luận quy định của pháp luật hiện hành về
chế độ bảo hiểm hưu trí (bắt buộc và tự nguyện)’.
1
Bài tập nhóm tháng 1 – Môn Luật ASXH
- Lớp N03 – Nhóm 11
PHẦN NỘI DUNG
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM HƯU TRÍ
1. Khái niệm chế độ bảo hiểm hưu trí
Hưu trí là chế độ cơ bản nhất trong 5 chế độ của hệ thống BHXH. Theo nghĩa chung nhất thì
CĐHT được hiểu là “chế độ BHXH đảm bảo thu nhập cho người hết tuổi lao động hoặc không
còn tham gia QHLĐ nữa”.
Còn dưới góc độ pháp lý, chế độ BHHT là tổng hợp các QPPL quy định về các điều kiện và
mức trợ cấp cho những người tham gia BHXH, khi đã hết tuổi lao động hoặc không còn tham
gia QHLĐ nữa.
Bài tập nhóm tháng 1 – Môn Luật ASXH
- Lớp N03 – Nhóm 11
- Cán bộ, công chức, viên chức;
- Công nhân quốc phòng, công nhân công an;
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp QĐND; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan
chuyên môn kỹ thuật CAND; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với QĐND,
CAND;
- Hạ sĩ quan, binh sĩ QĐND và hạ sĩ quan, chiến sĩ CAND phục vụ có thời hạn;
- Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH bắt buộc và chưa thanh
toán.
1.2. Điều kiện hưởng
- Thứ nhất - độ tuổi:
Độ tuổi hưởng CĐHT chung đối với nam là 60 tuổi, nữ là 55 tuổi, có quy định về số tuổi như
vậy căn cứ theo LLĐ quy định về số tuổi nghỉ hưu. Độ tuổi lựa chọn này cũng dựa trên cơ sở
sinh học, có thể nói đây là số tuổi mà NLĐ có những dấu hiệu tuổi già, đã giảm phần nào
KNLĐ,… Số tuổi lao động nữ thấp hơn nam 5 tuổi là do lao động nữ thường bị lão hóa nhanh
hơn, sức khỏe cũng yếu hơn so với lao động nam.
- Thứ hai - mức suy giảm KNLĐ:
Theo quy định, mức suy giảm KNLĐ ở đây là từ 61% trở lên, áp dụng cho một số trường hợp
được hưởng CĐHT sớm do KNLĐ bị giảm sút ‘đáng kể’ và không nên khai thác SLĐ của những
NLĐ này nữa.
- Thứ ba -, điều kiện lao động:
ĐKLĐ là một trong những cơ sở được đưa ra, bởi lẽ đảm bảo công bằng cho NLĐ do ngành
nghề phải làm việc ở những điều kiện khác nhau. Theo luật quy định một số trường hợp được
hưởng chế độ hưu trí sớm là những NLĐ làm những việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hay làm
việc ở những nơi có phụ cấp khu vực là 0,7 trở lên.
- Thứ tư - thời gian đóng bảo hiểm:
Thời gian đóng bảo hiểm theo quy định chung là từ 20 năm trở lên, bởi lẽ, NLĐ đóng bảo
- Thứ sáu, nam từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi, nữ từ đủ 45 tuổi đến đủ 50 tuổi và có đủ 15 năm
làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có
phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên đối với các đối tượng trong lực lượng vũ trang thuộc điểm d
khoản 1 Điều 2 Luật BHXH (điểm b khoản 2 Điều 50 Luật BHXH và khoản 2 Điều 29 Nghị
định 68/2007/NĐ-CP).
Cách tính lương hưu:
Đối với 6 trường hợp trên, cách tính lương hưu như sau:
- 15 năm đóng bảo hiểm được tính bằng 45% BQTL;
- Cứ thêm 1 năm đóng bảo hiểm cộng thêm:
+ Đối với nam = 2% BQTL
+ Đối với nữ = 3% BQTL
- Lương hưu tối đa bằng: 75% BQTL; nhưng không thấp hơn tiền lương tối thiểu. (Khoản 1 Điều
52 Luật BHXH và điểm a Khoản 3 Mục IV Thông tư 03/2007/TT-BLĐTBXH).
Thứ hai, chế độ hưởng bảo hiểm hưu trí hàng tháng với mức thấp hơn:
Các trường hợp hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí hàng tháng với mức thấp hơn:
Trong cuộc sống, vì nhiều lý do khác nhau như ốm đau, bệnh tật,…khiến NLĐ bị suy giảm
KNLĐ tới mức họ khó có thể tham gia được QHLĐ nữa, cần phải nghỉ việc trước tuổi. Trong
những trường hợp đó, vì chưa đủ tuổi về hưu theo quy định và NLĐ vẫn được hưởng CĐHT
hàng tháng ‘nhưng với mức thấp hơn’. Đó là 2 trường hợp sau:
- Trường hợp 1: Nam đủ 50 tuổi; nữ đủ 45 tuổi có thời gian đóng BHXH từ 20 năm trở lên và
bị suy giảm KNLĐ từ 61% trở lên. (theo Khoản 1 Điều 27 Nghị định 152).
- Trường hợp 2: NLĐ đã đóng BHXH đủ 20 năm trở lên, bị suy giảm KNLĐ từ 61% trở lên
và có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, nơi có
phụ cấp khu vực từ 0,7 trở lên, không kể tuổi đời (theo khoản 2 Điều 27 Nghị định 152).
Cách tính lương hưu:
4
Bài tập nhóm tháng 1 – Môn Luật ASXH
- Quyền hưởng chế độ tử tuất: Khi NLĐ đang hưởng CĐHT mà chết thì thân nhân của họ
(theo quy định Luật BHXH) được hưởng chế độ tử tuất.
1.5. Mức đóng bảo hiểm hưu trí bắt buộc
Theo quy định của Luật BHXH 2006, NLĐ và NSDLĐ đều có trách nhiệm đóng BHXH bắt
buộc vào quỹ hưu trí. Tuy nhiên, mức đóng của hai đối tượng này là khác nhau và NSDLĐ phải
đảm nhận mức đóng góp cao hơn NLĐ. Quy định như vậy là hợp lý vì NLĐ là đối tượng cần
được đảm bảo quyền lợi. Mức đóng góp BHXH bắt buộc cho quỹ hưu trí cụ thể như sau:
Đối với người lao động:
+ Từ tháng 01 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013 mức đóng bằng 7% mức tiền lương, tiền
công tháng đóng BHXH;
5
Bài tập nhóm tháng 1 – Môn Luật ASXH
- Lớp N03 – Nhóm 11
+ Từ tháng 01 năm 2014 trở đi: mức đóng bằng 8% mức tiền lương, tiền công tháng đóng
BHXH.
- NLĐ đã tham gia BHXH bắt buộc mà chưa nhận BHXH một lần trước khi đi làm việc có
thời hạn ở nước ngoài thì mức đóng được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 42 Nghị định 152
như sau:
+ Từ tháng 01 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013 mức đóng bằng 20% mức tiền lương, tiền
công tháng đóng BHXH của NLĐ trước khi đi làm việc ở nước ngoài;
+ Từ tháng 01 năm 2014 trở đi mức đóng bằng 22% mức tiền lương, tiền công tháng đóng
BHXH của NLĐ trước khi đi làm việc ở nước ngoài.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 43 Nghị định 152, NLĐ không phải trực tiếp đóng BHHT mà
NSDLĐ sẽ trích từ phần lương của NLĐ và gộp vào phần mà NSDLĐ phải đóng để đóng cùng
một lần.
Cách tính thời gian đóng BHXH có tháng lẻ thì: (i) dưới 3 tháng không tính; (ii) đủ 3 tháng
đến đủ 6 tháng thì tính bằng 6 tháng; (iii) từ 6 tháng đến 12 tháng thì tính bằng 1 năm.
2. Chế độ bảo hiểm hưu trí tự nguyện
2.1. Đối tượng áp dụng
Căn cứ vào Điều 69 Luật BHXH năm 2006 và Điều 2 Nghị định 190/2007/NĐ-CP và Thông
tư 02/2008/ TT – BLĐTBXH thì đối tượng được áp dụng CĐBHHT tự nguyện là công dân Việt
Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc diện áp dụng BHXH bắt buộc và có thu nhập ổn định –
mức sàn là mức lương tối thiểu chung và mức trần là 20 tháng lương tối thiểu chung gồm: (1)
NLĐ làm việc theo HĐLĐ có thời hạn dưới 3 tháng; (2) Cán bộ không chuyên trách cấp xã; (3)
Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, kể cả xã viên không hưởng tiền lương, tiền
công trong các hợp tác xã, liên hợp hợp tác xã; (4) NLĐ tự tạo việc làm; (5) NLĐ làm việc có thời
hạn ở nước ngoài mà trước đó chưa tham gia BHXH bắt buộc hoặc đã nhận BHXH một lần; (6)
Người tham gia khác như người làm nghề giúp việc gia đình...
2.2. Điều kiện hưởng
Cũng giống như chế độ BHHT bắt buộc, CĐBHHT tự nguyện cũng có 4 tiêu chí cơ bản để
xác định điều kiện hưởng cho người tham gia BHXH tự nguyện. Tuy nhiên, vai trò của các tiêu
chí là khác nhau. Nếu như tiêu chí mức suy giảm KNLĐ và tiêu chí ĐKLĐ trong CĐBHHT bắt
buộc là bình đẳng với hai tiêu chí là tuổi và thời gian đóng BHXH thì trong CĐBHHT tự
nguyện, hai tiêu chí cơ bản là tuổi và thời gian đóng BHXH, còn tiêu chí mức suy giảm KNLĐ
và tiêu chí ĐKLĐ chỉ có ý nghĩa trong việc áp dụng đối với người tham gia BHXH tự nguyện
nhưng ‘trước đó đã có tổng thời gian đóng BHXH bắt buộc đủ 20 năm trở lên’ mà thôi.
2.3. Chế độ hưởng bảo hiểm hưu trí tự nguyện
Thứ nhất, Chế độ hưởng hưu trí hang tháng:
Các trường hợp hưởng hưu trí hang tháng trong chế độ BHHT tự nguyện:
- Trường hợp 1: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên.
- Trường hợp 2: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi có thời gian đóng BHXH từ đủ 15 năm trở
lên, kể cả những người đã có từ đủ 15 năm đóng BHXH bắt buộc trở lên mà chưa nhận BHXH
một lần có nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện thì được đóng tiếp cho đến khi đủ 20 năm.
7
theo lộ trình họ khó có thể tham gia tiếp.
Mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH tự nguyện được tính theo công thức sau:
Tổng các mức thu nhập tháng đóng
Mức bình quân thu nhập tháng
BHXH tự nguyện
Tổng số tháng đóng BHXH tự
đóng BHXH tự nguyện
=
nguyện
Người tham gia đóng BHXH tự nguyện có thể bảo lưu thời gian đóng nếu đã dừng đóng
BHXH tự nguyện nhưng chưa đủ điều kiện để hưởng lương hưu hoặc chưa hưởng BHXH một
lần. Trong thời gian bảo lưu, nếu tiếp tục làm việc hoặc đóng BHXH tự nguyện, thời gian bảo
lưu được cộng vào thời gian tiếp tục đóng để hưởng chế độ hưu trí sau này.
8
Bài tập nhóm tháng 1 – Môn Luật ASXH
- Lớp N03 – Nhóm 11
III. BÌNH LUẬN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHẾ ĐỘ BẢO
HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Bình luận đưới góc độ pháp lý về chế độ hưu trí của Việt Nam
Ưu điểm:
Dưới góc độ pháp lý, những quy định của pháp luật hiện hành về CĐBHHT của Việt Nam có
những ưu điểm nhất định về điều kiện hưởng BHHT cũng như các khoản phúc lợi được hưởng
của người tham gia đóng BHXH.Cụ thể:
- Trường hợp lương hưu thấp hơn mức lương tối thiểu chung thì được quỹ BHXH bù bằng
mức lương tối thiểu chung.
Thứ sáu là đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH, trong đó có quỹ lương hưu, tử tuất, tuy bảo đảm
chặt chẽ, an toàn nhưng hiệu quả đầu tư chưa cao…
Thứ bảy là việc quy định cán bộ không chuyên trách cấp xã là đối tượng của BHHT tự
nguyện là không hợp lý.
Thứ tám là quy định cách tính BQTL của NLĐ hưởng lương từ NSNN tham gia BHXH sau
khi Luật BHXH có hiệu lực là bình quân lương của 10 năm cuối là không đảm bảo công bằng
khi so tương quan với NLĐ hưởng lương theo HĐLĐ vì tính thang bậc tăng đần của lương NLĐ
hưởng từ ngân sách
Thứ chin là Về việc Quỹ BHXH, trước đây, chính sách đưa ra quyền lợi thường cao hơn
nghĩa vụ. Ví dụ, một người tham gia BHXH 20 năm, khi đến tuổi nghỉ hưu thì số tiền người đó
đóng, cộng dồn lại cùng với lãi suất thì chỉ trả lương hưu được khoảng 7 - 8 năm là hết tiền.
Trong khi đó, tuổi thọ của người dân hiện nay nâng cao hơn, vì vậy nguy cơ về quỹ hưu trí chính
là ở chỗ đó. Do vậy, cần đề ra chính sách hợp lý điều hoà giữa quyền lợi và nghĩa vụ của người
tham gia BHXH…
2. Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện chế độ hưu trí của nước ta hiện nay
2.1. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện về mặt chủ trương, chính sách
Trước tiên, chủ trương, chính sách đề ra về việc thực hiện CĐBHHT cần xác định vị trí
trung tâm hướng tới là chính người dân:
Trong Nghị quyết của Đại hội Đảng các nhiệm kỳ, nhất là Đại hội Đảng XI vừa qua đã nêu
rất rõ phát triển kinh tế, đi đôi với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, bảo đảm an sinh xã hội của
đất nước. Nghị quyết đã khẳng định BHXH và BHYT là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ
cột chính của hệ thống ASXH, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định
chính trị - xã hội và phát triển kinh tế - xã hội.
Hiện nay, đối tượng tham gia BHXH mới khoảng 20% số NLĐ. Trong khi đó, mục tiêu phấn
đấu của chúng ta đến năm 2020 sẽ đạt 50% lực lượng lao động tham gia BHXH .Đây cũng chính
là chủ trương, chính sách nền tảng để chúng ta tiếp tục phấn đấu những năm sau thực hiện
BHXH hướng đến toàn dân - một trong những mục tiêu quan trọng như đã đề cập ở trên về việc
hướng tới vị trí trung tâm là nhân dân.(số liệu thống kê trang điện tử BHXH Việt Nam).
Thứ hai, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân
đối với nam theo hướng cứ sau 2 năm thì tăng một năm. Mốc thực hiện bắt đầu từ năm 2015.
Thứ hai, Điều chỉnh quy định về tiền lương, tiền công đóng BHXH bắt buộc đối với người
lao động làm việc ở khu vực ngoài Nhà nước:
Trong thực tế, việc đóng BHXH cho NLĐ trong các đơn vị sử dụng lao động thường thấp hơn
tiền lương, tiền công mà NLĐ thực tế nhận được do việc khai báo của họ thường thấp hơn. Hệ
lụy của việc thực hiện này sẽ dẫn tới lương hưu của NLĐ sẽ thấp hơn nhiều so với mức lương họ
nhận trước khi nghỉ hưu. Vì vậy, quy định này cần được sủa đổi theo hướng: Đối với NLĐ đóng
BHXH theo chế độ tiền lương, tiền công do NSDLĐ quy định thì tiền lương, tiền công tháng
đóng BHXH là mức tiền lương, tiền công ghi trong HĐLĐ bao gồm mức lương theo công việc
hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.
Ngoài ra, đối với cán bộ, công chức, thời gian tham chiếu để tính mức lương trung bình
làm căn cứ tính lương hưu nên kéo dài bằng toàn bộ thời gian làm việc chứ không phải mười
11
Bài tập nhóm tháng 1 – Môn Luật ASXH
- Lớp N03 – Nhóm 11
năm cuối như hiện tại. Ở khu vực tư nhân, tham chiếu cũng cần tính theo mức tăng lương
trung bình chứ không phải là điều chỉnh theo mức lạm phát như hiện nay.
LỜI KẾT
Vai trò, tác dụng của bảo hiểm nói chung và bảo hiểm hưu trí nói riêng đã trở thành vấn đề
không còn gì phải bàn cãi. Nhưng làm sao bảo hiểm xã hội hưu trí phát huy tối đa tầm quan
trọng của nó là vấn đề mà Đảng và Nhà nước cũng như nhiều người khác có cùng mối quan tâm
đang nghiên cứu nhằm đưa ra những đóng góp quý báu cho ngành BHXH nói chung và chế độ
hưu trí nói riêng