QUY ĐỊNH của PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH về BTTH DO NHÀ cửa, CÔNG TRÌNH xây DỰNG gây RA - Pdf 48

1

Khóa luận tốt nghiệp

LỜI CẢM ƠN

Bài khóa luận này được hoàn thành dưới sự giúp đơ
nhiệt tình của Ts. Trần Thị Huệ – giảng viên bộ môn Luật dân
sự, khoa Luật dân sự, trường đại học luật Hà Nội, các thầy cô
giáo trong trường và các bạn sinh viên. Qua đây, tôi xin được
gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất, lời chúc sức khỏe và hạnh phúc tới
Ts. Trần Thị Huệ, các thầy cô và các bạn sinh viên.

Xin cảm ơn


2

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

BLDS

Bộ luật dân sự

BTNN

Bồi thường nhà nước

BTTH

Bồi thường thiệt hại



3

Khóa luận tốt nghiệp

MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương I: KHÁI NIỆM VỀ TRÁCH NHIỆM BTTH NGOÀI HỢP ĐỒNG VÀ
TRÁCH NHIỆM BTTH DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC
GÂY

RA.

1.1. Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
1.2. Trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra.
1.2.1, Khái niệm
1.2.2, Đặc điểm
1.2.3, Giá trị quy định của pháp luật
1.3. Khái quát các quy định của pháp luật về BTTH do nhà cửa,
công trình xây dựng khác gây ra.
1.4. So sánh trách nhiệm BTTH do hành vi gây thiệt hại trái pháp
luật trong xây dựng nhà cửa, công trình xây dựng gây ra và trách nhiệm
BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra.


4


2.5. Xác định thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây
ra.
Chương III: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT, THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT,
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN.

3.1. Thực trạng quy định của pháp luật
3.2. Thực tiễn giải quyết việc BTTH do nhà cửa, công trình xây
dựng khác gây ra.
3.2.1, Thực tiễn giải quyết BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng
khác gây ra
3.2.2, Một số vụ án cụ thể và bình luận
3.3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật
KẾT LUẬN

PHẦN MỞ ĐẦU
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do tài sản gây ra nói riêng là một nội dung rất quan trọng trong pháp
luật Dân sự Việt Nam cũng như đa số quốc gia trên thế giới. Nó trở thành chủ đề


6

Khóa luận tốt nghiệp

khá thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học pháp lý cũng như các nhà thực
tiễn áp dụng pháp luật. Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về nội dung
này hoặc liên quan đến nội dung này, được thể hiện ở các cấp độ khác nhau như:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng vài nét về thực tiễn xét xử và
hướng hoàn thiện - Tạp chí Kiểm sát, số 5/2003, trang 14,15,16 của Nguyễn
Thanh Bình; Cần sửa đổi, bổ sung chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngTạp chí Luật học- Trường Đại học Luật Hà Nội của Trần Thị Huệ; Luận văn cao

hình như sập đổ Bể bơi AquaPark ở Matxcơva; sập Ga Hàng không Sân bay
Charles de Gaulle ở Paris; sập hai nhịp neo cầu Cần Thơ đang thi công; sụt toàn
bộ Trụ sở Viện Khoa học xã hội miền Nam do tác động của việc thi công tầng
hầm Cao ốc Pacific tại TP.Hồ Chí Minh… Tất cả những sự cố trên không chỉ
liên quan tới những tác động đặc biệt của thiên nhiên mà còn liên quan đến việc
khai thác sử dụng quá khả năng cho phép của công trình hoặc các nhân tố chủ
quan khác.
Điều này đặt ra những câu hỏi: Liệu những công trình càng hiện đại,
phức tạp thì càng ẩn chứa nhiều rủi ro? Pháp luật quy định thế nào về vấn đề bảo
đảm an toàn của nhà cửa, các công trình xây dựng, vấn đề BTTH do nhà cửa,
công trình xây dựng khác gây ra? Vấn đề xác định chủ thể BTTH, mức BTTH,
…?
Trước những vấn đề này, sự điều chỉnh của pháp luật phù hợp với yêu cầu
thực tiễn là một đòi hỏi khách quan. Trong khi đó TNBTTH do nhà cửa, công
trình xây dựng gây ra mới chỉ được các nhà làm luật dự liệu rất “khiêm tốn”, chỉ
trong một điều luật – Điều 627. Điều đó dẫn tới thiếu cụ thể, không rõ ràng, chỉ
được hiểu như một nguyên tắc, vì thế, gây khó khăn không nhỏ cho những
người làm công tác thực tiễn, cũng như các chủ thể khác lúng túng trong việc
thực hiện quyền yêu cầu và thực hiện nghĩa vụ liên quan đến nhà cửa, công trình
xây dựng khác khi gây thiệt hại. Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định
của pháp luật về trách nhiệm dân sự do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây
thiệt hại là việc làm có ý nghĩa quan trọng và cũng là một trong các nhu cầu cần
thiết đối với khoa học pháp lý dân sự ở Việt Nam hiện nay.
Nhằm đảm bảo tư duy lô gic về mặt nội dung, tạo sự cân đối về mặt hình
thức của đề tài. Bài khóa luận được trình bày theo kết cấu như sau :
Phần mở đầu


8


xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác”. Bởi vậy, khi xử
sự của chủ thể này làm ảnh hưởng tới quyền dân sự của chủ thể khác thì bị coi là
có hành vi trái pháp luật. Khi đó người có quyền dân sự bị xâm phạm được
quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng TNDS để bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng của mình. TNDS được áp dụng thì người có hành vi
xử sự trái với quy định của pháp luật dân sự có thể phải gánh chịu một hoặc một
số hậu quả pháp lý như: Buộc chấm dứt hành vi vi phạm; Buộc xin lỗi cải chính
công khai; Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; Buộc BTTH; Phạt vi phạm.
Tóm lại, TNDS chính là quy định của luật dân sự về hậu quả pháp lý do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng buộc người có hành vi vi phạm pháp
luật phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định.
Luật dân sự hiện nay quy định hai loại trách nhiệm BTTH:
- BTTH do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng, là quy định của pháp luật
dân sự áp dụng khi các chủ thể gây thiệt hại không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ dân sự của mình theo hợp đồng đã thỏa thuận.
- BTTH ngoài hợp đồng, là quy định của pháp luật dân sự áp dụng đối với
bất kỳ chủ thể nào khi hành vi xử sự của họ trái với quy định của pháp luật nói
chung mà gây thiệt hại cho chủ thể khác về tài sản, sức khỏe, tính mạng, nhân
phẩm, uy tín.


10

Khóa luận tốt nghiệp

Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một trong những hình thức cụ thể
của TNDS. Có thể nói, BTTH ngoài hợp đồng là một trong những chế định dân
sự có lịch sử ra đời sớm nhất. Khác những loại TNDS khác được áp dụng ngay
sau khi có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra thì trách nhiệm BTTH ngoài hợp
đồng lại chỉ được áp dụng khi những hành vi đó đã gây ra trên thực tế một thiệt

tài sản và quyền nhân thân không gắn với tài sản, quyền sở hữu, quyền thừa kế
và các quyền khác đối với tài sản. Như vậy, khi tài sản của Nhà nước, của pháp
nhân, hoặc tài sản, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân
bị xâm hại, Nhà nước sẽ áp dụng những chế tài nhất định đối với người có hành
vi vi phạm trái pháp luật nhằm mục đích khắc phục những hậu quả và khôi phục
lại tình trạng ban đầu cho người bị thiệt hại. Trên cơ sở đó dẫn đến việc hình
thành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Thông thường, thiệt hại xảy ra là do
hành vi của con người nhưng hiện nay nhiều khi tự bản thân tài sản cũng có thể
gây thiệt hại, ví dụ như nhà cửa, công trình xây dựng bị sụt lở; cây cối bị đổ,
gẫy,... Do vậy, ngoài trách nhiệm BTTH do hành vi của con người gây ra thì
pháp luật còn quy định về trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra. Trong BLDS
1995 và 2005 không có quy định về khái niệm cũng như không có các quy định
chung về trách nhiệm BTTH do tài sản gây mà chỉ quy định ở các trường hợp
BTTH cụ thể. Qua khái niệm trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung có
thể hiểu: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra là quy định của
pháp luật dân sự mà khi áp dụng sẽ phát sinh một quan hệ dân sự, theo đó chủ sở
hữu, người được chủ sở hữu giao cho quản lý, chiếm hữu, sử dụng tài sản mà để
tài sản đó gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho người khác thì phải
bồi thường thiệt hại”.
Theo Điều 627 BLDS 2005 thì trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình
xây dựng khác gây ra được quy định như sau: “Chủ sở hữu, người được chủ sở
hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường
thiệt hại, nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở
gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi
của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng”.
Nhà cửa, công trình xây dựng là một loại tài sản thuộc loại tài sản bất
động sản. Do vậy, có thể dựa vào cách hiểu về trách nhiệm BTTH do tài sản gây
ra và Điều 627 BLDS 2005 để xây dựng khái niệm trách nhiệm BTTH do nhà
cửa, công trình xây dựng khác gây ra cụ thể là: “Trách nhiệm bồi thường thiệt


- Trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra là loại
TNDS ngoài hợp đồng phát sinh khi có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật của
nhà cửa, công trình xây dựng, tức là nhà cửa, công trình xây dựng là nguyên
nhân trực tiếp gây thiệt hại.


13

Khóa luận tốt nghiệp

- Khác với những thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con người trong
xây dựng nhà cửa, công trình gây ra khi xác định trách nhiệm BTTH thì căn cứ
vào việc người nào có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì phải bồi thường,
trường hợp BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra thì về nguyên
tắc trách nhiệm BTTH được áp dụng cho chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng,
người có nghĩa vụ trong việc quản lý nhà cửa, công trình xây dựng nhưng đã để
nhà cửa, công trình xây dựng đó gây thiệt hại cho người xung quanh, trừ trường
hợp họ chứng minh được thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại
hoặc người thứ ba khác. Như vậy, người chịu trách nhiệm BTTH trong trường
hợp này là một nhóm chủ thể xác định.
- Lỗi được xem xét với tính chất là lỗi suy đoán, lỗi gián tiếp do sự quản
lý, trông coi không chặt chẽ của chủ sở hữu, người quản lý, sử dụng nhà cửa,
công trình xây dựng để nhà cửa, công trình xây dựng đó gây thiệt hại cho người
khác.
Trong khoa học pháp lý dân sự hiện nay tồn tại học thuyết "trách nhiệm
khách quan". Nghĩa là, khi có thiệt hại xảy ra là phải có sự đền bù, bồi thường
một cách ngang bằng, không cần biết người gây ra thiệt hại có lỗi hay không.
Khi các chủ thể trong hoạt động của mình đã gây ra thiệt hại kể cả khi gặp rủi ro
cho người khác đều phải có trách nhiệm bồi thường. Điều này sẽ rất đúng nếu
thiệt hại không phải do con người gây ra mà do máy móc, cây cối, nhà cửa, công

của công trình...Từ sự phân tích đó có thể thấy việc xác định trách nhiệm BTTH
do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại có thể nên xác định theo
thuyết “trách nhiệm khách quan”.
1.2.3, Giá trị của quy định pháp luật về trách nhiệm BTTH do nhà cửa,
công trình xây dựng gây ra
Trong thực tế hiện nay ngoài những thiệt hại do hành vi của con người gây
ra, còn có nhiều thiệt hại do tài sản của con người là nguồn nguy hiểm cao độ,
nhà cửa, công trình xây dựng, súc vật, cây cối... gây ra. Vấn đề xác định trách
nhiệm dân sự của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng, người có trách nhiệm
trong việc quản lý đối với các thiệt hại do tài sản thuộc sở hữu, thuộc trách
nhiệm quản lý... của mình gây ra ngày càng có ý nghĩa pháp lý, ý nghĩa lý luận
và thực tiễn quan trọng.


15

Khóa luận tốt nghiệp

Các quy định của pháp luật về BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng
khác gây ra đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các tranh chấp liên
quan đến thiệt hại mà nhà cửa, công trình xây dựng là nguyên nhân trực tiếp gây
ra. Ngoài ra, cơ sở của trách nhiệm dân sự nói chung còn được xây dựng trên
nguyên tắc lỗi. Theo nguyên lý truyền thống, người bị thiệt hại muốn được bồi
thường còn phải dẫn chứng lỗi của người gây thiệt hại; ngoài ra họ còn có trách
nhiệm chứng minh sự thiệt hại do người có hành vi vi phạm pháp luật gây ra
phải gánh chịu khi do chính lỗi của người đó gây ra. Trách nhiệm BTTH do nhà
cửa, công trình xây dựng khác gây ra đã mở ra một hướng giải quyết tranh chấp,
theo đó, khi nhà cửa, công trình xây dựng gây ra thiệt hại, chủ sở hữu, người
đang quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng đương nhiên bị coi là có lỗi.
Với quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây

phán quyết của Tòa án làm tăng thêm niềm tin vào cơ quan xét xử của nhân dân.
1.3. Khái quát các quy định của pháp luật về BTTH do nhà cửa, công
trình xây dựng khác gây ra
Để xác định trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây
ra cần xem xét nhiều văn bản pháp luật khác nhau, cụ thể:
- Bộ luật dân sự năm 2005 các quy định chung trong chương XXI, phần thứ
ba BLDS 2005 về BTTH ngoài hợp đồng, Điều 627 BLDS 2005 quy định về
BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra.
Nhìn chung hiện nay, các quy định của BLDS liên quan đến việc BTTH do
nhà cửa, công trình xây dựng gây ra còn quá ít (chỉ trong một điều luật, Điều
627), gây khó khăn lớn cho cơ quan áp dụng pháp luật trong việc bảo vệ các
quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự. Khi mà BLDS được coi là văn
bản pháp luật chính thống nhất quy định về vấn đề này thì việc bổ sung, sửa đổi
các quy định về BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra là hoàn toàn
cần thiết.
Nhìn nhận một cách khách quan thì nội dung quy định tại Điều 627 là phù
hợp với những trường hợp xác định trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình
xây dựng gây ra khi công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, còn nếu công
trình đang được xây dựng, chưa hoàn thành thì quy định của điều luật là chưa
ổn. Trong quá trình thi công công trình có sự tham gia của nhiều chủ thể khác
nhau như chủ đầu tư, người thi công,… nếu do lỗi của họ dẫn đến nhà cửa, công
trình xây dựng gây thiệt hại cho người khác thì trách nhiệm BTTH thuộc về ai


17

Khóa luận tốt nghiệp

hay họ phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường, Điều 627 không quy định rõ.
Ngoài ra còn một số hạn chế khác đã được trình bày ở Chương III của bài khóa

Khóa luận tốt nghiệp

Tương tự nghị định 209 các nghị định này có ý nghĩa quan trọng trong
việc xác định chủ thể liên quan đến trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình
xây dựng khác gây ra.
- Dự thảo Luật BTNN của Chính phủ trình UBTVQH ngày 15/8/2008
Mặc dù sự ra đời của Luật BTNN là một tiến bộ, là sự phát triển lớn của
hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật dân sự nói riêng nhưng trong dự thảo
Luật BTNN mới chỉ quy định trách nhiệm BTTH của Nhà nước khi người thi
hành công vụ gây ra trong quá trình thi hành công vụ mà không có điều luật nào
quy định về trách nhiệm BTTH của Nhà nước khi tài sản trong đó có nhà cửa,
công trình xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước gây thiệt hại. Dự thảo LBTNN chỉ
có ý nghĩa đối với vấn đề BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra khi Ban
soạn thảo bổ sung thêm các quy định về trách nhiệm BTTH do tài sản của Nhà
nước gây thiệt hại, trong đó có quy định trách nhiệm BTTH của Nhà nước do
nhà cửa, công trình xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước gây thiệt hại. Từ đó bảo vệ
được quyền và lợi ích chính đáng của người dân, đồng thời thể hiện được bản
chất của nhà nước ta là “nhà nước của dân, do dân, vì dân”.
Bên cạnh các văn bản pháp pháp luật trên còn phải kể đến các văn bản
pháp luật khác do các bộ chủ quản ban hành như Quyết định 33/2006/QĐ-BXD
ngày 5/10/2006 ban hành công khai thủ tục hành chính và thái, tác phong của
cán bộ, công chức trong lĩnh vực thẩm định thiết kế cơ sở dự án đầu tư xây dựng
công trình; Chỉ thị số 07/2007/CT-BXD ngày 5/11/2007 về tăng cường công tác
quản lý xây dựng đối với công trình xây dựng nhà cao tầng; Quyết định số
25/2005/QĐ-BGTVT ngày 13/5/2005 quy định về việc áp dụng tiêu chuẩn trong
xây dựng công trình giao thông… Cuối cùng phải kể đến các văn bản pháp luật
do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành điều chỉnh hoạt
động quản lý công trình xây dựng trên địa bàn. Ví dụ như: Quyết định
14/2007QĐ-UBND ngày 19/1/2007 của UBND thành phố Hà Nội quy định về
đảm bảo trật tự an toàn và vệ sinh môi trường trong quá trình xây dựng các công

cho người bị thiệt hại cả hai loại trách nhiệm này còn có ý nghĩa giáo dục mọi
người về ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tôn trọng
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Tất cả những điều đó khẳng định vai
trò và ý nghĩa quan trọng của hai loại trách nhiệm này trong hệ thống các quy
định pháp luật dân sự cũng như trong thực tiễn đời sống.
1.4.2, Những điểm khác nhau


20

Khóa luận tốt nghiệp

 Căn cứ phát sinh
- Trường hợp BTTH do hành vi gây ra thì một điều kiện không thể thiếu là
hành vi gây thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật.
- BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra do tự thân nhà cửa,
công trình xây dựng gây ra nên không thể xem xét đến điều kiện có hành vi trái
pháp luật của người gây thiệt hại.
 Nguyên nhân gây thiệt hại
- Trách nhiệm BTTH phát sinh khi thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của
hành vi trái pháp luật của con người gây ra. Trường hợp này người gây thiệt hại
đã thực hiện hành vi dưới dạng hành động hoặc không hành động và hành vi đó
chính là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Ví dụ: Anh M phá tường nhà để
xây dựng lại, tường đổ vào ông B làm ông B bị thương. Trong ví dụ này nguyên
nhân gây thiệt hại là do hành vi vô ý của anh M gây ra.
- Trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra là kết
quả tất yếu khi nhà cửa, công trình xây dựng là nguyên nhân trực tiếp gây ra
thiệt hại như nhà cửa, công trình xây dựng bị sụt, đổ gây thiệt hại,... Ví dụ:
Tường xây bao quanh nhà anh M do xây dựng quá lâu ngày bị tở kết cấu nên tự
đổ làm ông B bị thương. Trường hợp này nguyên nhân gây thiệt hại là do nhà

cho các con chị E một khoản bù đắp về tổn thất tinh thần khi chị E chết.


22

Khóa luận tốt nghiệp

CHƯƠNG II
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA
2.1. Điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình
xây dựng khác gây ra
Pháp luật hiện hành chỉ quy định về điều kiện phát sinh trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng mà không quy định về điều kiện phát sinh trách nhiệm
BTTH do tài sản gây ra nói chung và trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình
xây dựng khác gây ra nói riêng. Trên cơ sở những quy định về điều kiện phát
sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng có thể thấy những điều kiện cơ bản phát
sinh trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gồm những điều kiện:
Điều kiện 1: Có thiệt hại xảy ra.
Là một yếu tố cơ bản cấu thành trách nhiệm BTTH, thiệt hại được coi là
điều kiện bắt buộc và là tiền đề để quyết định có phát sinh trách nhiệm BTTH
hay không. Thông thường “thiệt hại” được hiểu là sự giảm bớt những lợi ích vật
chất và tinh thần của một người do có sự kiện gây thiệt hại của người khác và
được xác định bằng một khoản tiền cụ thể. Thiệt hại đồng thời mang ý nghĩa
pháp lý và xã hội thể hiện ở chỗ nó tác động và làm ảnh hưởng đến những quan
hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Các loại thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra bao gồm
thiệt hại về tài sản, sức khoẻ và tính mạng. Riêng loại thiệt hại về danh dự, nhân
phẩm, uy tín thì không thuộc phạm vi tác động gây thiệt hại của nhà cửa, công
trình xây dựng khác. Tuy nhiên, trong một số trường hợp thiệt hại do nhà cửa,

hại nhưng không trái pháp luật thì không phát sinh trách nhiệm BTTH, ví dụ
trong trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại do động đất, thiên
tai, hoặc trong các trường hợp bất khả kháng theo quy định của pháp luật, mặc
dù có sự kiện gây thiệt hại của nhà cửa, công trình xây dựng nhưng sự kiện này
không trái pháp luật nên không phát sinh trách nhiệm BTTH. Ngược lại, nếu chỉ
có sự kiện trái pháp luật nhưng không có thiệt hại do nhà cửa, công trình xây
dựng gây ra thì trong trường hợp này cũng không phát sinh trách nhiệm BTTH.
Ví dụ: Cổng nhà chị H do lâu ngày bị cũ nát, hư hỏng nặng dẫn đến việc bị đổ
xuống đường nhưng không hề gây thiệt hại cho chủ thể nào. Như vậy, chúng ta
thấy rằng trong trường hợp này mặc dù có xảy ra sự kiện trái pháp luật của công


24

Khóa luận tốt nghiệp

trình xây dựng là cổng nhà chị H bị đổ nhưng do không phát sinh thiệt hại nên
theo quy định của pháp luật cũng không phát sinh trách nhiệm BTTH của chị H.
Điều kiện 3: Có mối quan hệ nhân quả giữa sự tác động của nhà cửa, công
trình xây dựng khác đối với thiệt hại xảy ra.
Nhà cửa, công trình xây dựng là những tài sản bất động sản chúng có
đặc tính bất di bất dịch được dùng theo các mục đích khác nhau gồm các công
trình xây dựng trên mặt đất, mặt nước hoặc dưới mặt đất, mặt nước. Có 2 khả
năng gây thiệt hại bởi nhà cửa, công trình xây dựng: một là, do hành vi của con
người tác động làm nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại; hai là, tự bản
thân nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại. Nếu thiệt hại xảy ra trong
trường hợp thứ nhất thì căn cứ để xác định trách nhiệm BTTH được dựa trên
những nguyên tắc chung của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Ý chí của chủ
thể được thể hiện thông qua hành vi tác động trực tiếp đến nhà cửa, công trình
xây dựng, khi đó nhà cửa, công trình xây dựng chỉ đóng vai trò là những công cụ

ro của người bị thiệt hại.
Xuất phát từ nguyên nhân sâu xa của trách nhiệm trông coi bảo quản bao
gồm các nghĩa vụ cơ bản như: không để người khác xâm phạm dẫn đến việc gây
thiệt hại cho nhà cửa, công trình xây dựng; trông coi không để nhà cửa, công
trình xây dựng gây thiệt hại cho người khác. Người trông coi quản lý phải kịp
thời phát hiện nguy cơ nhà cửa, công trình xây dựng có khả năng gây thiệt hại
cho những người xung quanh để tìm cách khắc phục như sửa chữa nhà hoặc cột
điện đã bị nghiêng…Trường hợp không có ngay biện pháp khắc phục kịp thời
thì người trông coi phải có các cách thức thông báo tình trạng nguy hiểm của
nhà cửa, công trình xây dựng để những người xung quanh tránh xa chúng hay có
biện pháp tự bảo vệ. Như vậy, bất luận trong trường hợp nào trước hết người
quản lý trông coi đều bị coi là có lỗi khi để nhà cửa, công trình xây dựng gây
thiệt hại trừ trường hợp chỉ ra lỗi của người thứ ba hoặc do sự kiện bất khả
kháng [18].
Tóm lại, trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra chỉ
phát sinh khi thoả mãn được 4 điều kiện như đã phân tích ở trên.
2.2. Chủ thể trong quan hệ BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng
khác gây ra
2.2.1, Người phải chịu trách nhiệm bồi thường



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status