Quy định của pháp luật hiện hành về các loại nguồn chứng cứ - Pdf 34

MỤC LỤC

BÀI LÀM
Nguồn chứng cứ là những sự vật chứa đựng những thông tin, tư liệu tồn tại
trong thực tế khách quan, liên quan đến vụ án và được thu thập theo trình tự, thủ
tục pháp luật quy định. Theo Điều 64 khoản 2 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003,
chứng cứ được xác định bằng các nguồn là vật chứng, lời khai, kết luận giám định,
biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu đồ vật khác. Các cơ quan tiến
hành tố tụng chỉ có thể thu thập các loại nguồn chứng cứ nêu trên theo trình tự, thủ
tục pháp luật tố tụng hình sự quy định để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Do đó,
việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự là một yêu
cầu không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
I. LÝ LUẬN CHUNG
1. Khái niệm chứng cứ và các thuộc tính của chứng cứ.
Chứng cứ là những gì có thật được xác định bằng các nguồn nhất định và
được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định mà Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có
hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác cần thiết
cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.
Chứng cứ trong luật tố tụng hình sự được sử dụng làm phương tiện duy nhất
để chứng minh tội phạm, làm rõ các tình tiết của vụ án. Cho nên, chứng cứ được sử
dụng trong vụ án hình sự phải bảo đảm đầy đủ ba thuộc tính quan trọng sau, đó là
tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp.


Bài tập cuối kỳ môn Luật Tố tụng hình sự

Đề số 07

2. Khái niệm nguồn chứng cứ
Hiện nay, chưa có một khái niệm nào mang tính chính thống về thuật ngữ

cứ có ý nghĩa hết sức quan trọng vì chỉ khi xác định được chính xác đâu là nguồn
của chứng cứ thì mới có thể xác định được chứng cứ. Bên cạnh đó, quy định này
1
2

Nguyễn Văn Thắng, Nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự, trang 5, Tạp chí Công an nhân dân, số 05/1995.
Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, trang 185, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2007.

2


Bài tập cuối kỳ môn Luật Tố tụng hình sự

Đề số 07

còn ràng buộc các cơ quan tiến hành tố tụng khi chứng minh vụ án, không được rút
chứng cứ ra từ bất cứ nguồn nào khác.
1.Vật chứng:
Theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003: “Vật chứng là vật được dùng
làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng
của tội phạm cũng như tiền bạc và vật chất khác có giá trị chứng minh tội phạm và
người phạm tội”.
Vật chứng chứa đựng và phản ánh trong mình những sự kiện thực tế liên
quan đến vụ án, sự liên quan này có thể ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp nhưng
quan trọng nó phải nằm trong mối liên quan tổng thể của vụ án hình sự và bao gồm
những điển hình sau:
+ Vật chứng là những vật dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội. Đây là
những vật mà người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội đã sử dụng chúng để
hỗ trợ quá trình thực hiện tội phạm để góp phần hoàn thành nhanh chóng và thuận
lợi hơn. Ví dụ: dùng dao, súng, rìu để giết người, dây thừng, dây dù để thắt cổ,

- Vật chứng được thu thập trong giai đoạn điều tra .
- Vật chứng là những vật ở dạng vật chất, được nhận thấy qua các giác quan
của con người nên vật chứng có tính khách quan rất cao nhưng cũng dễ bị tác động
của các điều kiện tự nhiên làm thay đổi, dễ bị làm giả, làm sai lệch…Do những đặc
điểm trên và giá trị chứng minh của vật chứng đối với việc giải quyết vụ án hình
sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 đã quy định một cách cụ thể, chặt chẽ về thủ tục
thu thập và bảo quản vật chứng tại Điều 75.
Vật chứng mang dấu vết tội phạm có vai trò giúp các cơ quan tiến hành tố
tụng xác định được hướng điều tra để giải quyết nhanh chóng vụ án. Tuy nhiên,
trong một số trường hợp, sự tồn tại của vật chứng chỉ mang tính chất tương đối, chỉ
ở một mức độ, một thời hạn nhất định. Do đó, trong quá trình thu thập, bảo quản
vật chứng, các cơ quan có thẩm quyền phải đảm bảo nguyên vẹn, không để mất
mát, hư hỏng hay lẫn lộn vật chứng. Vì vậy vật chứng phải được cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền thu thập theo trình tự mà pháp luật tố tụng hình sự quy định, đồng
thời người có trách nhiệm bảo quản phải thực hiện nghiêm chỉnh theo đúng quy
định, nếu vi phạm tuỳ mức độ sẽ bị xử lý.
* Thủ tục thu thập vật chứng: Thông thường, vật chứng được thu thập khi
phát hiện ra tội phạm bằng những hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng (ví
dụ như: khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám đồ vật, khám nhà…),
nhưng nhiều trường hợp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự việc thu thập
chứng cứ có thể do bị can, bị cáo, người làm chứng, người bị hại hoặc bất kỳ cá
nhân, cơ quan, tổ chức nào cung cấp. Theo khoản 1 Điều 75 BLTTHS 2003 “Vật
chứng phải được thu thập kịp thời, đầy đủ, được mô tả đúng thực trạng vào biên
bản và đưa vào hồ sơ vụ án” . Thu thập vật chứng buộc phải lập thành văn bản,
biên bản thu thập vật chứng phải ghi nhận và mô tả tỷ mỷ đặc điểm của vật đó
như: mà sắc, khối lượng, trọng lượng hình dáng, những dấu vết tội phạm để lại ở
vật chứng, nơi tìm thấy vật chứng hoặc người cung cấp. Những vật không được mô
tả trong biên bản thu thập vật chứng thì dù có giá trị chứng minh tội phạm và người
phạm tội thì cũng không được coi là chứng cứ.
* Cách thức bảo quản vật chứng được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 75

chỉ ở giai đoạn truy tố; do Toà án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét
xử. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản”.
Vật chứng được xử lý bằng các biện pháp sau:
- Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng không có giá trị, không sử dụng được
hoặc cấm lưu hành;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với vật chứng là công cụ, phương tiện
phạm tội, vật chứng là tài sản không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý
hợp pháp, vật chứng là tào sản do phạm tội mà có;
- Trả lại chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp vật chứng là tài sản của
người khác bị chiếm đoạt hoặc bị người phạm tội sử dụng làm công cụ, phương
tiện phạm tội.
Trường hợp vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể
bán theo quy định của pháp luật và tiền bán được xử lý như các quy định trên.
2. Lời khai:
Xét về bản chất, chứng cứ là những thông tin, tài liệu hay những gì có thật
được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, kiểm tra và đánh giá theo quy định của
pháp luật nhằm phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Ngoài việc thu

5


Bài tập cuối kỳ môn Luật Tố tụng hình sự

Đề số 07

thập chứng cứ là vật chứng, việc thu thập lời khai của những người tham gia tố
tụng cũng đóng vai trò rất quan trọng.
Bộ luật TTHS 2003 quy định tương đối đầy đủ về vấn đề lời khai của người
tham gia tố tụng với tư cách là một trong các loại nguồn chứng cứ. Theo đó lời khai
bao gồm lời khai của người làm chứng (Điều 67), người bị hại (Điều 68), nguyên


6


Bài tập cuối kỳ môn Luật Tố tụng hình sự

Đề số 07

tra đầy đủ, đánh giá chính xác khách quan. Tuyệt đối không dược sử dụng biện
pháp trái pháp luật như bức cung, nhục hình để lấy lời khai…
3. Kết luận giám định:
Kết luận giám định là đánh giá cụ thể bằng văn bản của người có trình độ
chuyên môn về vấn đề khoa học, kỹ thuật tương ứng liên quan đến vụ án hình sự
đươc cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu. Trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003, kết luận giám định là nguồn chứng cứ quan trọng được sử dụng nhằm xác
định tội phạm, đối tượng tác động của tội phạm, những thiệt hại xảy ra hay xác
định năng lực hành vi hình sự của bị can, bị cáo, người làm chứng, người bị hại,
cũng như khả năng nhận thức của họ.
Các loại trưng cầu giám định thường gặp như: Trưng cầu giám định pháp y,
trưng cầu giám định kĩ thuật hình sự, trưng cầu giám định văn hoá, nghệ thuật,
trưng cầu giám định kế toán, tài chính…Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định đầy
đủ với những nội dung xung quanh việc tiến hành giám định như: kết luận giám
định (Điều 73), các trường hợp bắt buộc phải giám định (Khoản 3 Điều 155, Điểm
b Khoản 2 Điều 75), thủ tục giám định (Điều 156), nội dung kết luận giám định
(Điều 157), quyền lợi của bị can và người tham gia tố tụng đối với kết luận giám
định (Điều 158), giám định bổ sung hoặc giám định lại (Điều 159).
Việc xem xét và đưa ra kết luận giám định phải dựa trên kiến thức chuyên
môn, khoa học kĩ thuật hay nghệ thuật… làm căn cứ vạch ra sự thật khách quan của
vụ án hình sự. Bởi lẽ, kiến thức của những người tiến hành tố tụng là có giới hạn,
do đó những vấn đề thuộc về chuyên môn, lĩnh vực chuyên ngành phải do cơ quan

đã được kết luận trước đó thì tiến hành giám định bổ sung; trường hợp nghi ngờ về
cùng một vấn đề thì tiến hành giám định lại bằng một giám định khác (Điều 59
BLTTHS năm 2003). Ngoài ra, để bảo đảm tính độc lập và khách quan trong hoạt
động tố tụng khi có nhiều người tham gia giám định, Bộ luật Tố tụng hình sự quy
định: “trong trường hợp có ý kiến khác nhau thì mỗi người ghi riêng ý kiến kết luận
của mình vào bản kết luận riêng”. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 cũng quy định
cụ thể về nội dung giám định. Để làm sáng tỏ hoặc bổ sung nội dung kết luận giám
định, cơ quan trưng cầu giám định có thể triệu tập người giám định để hỏi thêm,
quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại (Điều 157 BLTTHS). Bị can, bị
cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền có ý kiến của mình về kết luận
giám định, yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại (Điều 158 BLTTHS)
4. Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác:
Biên bản về các hành vi và hoạt động tố tụng là một văn bản ghi nhận diễn
biến, nội dung, những người tham gia một công việc nào đó trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự được coi là một nguồn chứng cứ. Ví dụ như: biên bản bắt
người, khám xét, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận
dạng, thực nghiệm điều tra, biên bản phiên tòa .v.v.. (Điều 77, BLTTHS).
Có thể khẳng định rằng, không một vụ án nào lại thiếu được biên bản bởi vì
mọi hoạt động tố tụng được coi là hợp pháp, công khai khi nó được ghi nhận trong
biên bản. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử một vụ án hình sự thường diễn ra trong
một khoảng thời gian thường rất dài. Trong khoảng thời gian ấy, các thông tin, hành
vi, hoạt động tố tụng cần được lưu trữ dưới dạng thuật lại một cách trung thực, đầy
đủ để làm căn cứ xác định các chứng cứ khác (biên bản khám nghiệm hiện trường,
khám nghiệm tử thi, biên bản thu giữ tang vật, biên bản lấy lời khai .v.v..), hoặc xác
định tính đúng đắn của các hoạt động điều tra, tố tụng khác (biên bản bắt người,
khám xét, biên bản phiên tòa .v.v.. có thể là căn cứ để kháng cáo, kháng nghị). Đây
là nguồn chứng cứ quan trọng, ghi nhận những sự việc mà Cơ quan tiến hành tố tụng
thực hiện nên thông tin của nó đầy đủ về mặt nội dung, chuẩn xác mặt hình thức sẽ

8

1.1. Vật chứng
Như trên đã phân tích, BLTTHS 2003 đã có những quy định về cách thu
thập, bảo quản, xử lý vật chứng. Tuy nhiên pháp luật lại không quy định cách thức
xử lý vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội nhưng là tài sản dùng để đảm bảo
trong một giao dịch dân sự. Theo điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS 2003, vật
chứng là công cụ, phương tiện phạm tội phải tịch thu, sung quỹ nhà nước hoặc tiêu
huỷ. Nhưng nếu công cụ, phương tiện dùng để phạm tội là tài sản dùng để đảm bảo
cho giao dịch dân sự thì nếu sung quỹ Nhà nước thì quyền lợi của bên nhận bảo
đảm sẽ không được đảm bảo. Điều này đã gây nhiều vướng mắc trong quá trình xử
lý vật chứng trong thực tiễn.
1.2. Lời khai

9


Bài tập cuối kỳ môn Luật Tố tụng hình sự

Đề số 07

* Vấn đề lời khai của người làm chứng:
Thứ nhất, pháp luật tố tụng hình sự không quy định về độ tuổi của người
tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Như vậy, bất cứ ai có khả năng
nhận biết sự việc và khai báo về sự việc đó cũng đều có thể được triệu tập làm
người làm chứng, kể cả trẻ em, người chưa thành niên. Nhưng pháp luật lại không
có quy định về thủ tục đặc biệt lấy lời khai và tiến hành các hoạt động làm chứng
đối với những người làm chứng là trẻ em, người chưa thành niên. Điều này không
những có khả năng gây ảnh hưởng nhất định đến tính chính xác của lời khai mà còn
gây ra những tác động không tốt đối với tâm sinh lý của những người làm chứng là
chủ thể được bảo vệ bởi các văn bản pháp luật khác (ví dụ Luật về bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em).


Đề số 07

nghĩa vụ của họ nhiều và nặng nề hơn rất nhiều. Việc đi làm người làm chứng còn
gây mất thời gian, ảnh hưởng tới cuộc sống, công việc của họ. Do đó, trên thực tế
hầu như không ai muốn tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng.
Thứ tư, về sự có mặt của người làm chứng tại phiên tòa: Mặc dù BLTTHS
năm 2003 xác định sự có mặt của người làm chứng tại phiên tòa là quan trọng để
làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án nhưng luật cũng quy định người làm chứng có
thể vắng mặt tại phiên tòa nếu như trước đó đã có lời khai ở Cơ quan điều tra
(khoản 1 Điều 192). Quy định này là vi phạm nguyên tắc "khi nghị án chỉ được căn
cứ vào các chứng cứ (buộc tội và gỡ tội) và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên
tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị
cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa" (khoản 3
Điều 222). Như vậy quy định này đã tạo khe hở pháp luật là có những lời khai của
người làm chứng chưa được làm rõ tại phiên tòa nhưng vẫn được sử dụng làm căn
cứ xác định tội phạm. Việc không bảo đảm quyền tham gia phiên tòa để thẩm tra
lại chứng cứ của người làm chứng sẽ dẫn đến sự vi phạm quyền được bào chữa của
bị can, bị cáo.
Thứ năm, về quyền được đọc và yêu cầu sửa đổi bổ sung biên bản phiên
tòa. Theo quy định hiện hành thì chỉ có “Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa,
người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án, người bảo vệ quyền lợi của đương sự hoặc đại diện hợp pháp của
những người đó được xem biên bản phiên toà, có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi,
bổ sung vào biên bàn phiên toà và ký xác nhận” (khoản 4 Điều 200 BLTTHS).
Trong thực tế nhiều bản án đã trích dẫn sai ý kiến của người làm chứng, việc yêu
cầu sửa đổi bổ sung chủ yếu do đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo hay bảo vệ
quyền lợi cho đương sự, còn chính bản thân người làm chứng lại không có quyền
này. Điều đó rõ ràng là sẽ ảnh hưởng đến quyền của bị can, bị cáo và là tiềm ẩn dẫn
đến việc án xử oan sai

những người tham gia tố tụng còn gặp phải một vướng mắc khác, đó là không có
chế tài đối với sự không khai báo phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Điều 307,
308 BLHS chỉ quy định chung về việc xử lý hình sự đối với tội khai báo gian dối
hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật và tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định
hoặc từ chối cung cấp tài liệu mà không hướng dẫn ở mức độ nào thì áp dụng và áp
dụng như thế nào trong từng trường hợp.
1.3. Kết luận giám định
Các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về kết luận giám định
còn dừng lại ở mức chung,chưa chi tiết cụ thể. Điều này đã gây tình trạng hiểu và
thực thi pháp luật chưa chính xác làm cho quá trình tiến hành tố tụng gặp nhiều khó
khăn.
Khoản 1 Điều 158 quy định bị can và những người tham gia tố tụng khác được
yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại. Khi những người này (chủ yếu là bị
can và người bị hại) mà cùng yêu cầu giám định lại hoặc cùng yêu cầu giám định
bổ sung về cùng một đối tượng thì sẽ chấp nhận yêu cầu của ai? Tại khoản 2 quy
định nếu: “Trong trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không chấp nhận yêu
cầu của bị can, những người tham gia tố tụng khác thì phải nêu rõ lý do và thông
báo cho họ biết”. Như vậy luật mới quy định trường hợp không đồng ý, mà chưa
quy định rõ ràng trường hợp nhiều người cùng yêu cầu sẽ giải quyết thế nào,chấp
nhận ai, chấp nhận như thế nào… Đây là vấn đề gây khó khăn, vướng mắc trong
quá trình giải quyết vụ án bởi quy định pháp luật còn chung chung. Vì pháp luật
không quy định rõ ràng, cụ thể việc giám định lại nên rất dễ bị các cơ quan tố tụng
áp dụng tùy tiện. Nếu thiên vị bên A thì họ chấp nhận yêu cầu giám định lại của

12


Bài tập cuối kỳ môn Luật Tố tụng hình sự

Đề số 07

bản đã được pháp luật quy định chặt chẽ, cụ thể yêu cầu người tiến hành tố tụng buộc
phải tuân theo nên sự vi phạm nghiêm trọng những quy định này làm cho biên bản
không có giá trị pháp lý để làm cơ sở chứng minh những vấn đề trong vụ án hình sự.
Các tài liệu, đồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp không phải do cơ
quan tiến hành tố tụng cung cấp nên thường không đảm bảo tính hợp pháp. Hơn
nữa sự hạn chế của loại nguồn này là ở chỗ các tài liệu, đồ vật do cơ quan, tổ chức,
cá nhân cung cấp có được cơ quan tiến hành tố tụng chuyển hóa thành chứng cứ

13


Bài tập cuối kỳ môn Luật Tố tụng hình sự

Đề số 07

pháp lý có giá trị chứng minh hay không? Nếu không được chuyển hóa thành
chứng cứ pháp lý thì chúng cũng không có giá trị chứng minh.
2. Phương hướng hoàn thiện quy định nguồn chứng cứ
Qua nghiên cứu một số vấn đề về các loại nguồn chứng cứ trong vụi án hình
sự cho thấy nguồn chứng cứ là một yếu tố không thể thiếu trong hoạt động tố tụng
hình sự. Nguồn chứng cứ là căn cứ pháp luật để cơ quan tiến hành tố tụng ra các
quyết định cần thiết để giải quyết đúng đắn và chính xác vụ án hình sự. Vì vậy để
nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm cần hoàn thiện các
quy định về nguồn chứng cứ trong BLTTHS năm 2003.
- Thứ nhất, trong khoản 2 Điều 64 cần có một đoạn nêu khái niệm "nguồn
chứng cứ" là gì, sau đó mới đề cập (liệt kê) đến các loại nguồn chứng cứ thì mới
đầy đủ và chính xác hơn.
- Thứ hai, hoàn thiện các quy định về vật chứng. Bộ luật Tố tụng Hình sự
cần quy định về xử lý vật chứng là tài sản bảo đảm cho giao dịch dân sự, không
sung quỹ Nhà nước vật chứng đó mà nên quy định: Căn cứ quyết định, bản án của

việc áp dụng pháp luật một cách thuận lợi, dễ dàng.
Để lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Điều 70) là một
trong những nguồn chứng cứ, thì cần phải quy định khái niệm như thế nào là
"người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan"
- Thứ tư, hoàn thiện các quy định pháp luật về kết luận giám định.
Pháp luật cần phải quy định việc trình bày kết quả giám định một cách cụ
thể, tạo điều kiện cho việc giải quyết vụ án không gặp phải những hiểu nhầm không
đáng có; quy định hạn chế số lần được giám định.
Đối với trường hợp các kết luận giám định mâu thuẫn nhau nên quy định kết
luận giám định của cơ quan tổ chức nào có giá trị pháp lý cao hơn; đối với các kết luận
giám định có giá trị pháp lý ngang nhau thì kết luận giám định sau cùng sẽ được công
nhận. Mặt khác Bộ luật cũng cần quy định về thời gian giám định để vụ án được giải
quyết nhanh chóng, kịp thời đảm bảo lợi ích của những người tham gia tố tụng.
- Thứ năm, pháp luật tố tụng hình sự cần có quy định cụ thể hơn nữa về cách
lập, ghi biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và xử lý những người vi phạm gây
hậu quả nghiêm trọng. Đối với nguồn chứng cứ là đồ vật là tài liệu, đồ vật do cơ
quan, tổ chức, cá nhân cung cấp cần sửa đổi theo hướng quy định rõ những điều
kiện để các tài liệu, đồ vật đó được coi như là chứng cứ.
- Ngoài ra, trong xã hội mà các phương tiện kỹ thuật, điện tử ngày càng phổ
biến và được tiếp cận dễ dàng bởi mọi người dân thì số lượng các loại tội phạm liên
quan đến máy tính, mạng máy tính và các phương tiện lưu giữ thông điệp dữ liệu
khác ngày càng gia tăng. Tuy nhiên chưa có quy định nào của Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 nói riêng, pháp luật về tố tụng nói chung quy định chi tiết về loại chứng cứ
liên quan đến tội phạm mạng hay còn gọi là “chứng cứ điện tử” này. Cách thu thập,
xử lý loại nguồn chứng cứ này rất phức tạp và có liên quan chặt chẽ đến hệ thống
điều hành, sử dụng và an ninh mạng máy tính không chỉ ở phạm vi quốc gia mà còn
trên phạm vi thế giới. Nếu không có quy định cụ thể về giá trị pháp lý của loại nguồn
chứng cứ này, cũng như quá trình thu thập, lưu giữ, xác minh thì sẽ rất khó khăn cho
các cơ quan điều tra trong việc thu thập và xử lý chứng cứ đảm bảo hợp pháp, khách
quan để tìm ra sự thật của vụ án đặc biệt đối với các vụ án mà nguồn này là phương

2. Nguyễn Văn Thắng, Nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự,Tạp chí
Công an nhân dân, số 05/1995
3. ThS. Nguyễn Văn Cừ, Chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam,
trang 91, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005.
4. TS. Mai Thế Bày, Hoàn thiện chế định về chứng cứ và chứng minh
trong Tố tụng hình sự, Tạp chí Kiểm sát số 18 & 20 (Tháng 9 và 10 năm 2008)
5. TS. Trần Quang Tiệp, Về chứng cứ và chứng minh trong Tố tụng hình
sự, Tạp chí Kiểm sát số 18 & 20 (Tháng 9 và 10 năm 2008)
6. Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam 2003

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status