MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG
I. Một số vấn đề lý luận về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra.
1. Khái niệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
2. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
3. Tại sao phải quy định trách nhiệm bồi thườn thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra?
4. Khái quát những quy định cuả Pháp luật về bồi thườnng thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra.
II. Những quy định chung của Pháp luật hiện hành về bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
1. Các quy định của Pháp luật về nguồn nguy hiểm cao độ.
2. Dấu hiệu để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra:
3. Trách nhiêm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra :
4. Đánh giá quy đinh của Pháp luật hiện hành về trách nhiêm bồi thường thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
III. Thực tiễn áp dụng quy định Pháp luật về trách nhiệm bồi thường do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra.
C. KẾT LUẬN
1
A. MỞ ĐẦU :
Trong thực tế, có những sự vật như máy móc, phương tiện, hệ thống tải điện,
dây chuyền sản xuất trong nhà máy ... mà bản thân hoạt động của chúng luôn tiềm ẩn
khả năng gây thiệt hại cho chúng ta. Mặc dù chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng
nguồn nguy hiểm cao độ đã tìm mọi cách phòng ngừa, vận hành chúng an toàn nhưng
Như vậy, theo quy định tại Điều 604 BLDS 2005 ta có thể hiểu về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng là một loại trách nhiệm pháp lý được phát sinh dựa trên các điều kiện do pháp
luật quy định khi một chủ thể có hành vi gây thiệt hại cho các lợi ích được pháp luật
bảo vệ.
Thứ hai, Điều 623 BLDS 2005 quy định: “Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm
phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang
hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn
nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định”. Qua sự liệt kê các loại tài sản được
coi là nguồn nguy hiểm cao độ, trên cơ sở xem xét, đánh giá về các loại tài sản được
coi là nguồn nguy hiểm cao độ trong các văn bản hướng dẫn ta có thể hiểu nguồn
nguy hiểm cao độ là những vật nhất định do pháp luật quy định luôn tiểm ẩn nguy cơ
gây thiệt hại cho con người, con người không thể kiểm soát được một cách tuyệt đối.
Để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, một
trong những yếu tố không thể bỏ qua đó là xác định nguồn nguy hiểm cao độ. Căn cứ
vào Điều 623 BLDS 2005 thì có các lọai nguồn nguy hiểm cao độ sau:
- Phương tiện giao thông vận tải cơ giới: Theo khoản 18, Điều 3, Luật Giao
thông đường bộ 2008 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2009) quy định: Phương
tiện giao thông cơ giới bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô, máy kéo, rơ mooc
hoặc sơ mi rơ mooc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba
bánh, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.
Theo khoản 1, Điều 623 BLDS 2005 thì phương tiện vận tải cơ giới bao gồm:
phương tiện vận tải hoạt động trên đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng
không “ được trang bị và hoạt động bằng máy móc. ” Đặc điểm của phương tiện vận
3
tải cơ giới là một loại tư liệu mà khi sử dụng đòi hỏi các điều kiện về người sử dụng
và về an toàn kỹ thuật. Mặt khác, do vận hành bằng động cơ phương tiện vận tải cơ
giới có thể gây nguy hiểm cao độ cho những người xung quanh. Hơn nữa, phương tiện
trạng thái hoạt động thì thiệt hại đó không được giải quyết theo chế bộ bồi thường
thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
- Vũ khí: gồm vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao, súng săn, vũ khí thô sơ…
- Chất cháy, chất nổ: là chất lỏng, khí, rắn… dễ gây ra cháy nổ. Chất cháy có
đặc tính tự bốc cháy khi tiếp xúc với oxy trong không khí, nước hoặc dưới tác động
của các yếu tố khác…(xăng dầu, phốt pho…). Chất nổ với khả năng gây nổ mạnh,
nhanh tỏa nhiệt và ánh sáng (thuốc nổ, thuốc pháo…)
- Thú dữ: là động vật bậc cao, có lông mao, có tuyến vú, nuôi con bằng sữa, to
lớn, rất dữ có thể làm hại người. Ví dụ: sư tử, hổ, báo…
Như vậy, qua hai điều trên ta có thể hiều bồi thường thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra là như thế nào? Qua nghiên cứu Pháp luật về trách nhiêm bồi
thường thiệt hại ở một số nước, ta nhận thấy hiện nay tồn tại hai quan điểm:
- Quan điểm cổ điển: cần phải tồn tại điều kiện lỗi mới phát sinh trách nhiệm
bồi thường thiệt hại. Quan điểm này đặt căn bản trách nhiệm bồi thường thiệt hại trên
ý niệm lỗi, vì vậy trong các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại phải chứng minh được
yếu tố lỗi của người gây thiệt hại. Song với điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, quan
điểm này càng tỏ ra lạc hậu, không đủ để bảo vệ cho những người bị hại. Trong các
trường hợp: tai nạn xảy ra mà không do lỗi của ai cả, thì việc đòi nạn nhân phải dẫn
chứng lỗi của người gây thiệt hại chẳng khác nào gián tiếp bác bỏ quyền đòi bồi
thường của những nạn nhân. Mặt khác, quan điểm này cũng không thể giải thích được
trách nhiệm của người chưa đủ thành niên, người mất năng lực dân sự khi họ là những
người gây thiệt hại.
- Quan điểm khách quan: để giải thích trách nhiệm của một người đối với thiệt
hại – ngay cả khi họ không phạm một lỗi nào cả.
5
Quy định của BLDS Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra là một trường hợp cụ thể của chế độ trách nhiệm khác quan này.
Vậy bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được hiểu là trách
Thứ hai, nếu như lỗi là một trong bốn điều kiện cơ bản làm phát sinh trách
nhiệm trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung thì trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra lại dựa trên sự suy đoán trách
nhiệm của chủ sở hữu hay người quản lý nguồn nguy hiểm cao độ. Xuất phát từ việc
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ phát sinh khi
thiệt hại xảy ra do nội tại nguồn nguy hiểm cao độ đang trong tình trạng vận hành,
nằm ngoài khả năng kiểm soát, điều khiển của người chiếm hữu, người đang sử
dụng... và đó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại thì theo khoản 3 Điều 623
BLDS 2005: “Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn
nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp
sau đây: a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; b) Thiệt hại
xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp có thỏa
thuận khác.” Như vậy, chủ sở hữu, người đang chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ
không được miễn trừ trách nhiệm bồi thường kể cả trong trường hợp chứng minh
được họ không có lỗi trong việc trông giữ, bảo quản, vận hành nguồn nguy hiểm cao
độ.
Tuy nhiên, quy định này của pháp luật cũng không loại trừ khả năng thiệt hại
xảy ra do một phần lỗi của chủ sở hữu, người quản lý, trông giữ, bảo quản, vận hành
nguồn nguy hiểm cao độ; nhưng hành vi để xảy ra thiệt hại này của người trông giữ,
vận hành nguồn nguy hiểm cao độ không phải nguyên nhân có tính quyết định đến
việc xảy ra thiệt hại. Ví dụ như trước khi xuống dốc, lái xe không kiểm tra lại phanh;
lốp mòn nhưng chưa thay do chủ quan nghĩ rằng xe vẫn vận hành tốt… Hoạt động gây
thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ có thể hoàn toàn không có lỗi của con người
như xe đang chạy trên đường bất ngờ nổ lốp trước dẫn đến đổi hưởng đột ngột gây
thiệt hại...
Như vậy, bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là một trong
những trường hợp đặc biệt, theo đó, trách nhiệm bồi thường phát sinh là trách nhiệm
7
nguy hiểm cao độ gây ra có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập trật tự, kỉ cương xã
hội, tăng cường việc xây dựng Nhà nước ta thành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa.
4. Khái quát những quy định cuả Pháp luật về bồi thườnng thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra.
Như chúng ta đã biết, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra được quy định tại Điều 623 BLDS 2005 nhưng trước đó BLDS 1991 đã có
những quy đinh về vấn đề này tại Điều 627. Theo điều 627 BLDS 1995 thì BLDS
2005 quy định về điều này không có sự thay đổi nào, BLDS 2005 giữ nguyên và kế
thừa những gì mà BLDS 1995 đã quy định. Ngoài ra ta có thể tìm hiểu thêm thông qua
Nghị định số 03Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật
dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
II. Những quy định chung của Pháp luật hiện hành về bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
1. Các quy định của Pháp luật về nguồn nguy hiểm cao độ.
Hiện nay chưa có một điều luật nào khái quát chung về các nguồn nguy hiểm
cao độ mà dựa trên cơ sở quy định của Điều 623 BLDS 2005. Theo Điều 623 ta có thể
thấy các nguồn nguy hiểm cao độ chỉ mang tính liệt kê. Ví dụ về Phương tiện giao
thông vận tải cơ giới: Trên thực tế, có những phương tiện đang nằm ngoài “sự kiểm
soát” của Pháp luật khi quy định về “nguồn nguy hiểm cao độ”, như: xe đạp, xe
Babetta hay như máy thi công, máy ủi… Hay như rắn, ong gây thiệt hại thì chúng ta
không thể cho chúng vào nguồn nguy hiểm cao độ được. Vì liệt kê các loại tài sản
được coi là nguồn nguy hiểm cao độ chứ không đưa ra một khái niệm cụ thể nào nên
Điều 623 BLDS 2005 còn đề cập “nguồn nguy hiểm cao độ khác” do pháp luật quy
định. Như vậy, đây là quy định mang tính “mở” của pháp luật liên quan đến nguồn
nguy hiểm cao độ.
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra tại Điều 623 BLDS 2005. Điều
kiện này đòi hỏi hoạt động nội tại của nguồn nguy hiểm cao độ phải là nguyên nhân
10
tất yếu, có ý nghĩa quyết định dẫn đến thiệt hại. Khi xác định trách nhiệm bồi thường
thiệt hại, điểm mấu chốt quan trọng là xác định thiệt hại đó do nguyên nhân nào gây
ra. Những trường hợp thiệt hại có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ nhưng do
“tác động của con người”, do hành vi của con người gây ra thì chỉ cần áp dụng nguyên
tắc chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
3. Trách nhiêm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra :
Căn cứ vào khoản 2 Điều 623 Bộ luật dân sự 2005 và Nghị quyết số
03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật
dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra có thể được áp dụng với các chủ thể sau:
- Chủ sở hữu;
- Người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ;
- Người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ.
Việc xác định ai trong số các chủ thể trên phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể.
Điều 165 Bộ luật dân sự quy định Nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu, theo đó
“Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng
không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích nhà nước, lợi ích công
cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”. Khi có thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra, trước tiên người ta nghĩ đến nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc tôn
trọng và bảo vệ lợi ích chung, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, vì vậy, trách
nhiệm bồi thường trước hết được đặt ra cho chủ sở hữu, trừ trường hợp chủ sở hữu
chứng minh được trách nhiệm thuộc về người khác. Chúng ta có thể xem xét các
trường hợp sau:
12
ra trong các trường hợp khác nhau. Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày
08/07/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một
số quy định của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mặc dù
đã đưa ra được một số ví dụ cụ thể mang tính chất hướng dẫn về vấn đề này nhưng lại
chưa đưa ra được các quy định mang tính chất khái quát chung.
Theo tôi, chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ có thể chuyển giao quyền chiếm
hữu, sử dụng tài sản thông qua hai hình thức sau:
+ Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ chuyển giao nguồn nguy hiểm cao độ
theo nghĩa vụ lao động. Trong trường hợp này, người được chuyển giao nguồn nguy
hiểm cao độ là những người làm công, ăn lương, được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn
nguy hiểm cao độ để thực hiện nhiệm vụ mà người chủ lao động giao cho. Giữa chủ
sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ và người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy
hiểm cao độ có mối quan hệ lao động, được xác lập qua tuyển dụng hoặc ký kết hợp
đồng lao động. Mặc dù người lao động là người đang thực tế chiếm hữu, sử dụng
nguồn nguy hiểm cao độ nhưng hoàn toàn dưới sự quản lý, điều hành của chủ sở hữu
nguồn nguy hiểm cao độ và vì lợi ích của chủ sở hữu nên phải coi đây giống như
trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đang trực tiếp chiếm hữu, sử dụng,
theo đó, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm khi tài sản của mình gây thiệt hại cho người
khác.
Tuy nhiên cũng cần lưu ý một số trường hợp biệt lệ sau:
Thứ nhất: Người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo
nghĩa vụ lao động nhưng thiệt hại xảy ra không phải trong lúc người đó thực hiện
nhiệm vụ mà người sử dụng lao động giao cho thì ai sẽ bồi thường. Ví dụ: Anh A là
lái xe theo hợp đồng của Công ty X, có nhiệm vụ đưa giám đốc đi họp hội nghị. Trong
lúc chờ giám đốc họp, A tranh thủ lái xe đi chơi thăm bạn bè. Xe bị mất lái trong lúc
A điều khiển xe đi chơi dẫn đến gây thiệt hại. Theo tôi, trong trường hợp này, thiệt hại
13
3.2. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ được chuyển giao cho người khác
chiếm hữu, sử dụng theo một giao dịch dân sự.
Chủ sở hữu có thể chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao
độ cho chủ thể khác thông qua hợp đồng: mượn, thuê, cầm cố, gửi giữ… tài sản hoặc
ủy quyền cho người khác quản lý tài sản của mình. Đây là những hợp đồng dân sự
được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, vì vậy sự cam kết thỏa thuận được coi
như pháp luật đối với các bên. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra trước tiên căn cứ vào sự thỏa thuận đó. Trong trường hợp các bên không
có thỏa thuận ai phải chịu trách nhiệm bồi thường thì áp dụng nguyên tắc chung của
pháp luật. Bên mượn, thuê, nhận cầm cố, nhận gửi giữ, được ủy quyền quản lý tài sản
là những người chiếm hữu, sử dụng tài sản có căn cứ pháp luật, vì vậy họ có các
quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định, trong đó có nghĩa vụ trông coi, quản lý nguồn
nguy hiểm cao độ, không để tài sản mình quản lý gây thiệt hại cho người khác.
Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại khi đang thuộc quyền chiếm hữu,
quản lý của họ, họ bị coi là có lỗi trong việc quản lý, sử dụng và phải chịu trách nhiệm
bồi thường.
3.3. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp
luật, Bộ luật dân sự 2005 phân định thành 2 trường hợp.
- Nếu chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ hoàn
toàn không có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái
pháp luật thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ phải
bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Chủ sở hữu, người chiếm hữu
nguồn nguy hiểm cao độ sẽ được giải trừ khỏi trách nhiệm bồi thường nếu họ chứng
minh được đã tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ trong việc bảo quản, trông giữ, vận
chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định của pháp luật.
15
- Thứ hai: Cần phân định cụ thể, rõ ràng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong trường hợp chủ sở hữu đã chuyển giao nguồn
nguy hiểm cao độ cho người khác chiếm hữu, sử dụng, cụ thể là trường hợp chuyển
giao theo quan hệ lao động và chuyển giao theo quan hệ dân sự . Cụ thể:
+ Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ được chuyển giao cho người khác theo
nghĩa vụ lao động: Nếu thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong quá trình
người lao động quản lý, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo nhiệm vụ được giao thì
trách nhiệm bồi thường thuộc về chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ. Nếu người
được giao quản lý, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo nghĩa vụ lao động nhưng lại
sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ vào mục đích khác không theo nhiệm vụ mà gây
thiệt hại thì họ phải tự chịu trách nhiệm.
+ Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ được chuyển giao cho người khác
chiếm hữu, sử dụng theo một giao dịch dân sự. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trước tiên căn cứ vào sự thỏa thuận giữa các bên khi
giao kết hợp đồng. Nếu các bên không có thỏa thuận ai phải chịu trách nhiệm bồi
thường thì áp dụng nguyên tắc chung của pháp luật, bên mượn, thuê, nhận cầm cố,
nhận gửi giữ, được ủy quyền quản lý tài sản là những người chiếm hữu, sử dụng tài
sản có căn cứ pháp luật, vì vậy họ có nghĩa vụ trông coi, quản lý nguồn nguy hiểm cao
độ, không để tài sản mình quản lý gây thiệt hại cho người khác. Trường hợp nguồn
nguy hiểm cao độ gây thiệt hại khi đang thuộc quyền chiếm hữu, quản lý của họ thì họ
phải chịu trách nhiệm bồi thường.
- Thứ ba: Về điều kiện áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra. Hiện nay chưa có quy định nào phân định cụ thể: khi nào áp
dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và khi nào áp dụng trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra dẫn đến có những cách hiểu và áp
dụng không thống nhất trên thực tế. Thực tiễn cho thấy khi xét xử, nhiều trường hợp
cứ thấy thiệt hại có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ là áp dụng trách nhiệm bồi
17
Duy gặp nguy hiểm, hai bạn học đi cùng vội đến kéo Duy ra thì lập tức cũng bị điện
giật, phải kêu cứu.
Nghe tiếng kêu cứu, những người dân gần đó lập tức chạy đến, kịp đẩy hai bạn
học của Duy ra, rồi gọi điện thoại báo cho cơ quan chức năng. Công an phường 2,
quận 5, thành phố Hồ Chí Minh và lực lượng cấp cứu nhanh chóng có mặt nhưng
không ai dám đến gần Duy vì lúc này dòng điện vẫn chưa được cắt. 30 phút sau, nhân
viên của Công ty điện lực và công ty chiếu sáng công cộng thành phố Hồ Chí Minh
mới xuống hiện trường xử lí cắt điện. Lúc này, em Duy đã chết tại chỗ, còn hai bạn
học đi cùng em bị chấn thương, sau khi cấp cứu cả hai bạn đã may thoát chết.
Ngay trong đêm 31/08/2009, các cơ quan chức năng gồm Công an quận 5, Công
ty chiếu sáng công cộng thành phố Hồ Chí Minh và công ty điện lực đã khảo sát hiện
trường. Tại ngã tư nơi xảy ra sự cố có trụ điện chiếu sáng công cộng số 86 thuộc xí
nghiệp chiếu sáng 2 (công ty chiếu sáng công cộng thành phố Hồ Chí Minh), phát hiện
có luồng điện 240V phát ra từ cột đèn chiếu sáng cộng cộng số 86 do hở mạch điện.
Đồng thời do trời mưa lớn, ngập trên diện rộng nên đã làm ngập trụ đèn và dòng điện
từ mạch điện hở đã theo nước làm chết nạn nhân. Tuy nhiên, cũng theo kết quả giám
định tại hiện trường, cột đèn chiếu sáng số 86 có đủ các điều kiện kỹ thuật cần thiết
như : có thiết bị tiếp đất tức là nếu xảy ra sự cố rò, chập điện thì thiết bị này sẽ tác
động lên cầu dao ngắt điện tự động đầu nguồn để cắt nguồn điện.
Ngày 03/09/2009, gia đình nạn nhân em Hà Anh Tuấn đã gửi toàn bộ hồ sơ liên
quan đền vụ việc lên Toà án nhân dân quận 5, thành phố Hồ Chí Minh khởi kiện công
ty chiếu sáng công cộng thành phố Hồ Chí Minh trong việc gây ra cái chết của em Hà
Anh Tuấn. Trong khi đó, ông Trần Trọng Đức – Giám đốc Công ty Chiếu sáng công
cộng thành phố Hồ Chí Minh cho rằng nguyên nhân rò điện là do nước ngập đã thẩm
thấu vào các mối nối của dây điện bên trong hộp trụ đèn khiến bộ phận cách điện mất
tác dụng. Từ đó điện mới bị rò ra ngoài. Theo ông Đức, đây là yếu tố khách quan
không lường trước được nên Công ty chiếu sáng công cộng thành phố Hồ Chí Minh sẽ
chỉ hỗ trợ cho gia đình em Tuấn chứ không có trách nhiệm bồi thường dân sự.
Phân tích và hướng giải quyết vụ việc:
quản lí nguồn nguy hiểm cao độ nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 623 BLDS
1
(5) : Theo khoản 10 Điều 3 Luật Điện lực năm 2004.
20
2005: “ Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì
những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
2
cũng như
theo khoản 3 Điều 623 BLDS 2005: “ Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao
quyền chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi
không có lỗi ...” 3 , thì Công ty chiếu sáng công cộng thành phố Hồ Chí Minh không
thể lấy cớ là trời mưa, nước ngập hay bất kỳ lý do nào khác để thoái thác trách nhiệm
dân sự trong vụ việc này.
Thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ thuộc sự chiếm hữu, sử dụng, quản lí của
Công ty chiếu sáng công cộng thành phố Hồ Chí Minh đã gây ra trong trường hợp này
là thiệt hại về tính mạng em Hà Anh Tuấn. Do đó, căn cứ vào Điều 610 BLDS 2005,
Công ty này phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình em Tuấn chi phí hợp lí cho
việc mai táng, cũng như khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho gia đình em Tuấn.
C. KẾT LUẬN :
Sự phát triển không ngừng của khoa học kĩ thuật cùng những thành tựu mới của
công nghiệp hóa, cơ giới hóa cũng đồng thời kéo theo sự gia tăng thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra. Vì vậy những văn bản, nghị quyết quy định về trách nhiệm
03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006
22