BÌNH LUẬN các QUY ĐỊNH của PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH về GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP - Pdf 52

BÌNH LUẬN CÁC QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ GIẢI
THỂ DOANH NGHIỆP

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, số lượng các doanh nghiệp ra đời trong thời gian gần đây tăng lên một cách
đáng kể, nhu cầu thành lập doanh nghiệp của các chủ đầu tư cũng theo đó mà tăng. Những hoạt động chung của doanh
nghiệp đều được đặt dưới sự quản lý của Nhà nước thông qua pháp luật. Tuy nhiên, trong một giai đoạn nào đó hoặc vì
một số lý do khách quan, doanh nghiệp không thể tiếp tục hoạt động được nữa và có nhu cầu ngừng hoạt động, pháp luật
về doanh nghiệp đã quy định cho phép doanh nghiệp có thể tiến hành giải thể. Luật Doanh nghiệp 2005 đã có những quy
định cụ thể về trình tự và thủ tục về giải thể doanh nghiệp. Để tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này, em đã chọn đề tài: “Bình
luận các quy định của pháp luật hiện hành về giải thể doanh nghiệp”.

I – CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ
DOANH NGHIỆP
Giải thể doanh nghiệp là việc chấm dứt sự tồn tại, hoạt động của doanh
nghiệp thông qua việc doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu doanh nghiệp chủ động thực
hiện thanh lý tài sản, thanh toán các khoản nợ và xóa tên doanh nghiệp tại cơ quan


-

-

đăng ký kinh doanh. Giải thể doanh nghiệp trước hết là quyền của các thành viên
doanh nghiệp. Mặt khác doanh nghiệp còn bị giải thể trong những trường hợp do
pháp luật quy định. Việc tiến hành giải thể doanh nghiệp sẽ được tiến hành bởi các chủ
thể sau:
Chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân đối với doanh nghiệp tư nhân
Hội đồng thành viên công ty hợp danh đối với công ty hợp danh
- Hội đồng thành viên công ty TNHH, chủ sở hữu công ty TNHH một
thành viên đối với công ty TNHH

Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo
quy định của Luật này trong thời hạn sáu tháng liên tục:
Có đủ số lượng thành viên tối thiểu là một trong những điều
kiện pháp lí để công ti tồn tại và hoạt động. Pháp luật quy định số
lượng thành viên tối thiểu cho mỗi loại hình công ti là khác nhau.
Khi không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu, để tiếp tục tồn tại,
công ti phải kết nạp thêm các thành viên cho đủ số lượng tối
thiểu. Thời hạn để công ti thực hiện việc kết nạp thêm thành viên
là 6 tháng kể từ ngày công ti không còn đủ số lượng thành viên tối
thiểu. Nếu công ti không kết nạp thêm thành viên, dẫn đến công
ti tồn tại không đủ số lượng thành viên tối thiểu trong 6 tháng liên
tục thì công ti phải giải thể.
-

Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh:
Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh là căn cứ pháp lí không thể thiếu cho sự
tồn tại và hoạt động của các doanh nghiệp nói chung, công ti nói riêng. Khi công ti
kinh doanh vi phạm các quy định của pháp luật và bị thu hồi giấy chứng nhận đăng
kí kinh doanh thì công ti không thể tiếp tục tồn tại, hoạt động. Trong những trường
hợp này công ti phải giải thể theo yêu cầu của cơ quan đăng kí kinh doanh theo
khoản 2 điều 165 Luật Doanh nghiệp.
Các quy định về giải thể doanh nghiệp không chỉ tạo cơ sở pháp lý để chấm
dứt sự tồn tại của doanh nghiệp mà còn bảo vệ quyền lợi của những chủ thể có liên
quan, đặc biệt là quyền lợi của chủ nợ và người lao động khi doanh nghiệp chấm
dứt tồn tại. Vấn đề quan trọng nhất trong giải thể doanh nghiệp là giải quyết được
các khoản nợ và các hợp đồng doanh nghiệp đã giao kết trước khi chấm dứt tồn tại.
Khoản 2 Điều 157 quy định: “Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo
đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác”. Pháp
luật không quy định cụ thể việc bảo đảm thanh toán có thể thực hiện như thế nào
song về lí thuyết có thể áp dụng 2 cách thức đảm bảo sau:

thể đến cơ quan đăng kí kinh doanh, chủ nợ, người lao động người có quyền, nghĩa
vụ và công khai quyết định này.
Pháp luật hiện hành quy định: quyết định giải thể phải được gửi đến cơ quan
đăng kí kinh doanh, đến tất cả các chủ nợ (kèm theo thông báo về phương án giải
quyết nợ), người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích liên quan, người lao động trong
doanh nghiệp, trong thời hạn bảy ngày làm việc kể từ ngày thông qua. Việc thông
báo phải nêu rõ tên, địa chỉ của chủ nợ; số nợ, thời hạn, địa điểm và phương thức
thanh toán số nợ đó; cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại của chủ nợ. Ngoài
ra quyết định giải thể phải được niêm yết công khai tại trụ sở chính của công ty và
phải đăng ít nhất trên một tờ báo hoặc báo điện tử trong 3 số liên tiếp (khoản 3
Điều 158 Luật doanh nghiệp).
*Tổ chức thanh lý tài sản và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp:
Thanh lý tài sản và thanh toán các khoản nợ là vấn đề quan trọng, chủ yếu của
doanh nghiệp giải thể. Khoản 2 Điều 158 quy định: “Chủ doanh nghiệp tư
nhân, hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty, hội đồng
quản trị trực tiếp tổ chức thanh lí tài sản của doanh nghiệp trừ
trường hợp điều lệ công ti quy định thành lập tổ chức thanh lí
riêng”. Việc thanh toán các khoản nợ khá phức tạp vì liên quan đến quyền lợi của
nhiều người, do đó cần tiến hành theo trình tự thủ tục nhất định. Khoản 4 Điều 158
Luật doanh nghiệp quy định thứ tự thanh toán các khoản nợ như sau:
a) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của
pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập
thể và hợp đồng lao động đã ký kết;


b) Nợ thuế và các khoản nợ khác.
Trong quan hệ lao động với người sử dụng lao động (doanh nghiệp), quyền
lợi của người lao động luôn được pháp luật quan tâm và chú trọng, vì vậy trong
quá trình thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp khi giải thể, pháp luật cũng ưu
tiên các khoản nợ đối với người lao động (khoản a) được thực hiện thanh toán

thể liên quan đến giải thể doanh nghiệp
Việc đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan đến việc giải thể
doanh nghiệp được thực hiện bằng hai quy định chính: cấm doanh nghiệp thực hiện
một số hành vi nhất định và trách nhiệm của người quản lí doanh nghiệp bị giải
thể.


-

Về các hoạt động bị cấm khi giải thể doanh nghiệp:
Điều 159 Luật Doanh nghiệp quy định: Kể từ khi có quyết định
giải thể doanh nghiệp, nghiêm cấm doanh nghiệp, người quản lý
doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sau đây:
1. Cất giấu, tẩu tán tài sản;
2. Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ;
3. Chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành các khoản
nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp;
4. Ký kết hợp đồng mới không phải là hợp đồng nhằm thực
hiện giải thể doanh nghiệp;
5. Cầm cố, thế chấp, tặng cho, cho thuê tài sản;
6. Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực;
7. Huy động vốn dưới mọi hình thức khác.
Có thể thấy, đây là một điều luật mới so với Luật Doanh
nghiệp 1999. Điều 159 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định như vậy
là để bảo vệ lợi ích của chủ nợ, khách hàng và người tiêu dùng.
- Trách nhiệm của người quản lí doanh nghiệp bị giải thể:
Điều 40, 41 Nghị định 102/2010/NĐ-CP quy định về trách nhiệm của người
quản lí doanh nghiệp khi bị giải thể, theo đó:
+ Thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần, thành viên Hội đồng
thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu công ty, chủ doanh nghiệp tư

108/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư), quyết định tuyên bố giải
thể doanh nghiệp (khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 40 Nghị định số 102/2010/NĐCP).
- Trọng tài có thẩm quyền quyết định chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư do
vi phạm pháp luật (khoản 4 Điều 65 Luật đầu tư và khoản 3 Điều 68 Nghị định
số108/2006/NĐ-CP).

II – THỰC TRẠNG TRONG VIỆC ÁP DỤNG CÁC QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH
NGHIỆP
[1] Ước tính trong năm 2013, số doanh nghiệp gặp khó khăn
phải giải thể hoặc ngừng hoạt động là 60.737, tăng 11.9% so với
năm 2012, trong đó số doanh nghiệp đã giải thể là 9818 doanh
nghiệp, tăng 4,9%. Theo thống kê, trong số 24 doanh nghiệp có
100% vốn nhà nước ngừng hoạt động thì tỷ lệ doanh nghiệp chờ
giải thể, phá sản là 41,7%. Trong số 15 doanh nghiệp có vốn nhà
nước trên 50% ngừng hoạt động, tỷ lệ doanh nghiệp chờ giải thể,
phá sản và chờ sắp xếp lại cùng chiếm 40%, còn lại là nguyên
nhân khác.Trong số các doanh nghiệp ngừng hoạt động, số doanh
nghiệp chờ giải thể, phá sản chiếm tỷ lệ cao nhất với 41%.
Về cơ cấu theo địa bàn, các doanh nghiệp gặp khó khăn phải
ngừng hoạt động vẫn tập trung chủ yếu tại các địa bàn truyền
thống ở các thành phố lớn như TP.HCM, Hà Nội, Hải Phòng, Đà
Nẵng... và ở nhiều tỉnh thành khác. Về ngành nghề và lĩnh vực
kinh doanh, đa số các lĩnh vực kinh doanh đều có số doanh
nghiệp phải dừng hoạt động gia tăng, nhiều nhất là ở lĩnh vực bất


động sản và chứng khoán; ngoài ra còn ở một số lĩnh vực khác
như xây dựng, công nghiệp chế biến, dịch vụ việc làm, du lịch, …
[2] Theo thống kê mới nhất, trong quý I năm 2014 đã có hơn

- Về quy định về giấy tờ phải có trong hồ sơ giải thể nên sửa đổi theo hướng
bỏ quy định liên quan đến giấy tờ chứng minh doanh nghiệp đã thanh toán hết các
khoản nợ, thay vào đó là quy định về các giấy tờ chứng minh cách thức "đảm bảo
thanh toán" đã được thống nhất giữa chủ nợ và doanh nghiệp bị giải thể .
- Nên bổ sung khoản 3 Điều 158 Luật doanh nghiệp và Điều 40 NĐ
102/2010/NĐ-CP nội dung về trách nhiệm của cơ quan đăng ký kinh doanh khi
doanh nghiệp giải thể như sau: “Kể từ khi cơ quan đăng ký kinh doanh
nhận được quyết định giải thể của doanh nghiệp gửi tới, nếu
doanh nghiệp gửi văn bản yêu cầu giúp đỡ thì cơ quan đăng ký
kinh doanh phải có trách nhiệm phối hợp giải quyết các vấn đề
liên quan đến thủ tục giải thể mà doanh nghiệp gặp khó khăn.
Nếu cơ quanđăng ký kinh doanh không thực hiện nhiệm vụ trên
thì phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi
thường cho doanh nghiệp nếu gây ra thiệt hại do việc không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng trách nhiệm của mình.”
- Cần sửa đổi Luật Doanh nghiệp 2005 theo hướng tăng chế tài xử phạt. Cụ
thể, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không thực hiện đăng ký
ngừng hoạt động hoặc phá sản, giải thể, có mức nợ thuế Nhà nước lớn sẽ không
được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp cho đến khi tuân thủ quy định.
- Cần ban hành quy định hướng dẫn chi tiết và cụ thể khâu đóng mã số thuế
để việc giải thể được nhanh chóng không ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh tiếp
theo.


các thủ tục, quy trình về giải thể doanh nghiệp để khuyến
khích các doanh nghiệp vì một lý do nào đó mà không hoạt động nữa sẽ tiến hành
thủ tục giải thể. Bởi nếu thủ tục quá phức tạp, doanh nghiệp sẵn sàng “biến mất”
mà không cần thông qua thủ tục giải thể, khi đó việc bảo vệ quyền lợi của các chủ
thể có liên quan sẽ trở nên khó khăn hơn.
-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status