A. MỞ ĐẦU
Khi một cá nhân tố cáo một ai đó nhằm bảo vệ lợi ích của chính mình hay
lợi ích của người khác, rất có thể họ sẽ đối mặt với những đe dọa, thách thức. Vì
vậy để bảo vệ cho người tố cáo pháp luật đã có những quy định cụ thể. Để tìm
hiểu những quy định này em xin chọn đề tài số 4 : “Phân tích các quy định của
pháp luật hiện hành về bảo vệ người tố cáo và nêu ý nghĩa của các quy định
này”.
B. NỘI DUNG
I. Khái niệm tố cáo
1. Khái niệm
Quyền tố cáo của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp, luật tố cái và
nhiều văn bản pháp luật khác. Khái niệm tố cáo được hiểu dưới nhiều góc độ
khác nhau, dưới góc độ pháp lý, theo Điều 2 của Luật tố cáo 2011 thì tố cáo
được quy định: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo
cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật
của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại
lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.”
Theo đó tố cáo được chia thành làm 2 loại: Tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật của cán bộ công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; Tố cáo
hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.
2. Yêu cầu thực tiễn phải bảo vệ người cáo
Hiện nay công dân đã chủ động, tích cực thực hiện quyền tố cáo, số lượng
đơn thư tố cáo của công dân có chiều hướng gia tăng. Tuy nhiên, bên cạnh
những kết quả đạt được, còn nhiều vấn đề đặt ra trong việc thực hiện quyền tố
cáo của công dân. Thực tế cũng phản ánh còn nhiều hiện tượng “mũ ni che tai”,
không phản ánh, tố cáo những vi phạm pháp luật khi những vi phạm đó không
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của mình vì sợ liên lụy đến bản thân. Thậm
chí có nhiều vụ việc vi phạm pháp luật trực tiếp xâm phạm đến quyền và lợi ích
hợp pháp của mình nhưng công dân cũng không dám tố cáo vì đối tượng sử dụng
Bên cạnh đó Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sug năm 2009 cũng ghi
nhận chế tài đối với những người xâm pham quyền khiếu nại tố cáo tại Điều 132.
Điều 34 của Luật tố cáo 2011 quy định việc bảo vệ người tố cáo được thực
hiện tại tất cả những nơi có thể ảnh hưởng đến người tố cáo, bao gồm: nơi cư trú,
công tác, làm việc, học tập, nơi có tài sản của người cần được bảo vệ hoặc những
nơi khác do cơ quan có thẩm quyền quy định. Cũng theo quy định của Điều này,
đối tượng bảo vệ không chỉ có người tố cáo mà còn cả những người thân thích
của người tố cáo như vợ hoặc chồng, con cái, bố mẹ, anh em ruột thịt...; thời hạn
bảo vệ do cơ quan có thẩm quyền quyết định tuỳ thuộc vào tình hình thực tế của
từng vụ việc, mức độ, tính chất của hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp
pháp của đối tượng cần được bảo vệ. Luật xác định trách nhiệm chính trong việc
bảo vệ người tố cáo thuộc về người giải quyết tố cáo; đồng thời, cũng quy định
rõ quyền và nghĩa vụ của người tố cáo được bảo vệ và các nội dung cơ bản về
bảo vệ người tố cáo như bảo vệ bí mật thông tin; bảo vệ tại nơi công tác, nơi làm
việc, nơi cư trú; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín
của người tố cáo. Triển khai chế định này của Luật, ngày 03/10/2012, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 76/2012/NĐ-CP (có hiệu lực thi hành ngày
20/11/2012) quy định các biện pháp bảo vệ người tố cáo và trách nhiệm của cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc bảo vệ người tố cáo, bao gồm,
các nội dung rất cụ thể như sau:
1. Về trách nhiệm bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo của cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc cung cấp thông tin, tài
liệu, phối hợp giải quyết tố cáo, thi hành quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp
luật bị tố cáo có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết, phù hợp để bảo vệ
bí mật thông tin cho người tố cáo.
2. Về bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo trong quá trình tiếp nhận,
thụ lý, giải quyết tố cáo
- Khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo đã bị xâm phạm;
- Xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với người có hành vi xâm phạm đến quyền và
lợi ích hợp pháp của người tố cáo;
- Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật.
4. Người tố cáo được giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin
cá nhân khác của mình
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải có trách nhiệm bảo đảm bí
mật cho người tố cáo trong tất cả các khâu từ tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo;
xác minh, kết luận xử lý tố cáo, thậm chí, ngay cả khi công khai kết luận nội
dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo. Khi tiếp nhận tố cáo, thụ
lý giải quyết tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải nghiên cứu,
xác định nội dung vụ việc, những thông tin nếu tiết lộ sẽ gây bất lợi cho người tố
cáo để áp dụng biện pháp phù hợp nhằm giữ bí mật thông tin cho người tố cáo.
Trường hợp cần thiết có thể lược bỏ họ tên, địa chỉ, bút tích, các thông tin cá
nhân khác của người tố cáo ra khỏi đơn tố cáo và các tài liệu, chứng cứ kèm
theo, đồng thời lưu trữ và quản lý thông tin về người tố cáo theo chế độ thông tin
mật.
Trong quá trình giải quyết tố cáo, nếu có yêu cầu làm việc trực tiếp với
người tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, người giải quyết tố cáo phải
bố trí thời gian, địa điểm và lựa chọn phương thức làm việc phù hợp để bảo vệ bí
mật thông tin cho người tố cáo. Trường hợp phát hiện người không có thẩm
quyền có hành vi thu thập thông tin về người tố cáo, người giải quyết tố cáo có
trách nhiệm áp dụng biện pháp theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm
quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn hoặc xử lý đối với người có hành vi vi
phạm.
5. Về bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người tố cáo và người thân thích của
người tố cáo
Trường hợp xác định hành vi xâm hại người được bảo vệ đang diễn ra
người thân thích của mình thì có quyền yêu cầu người giải quyết tố cáo hoặc cơ
quan công an áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết.
Trường hợp đề nghị của người tố cáo là chính đáng, có căn cứ thì người giải
quyết tố cáo hoặc cơ quan công an kịp thời áp dụng các biện pháp hoặc đề nghị
cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp để bảo vệ.
Việc quy định người tố cáo phải có văn bản yêu cầu bảo vệ áp dụng trong trường
hợp họ có căn cứ cho rằng việc tố cáo có thể gây nguy hại đến tính mạng, sức
khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình hoặc người thân thích của
mình. Trường hợp khẩn cấp để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người tố cáo và
người thân thích của người tố cáo, người tố cáo có thể yêu cầu trực tiếp bằng
miệng hoặc thông qua các phương tiện thông tin khác nhưng sau đó phải thể hiện
ngay bằng văn bản. Đây cũng là cơ sở để các cơ quan xác định các biện pháp bảo
vệ phù hợp, bảo đảm tính khả thi trên thực tiễn.
Nghị định số 76/2012/NĐ-CP cũng quy định cụ thể việc áp dụng các biện pháp
để bảo vệ tính mạng, sức khỏe; bảo vệ tài sản; bảo vệ uy tín, danh dự, nhân phẩm
và các quyền nhân thân khác của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo
Trường hợp yêu cầu của người tố cáo là chính đáng thì người giải quyết tố
cáo hoặc cơ quan công an kịp thời áp dụng các biện pháp hoặc đề nghị cơ quan
có thẩm quyền áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ người tố cáo và người
thân thích của họ: bố trí nơi tạm lánh khi người tố cáo, người thân thích của họ
có nguy cơ bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe; Bố trí lực lượng, phương tiện,
công cụ để trực tiếp bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân
phẩm, uy tín cho người tố cáo và người thân thích của họ tại nơi cần thiết. Ngoài
ra cơ uan công an còn có ttheer áp dụng biện pháp ngăn chặn, xử lý hành vi xâm
hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm,
uy tín của người tố cáo và người thân thích của người tố cáo theo quy định của
pháp luật.
7. Về bảo vệ vị trí công tác, việc làm của người tố cáo, người thân thích
Việc pháp luật tố cáo quy định như trên đã góp phần làm rõ trách nhiệm
của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tố cáo của công dân.
Tạo cơ sở, tạo niềm tin, động lực cho những người tố cáo, họ biết rằng
không chỉ bản thân người tố cáo mà ngay cả người thân trong gia đình cũng
được pháp luật bảo vệ, và họ sẽ được giữ bí mật thông tin cá nhân của mình khi
tố cáo.
C. KẾT LUẬN
Từ những phân tích như trên ta có thể thấy rằng pháp luật luôn dõi theo và
bảo vệ người tố cáo. Đồng thời nói lên mọi công dân khi tố cáo hành vi vi phạm
pháp luật sẽ được khích lệ, họ sẽ bảo vệ được lợi ích của chính mình cũng như
lợi ích xã hội.
Trên đây là kết quả bài tập học kì của em. Với vốn kiến thức
vẫn còn hạn chế nên bài làm của em có thể còn nhiều sai sót.
Em rất mong nhận được sự góp ý từ phía thầy cô để bài làm
được hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
•
Hiến pháp năm 2013
•
Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009
•
Luật Tố cáo năm 2011