MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................................1
NỘI DUNG...............................................................................................................1
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỐ CÁO VÀ BẢO VỆ NGƯỜI TỐ CÁO..........1
1. Khái niệm tố cáo...........................................................................................1
2. Thực trạng.....................................................................................................2
II. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TỐ
CÁO.......................................................................................................................3
III.
Ý NGHĨA CỦA CÁC QUY ĐỊNH TRÊN....................................................9
IV.
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN BẢO VỆ
NGƯỜI TỐ CÁO TRÊN THỰC TẾ......................................................................9
KẾT LUẬN.............................................................................................................10
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................11
MỞ ĐẦU
Tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận tại Hiến
pháp, là một trong những công cụ quan trọng để công dân đấu tranh chống các hiện
tượng tiêu cực, giúp nhà nước phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Để
công dân thực hiện tốt quyền tố cáo của mình, thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta
đã có nhiều nỗ lực trong việc ban hành văn bản quy định về tố cáo, giải quyết và
bảo vệ người tố cáo như Luật Tố cáo, Bộ Luật hình sự, Luật Phòng, chống tham
nhũng,...Tuy nhiên, quy định của pháp luật còn có những hạn chế. Nhiều trường
hợp, người tố cáo bị trả thù, trù dập nhưng không được các cơ quan nhà nước bảo
vệ hoặc các biện pháp bảo vệ chưa thực sự mang lại hiệu quả như yêu cầu. Những
Điều 30 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Mọi người có quyền khiếu nại, tố
cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật
của cơ quan, tổ chức, cá nhân; 2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải
tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi
thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật; 3.
Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố
cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”. Như vậy, Hiến pháp không chỉ tuyên
bố về quyền tố cáo của công dân mà còn có những quy định bảo đảm thực hiện
quyền này, khẳng định ý chí của Nhà nước trong việc xử lý những người có hành
vi cản trở việc thực hiện quyền tố cáo, trả thù người tố cáo. Ngoài ra, Điều 166
BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 của nước ta quy định về những mức hình
phạt đối với các hành vi cản trở việc khiếu nại, tố cáo, trả thù người khiếu nại, tố
cáo.
Luật tố cáo, lần đầu tiên được Quốc hội thông qua ngày 11/11/2011, có hiệu lực
thi hành ngày 01/7/2012 đã dành Chương V: từ Điều 34 đến Điều 40 để quy định
về bảo vệ người tố cáo. Trong đó, Điều 34 của Luật quy định việc bảo vệ người tố
3
cáo được thực hiện tại tất cả những nơi có thể ảnh hưởng đến người tố cáo, bao
gồm: nơi cư trú, công tác, làm việc, học tập, nơi có tài sản của người cần được bảo
vệ hoặc những nơi khác do cơ quan có thẩm quyền quy định. Cũng theo quy định
của Điều này, đối tượng bảo vệ không chỉ có người tố cáo mà còn cả những người
thân thích của người tố cáo như vợ hoặc chồng, con cái, bố mẹ, anh em ruột thịt...;
thời hạn bảo vệ do cơ quan có thẩm quyền quyết định tuỳ thuộc vào tình hình thực
tế của từng vụ việc, mức độ, tính chất của hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích
hợp pháp của đối tượng cần được bảo vệ. Triển khai chế định này của Luật, ngày
03/10/2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 76/2012/NĐ-CP (có hiệu lực thi
hành ngày 20/11/2012) quy định các biện pháp bảo vệ người tố cáo và trách nhiệm
của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc bảo vệ người tố cáo, bao
Luật tố cáo quy định: người tố cáo được bảo đảm vị trí công tác, không bị phân
biệt đối xử về việc làm dưới mọi hình thức, không được trả thù, trù dập, đe doạ,
làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo.
- Trường hợp người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức có căn cứ cho rằng
người có thẩm quyền quản lý, sử dụng có hành vi trù dập, phân biệt đối xử hoặc
thuyên chuyển công tác dẫn đến giảm thu nhập, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích
hợp pháp của mình thì có quyền yêu cầu bằng văn bản người đã giải quyết tố cáo
hoặc người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền quản lý,
sử dụng mình có biện pháp xem xét, xử lý đối với người có hành vi đó. Chậm nhất
là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu bảo vệ, người giải quyết
tố cáo có trách nhiệm kiểm tra, xác minh. Khi có căn cứ cho rằng yêu cầu của
5
người tố cáo là chính đáng, người giải quyết tố cáo phải áp dụng các biện pháp
theo thẩm quyền:
- Xử lý kịp thời người có hành vi trả thù, trù dập, đe dọa làm ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo;
- Thuyên chuyển công tác của người được bảo vệ sang cơ quan, tổ chức, đơn vị
khác nếu có sự đồng ý của họ để tránh bị trù dập, phân biệt đối xử;
- Ra quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử
lý theo quy định của pháp luật đối với người có hành vi trả thù, trù dập, đe dọa làm
ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ. Trường hợp
người tố cáo là người làm việc theo hợp đồng lao động mà không phải là viên
chức: có quyền yêu cầu bằng văn bản với tổ chức công đoàn cơ sở, cơ quan quản
lý lao động hoặc cơ quan có thẩm quyền khác ở địa phương có biện pháp bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chậm nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được đơn yêu cầu bảo vệ, người có thẩm quyền bảo vệ có trách nhiệm kiểm
tra, xác minh. Trường hợp yêu cầu của người tố cáo là chính đáng thì người có
an toàn.
Khi đã ngăn chặn được hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người
được bảo vệ, tùy theo từng trường hợp cụ thể, người có thẩm quyền giải quyết tố
cáo chỉ đạo, phối hợp với cơ quan công an nơi người được bảo vệ cư trú, làm việc,
học tập hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền áp dụng các biện pháp:
xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền xử lý đối với người có
7
hành vi xâm hại; trường hợp xác định việc xâm phạm tính mạng, sức khỏe của
người được bảo vệ có nguy cơ tái diễn thì ra quyết định bảo vệ và xây dựng kế
hoạch bảo vệ.
Căn cứ vào tính chất, mức độ và khả năng xảy ra trên thực tế của hành vi xâm
hại đến tính mạng, sức khỏe của người được bảo vệ, cơ quan ra quyết định bảo vệ
xem xét, áp dụng các biện pháp: bố trí nơi tạm lánh khi người tố cáo, người thân
thích của họ có nguy cơ bị xâm phạm đến tín mạng, sức khỏe; bố trí lực lượng,
phương tiện, công cụ để trực tiếp bảo vệ; hạn chế phạm vi đi lại, quan hệ giao tiếp,
thăm gặp, làm việc, học tập của người được bảo vệ trong một thời hạn nhất định; di
chuyển và giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập của người được bảo vệ; xử lý
hành chính hoặc kiến nghị xử lý hình sự đối với hành vi tấn công, xâm hại hoặc đe
dọa tấn công, xâm hại; áp dụng các biện pháp hành chính khác nhằm ngăn chặn
hành vi tấn công, xâm hại hoặc đe dọa tấn công xâm hại người được bảo vệ; thay
đổi tung tích, lai lịch, đặc điểm nhân thân, nhân dạng của người được bảo vệ.
- Bảo vệ tài sản:Trường hợp xác định hành vi xâm hại tài sản đang xảy ra
hoặc có thể xảy ra ngay tức khắc, tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành
vi xâm hại, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo chỉ đạo, phối hợp với cơ quan
công an nơi có tài sản hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền thực
hiện biện pháp bảo vệ. Khi đã ngăn chặn được hành vi xâm hại, người có thẩm
quyền giải quyết tố cáo theo thẩm quyền hoặc chỉ đạo, phối hợp với cơ quan công
Ý NGHĨA CỦA CÁC QUY ĐỊNH TRÊN
9
- Khuyến khích, động viên người dân dũng cảm đấu tranh chống lại các hành
vi vi phạm pháp luật, giúp các cơ quan nhà nước phát hiện và xử lý kịp thời,
nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật. Bảo vệ người tố cáo thể hiện bản chất
của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do nhân và vì
nhân.
- Thực tế rất nhiều hành vi tham nhũng, tiêu cực của những người có chức vụ,
quyền hạn được phát hiện thông qua việc tố cáo của quần chúng và báo chí mà
không phải qua các cơ quan có thẩm quyền. Như vậy, chúng ta cần tuyên truyền,
động viên, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện đúng
quyền tố cáo, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà cuộc đấu tranh chống tham
nhũng đang là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách của Đảng và Nhà
nước.
IV.
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN BẢO
VỆ NGƯỜI TỐ CÁO TRÊN THỰC TẾ
- Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật về bảo vệ người tố cáo và
người thân thích của người tố cáo: Một số nội dung cần được làm rõ hơn, phải
nghiên cứu, bổ sung những quy định cụ thể nhằm thực hiện hiệu quả các biện pháp
bảo vệ người tố cáo và hỗ trợ người tố cáo về kinh tế khi thay đổi nơi cư trú, thay
đổi công việc…; cần đảm bảo kinh phí thực hiện các biện pháp bảo vệ người tố
cáo, hoàn thiện quy chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách
nhiệm.
phải tiếp tục được hoàn thiện và sát thực tế hơn nữa. Về lí thuyết, pháp luật đã có
những quy định về việc bảo vệ người tố cáo và hiện nay còn cần cả sự thực hiện
nghiêm túc từ các cơ quan địa phương, chính quyền nhân dân để hoạt động này
được triển khai hiệu quả, tốt đẹp, tạo lòng tin tưởng cho nhân dân.
11
12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Thanh tra và giải quyết
khiếu nại, tố cáo, Nxb CAND;
2. Nghị định của Chính phủ số 76/2012/NĐ-CP ngày 3/10/2012 quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo;
3. Luật tố cáo năm 2011;
4. Hiến pháp năm 2103;
5.
6.
Bộ Tư Pháp: Nghiên cứu trao đổi: Pháp luật về bảo vệ người tố cáo hiện
nay
và
một
số
kiến
ngh,
năm