LỜI MỞ ĐẦU
Ở mỗi thời kì, mỗi quốc gia khác nhau,pháp luật có những biểu hiện và phát
triển khác nhau. Pháp luật Việt nam được xây dựng trên nguyên tắc bảo vệ tốt nhất có
thể các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đặc biệt khi nền kinh tế chuyển tư
cơ chế quản lí tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, có sự điều tiết
của Nhà nước theo định hướng XHCN, thì kinh doanh, thương mại ngày càng phát
triển, nhu cầu phải được pháp luật điều chỉnh nói chung và nhất là đối với lĩnh vực
kinh doanh nói riêng thông qua các quy định của pháp luật với những chế tài hữu
hiệu ngày càng trở nên cấp thiết. Quyền tự do kinh doanh của công dân phải được
dựa trên khuôn khổ của pháp luật. Một cá nhân chỉ được phép kinh doanh khi đáp
ứng được những yêu cầu nhất định. Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào về
điều kiện kinh doanh ? Đây chính là lí do em chọn đề tài: “Tìm hiểu quy định pháp
luật hiện hành về điều kiện kinh doanh và chứng chỉ hành nghề. Phân tích điều
kiện kinh doanh hoặc chứng chỉ hành nghề trong một lĩnh vực kinh doanh cụ thể”
Với trình độ hiểu biết và kiến thức còn hạn chế, bài làm của em không tránh khỏi
những thiếu sót, kính mong thầy cô quan tâm chỉ bảo để bài làm của em có thể hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ ĐIỀU KIỆN KINH
DOANH VÀ CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ.
1. Điều kiện kinh doanh
Điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp cần phải có hoặc phải thực
hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng “giấy phép kinh doanh,
giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo
hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, xác nhận vốn pháp định, chấp nhận khác của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền hoặc các yêu cầu khác mà doanh nghiệp phải thực hiện
hoặc phải có mới được quyền kinh doanh ngành nghề đó mà không cần xác nhận,
chấp thuận dưới bất kì hình thức nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.( Điều 8
Nghị định 102/2010/ NĐ-CP Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của
Luật Doanh nghiệp sau đây gọi tắt là Nghị định 102/2010/NĐ-CP). Trong bài làm
xin phép, cấp phép và sau đó trên cơ sở GPKD tiến hành kinh doanh một số ngành
nghề đã quy định trong giấy phép.
- Về thời hạn của GPKD: Thời hạn của nhiều loại GPKD hiện nay rất khác nhau.
Tùy vào tính chất ngành nghề mà thời hạn pháp luật quy định là khác nhau.
2
- Về thủ tục, trình tự cấp GPKD: Bao gồm tất cả các điều kiện, yêu cầu, đòi hỏi
chủ thể kinh doanh phải đáp ứng để có được giấy phép.
Những nội dung cơ bản trên đây là cần thiết để đảm bảo một hệ thống pháp luật
về GPKD đầy đủ, toàn diện và đạt được những mục tiêu đề ra. Đó là những nội dung
cần áp dụng khi tiến hành tham vấn, lấy ý kiến, rà soát hoặc đánh giá tính hợp pháp,
hợp lí của các quy định pháp luật về GPKD.
Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã đánh dấu những thay đổi tiến bộ trong hoạt động
quản lí và cải cách hệ thống GPKD, qua việc quy định các Bộ, Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân các cấp không được ban hành GPKD (khoản 5 Điều 7 Luật Doanh
nghiệp 2005); hàng năm, Chính phủ rà soát, đánh giá lại toàn bộ hoặc một phần các
điều kiện kinh doanh, bãi bỏ hoặc kiến nghị các điều kiện không còn phù hợp( Khoản
4 Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2005).
1.2.Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh
Trước khi được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thì đòi hỏi DN
phải có giấy chứng nhận ĐKKD. Một DN được cấp giấy chứng nhận ĐKKD khi đáp
ứng đầy đủ các yêu cầu quy định tại Điều 24 Luật Doanh nghiệp năm 2005 đó là:
- Ngành, nghề đăng ký kinh doanh không thuộc lĩnh vực cấm kinh doanh.
Taị khoản 3 điều 7, Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định “Cấm hoạt động
kinh doanh gây phương hại đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, truyền
thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam và sức khoẻ của nhân
dân, làm huỷ hoại tài nguyên, phá huỷ môi trường”. Nghị định số 102/2010/NĐ-CP
đã cụ thể hóa quy định này bằng việc ban hành danh mục ngành nghề cấm kinh
doanh tại Điều 7 của Nghị định này
thành viên có quy định khác.
2. Ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề và điều kiện cấp chứng
chỉ hành nghề tương ứng áp dụng theo quy định của pháp luật chuyên ngành có liên
quan.
3. Đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề phải có chứng chỉ hành nghề
theo quy định của pháp luật, việc đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký bổ sung ngành,
nghề kinh doanh đó phải thực hiện theo quy định dưới đây:
a) Đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật yêu cầu Giám
đốc doanh nghiệp hoặc người đứng đầu cơ sở kinh doanh phải có chứng chỉ hành
nghề, Giám đốc của doanh nghiệp hoặc người đứng đầu cơ sở kinh doanh đó phải có
chứng chỉ hành nghề.
b) Đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật yêu cầu Giám
đốc và người khác phải có chứng chỉ hành nghề, Giám đốc của doanh nghiệp đó và
4
ít nhất một cán bộ chuyên môn theo quy định của pháp luật chuyên ngành đó phải có
chứng chỉ hành nghề.
c) Đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật không yêu cầu
Giám đốc hoặc người đứng đầu cơ sở kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề, ít
nhất một cán bộ chuyên môn theo quy định của pháp luật chuyên ngành đó phải có
chứng chỉ hành nghề”.
Ta sẽ tìm hiểu kĩ hơn về chứng chỉ hành nghề cũng như danh mục những ngành,
nghề đòi hỏi phải có chứng chỉ hành nghề trước khi ĐKKD ở phần sau.
1.4.Chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp - bảo hiểm trách nhiệm pháp lý của ngưòi
được bảo hiểm phát sinh do việc vi phạm trách nhiệm nghề nghiệp. Doanh nghiệp
bảo hiểm cung cấp sự bảo đảm về mặt tài chính cho các cá nhân, tổ chức, công ty
hành nghề chuyên môn đối với trách nhiệm dân sự phát sinh tư việc hành nghề
chuyên môn (có thể do hành động hoặc thiếu sót của người chịu trách nhiệm chuyên
kinh doanh phải có vốn pháp định, mức vốn pháp định cụ thể, cơ quan có thẩm quyền
quản lí nhà nước về vốn pháp định, hồ sơ, điều kiện và cách thức xác nhận vốn pháp
định áp dụng theo các quy định của pháp luật chuyên ngành. Đối với ĐKKD thành
lập DN kinh doanh ngành nghề phải có vốn pháp định, trong hồ sơ ĐKKD phải có
thêm xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận vốn pháp định. Còn
“Trường hợp bổ sung, thay đổi ngành, nghề kinh doanh phải có vốn pháp định thì
phải có thêm văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan có thẩm quyền.”(Điều 34
Nghị định số 43/2010/NĐ-CP). Tuy nhiên Điều 10 Nghị định 102/2010/ NĐ- CP
cũng quy định thêm “đối với doanh nghiệp đăng kí bổ sung ngành nghề phải có vốn
pháp định thì không yêu cầu phải có thêm xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền xác nhận vốn pháp định nếu vốn chủ sở hữu được ghi trong bảng tổng kết tài
sản của doanh nghiệp tại thời điểm không quá 03 tháng, kể từ ngày nộp hồ sơ lớn
hơn hoặc bằng mức vốn pháp định theo quy định” . Ngòai ra, DN phải đảm bảo mức
vốn điều lệ thực tế không thấp hơn mức vốn pháp định đã được xác nhận trong cả quá
trình kinh doanh của DN. Người trực tiếp xác nhận vốn pháp định cùng liên đới chịu
trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của số vốn tại thời điểm xác lập.
Danh mục ngành, nghề kinh doanh phải có vốn pháp định trước khi
ĐKKD:
I. Tổ chức tín dụng (Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006).
1. Ngân hàng thương mại cổ phần: 3000 tỷ đồng.
2. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: 15 triệu USD
II. Quỹ tín dụng nhân dân (Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006)
1. Quỹ tín dụng nhân dân trung ương: 3000 tỷ đồng
6
2. Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở: 0.1 tỷ đồng
III. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng (Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày
22/11/2006)
1. Công ty tài chính: 500 tỷ đồng
XII. Kinh doanh hàng không chung: 50 tỷ đồng (Khoản 2 Điều 8 NĐ
76/2007/NĐ-CP ngày 9/5/2007).
Vốn pháp định không đặt ra với mọi ngành, nghề kinh doanh mà chỉ áp dụng
với một số ngành nghề mà pháp luật quy định như kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh
ngân hàng…
Ví dụ như:
- Danh mục mức vốn pháp định của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Nghị
định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 về ban hành danh mục mức vốn pháp
định của các tổ chức tín dụng, cụ thể như sau:
- Mức vốn pháp định của doanh nghiệp bảo hiểm được quy định tại Điều 4 Nghị
định 46/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 quy định chế độ tài chính đối với doanh
nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, cụ thể như sau:
+ Mức vốn pháp định của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ là
300.000.000 đồng Việt Nam.
+ Mức vốn pháp định của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là 4.000.000.000
đồng Việt Nam.
Hiện nay, Nhà nước chưa có quy định thống nhất trong một văn bản về ngành
nghề kinh doanh phải có vốn pháp định. Các quy định được nằm rải rác trong các văn
bản pháp luật chuyên nghành hoặc quyết định có liên quan của Thủ tướng Chính phủ.
1.6.Chấp thuận khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
1.7.Các yêu cầu khác mà doanh nghiệp phải thực hiện hoặc phải có mới
được quyền kinh doanh ngành, nghề đó mà không cần xác nhận, chấp thuận dưới
bất kỳ hình thức nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Khoản 1 Điều 7 Luật Doanh nghiệp quy định: “Doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế có quyền kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm.”
DN có quyền chủ động đăng kí kinh doanh và hoạt động kinh doanh, không cần
phải xin phép, xin chấp thuận, hỏi ý kiến của bất kì cơ quan nhà nước nào, nếu
ngành, nghề kinh doanh đó “Không thuộc ngành nghề cấm kinh doanh, không thuộc
ngành, nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành”
kinh doanh) phải có chứng chỉ hành nghề gồm:
+ Dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp ( trong trường hợp không ủy quyền)
( Khoản 17 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ; Điều 29 Nghị
định 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 Quy định chi tiết và hướng dãn thi hành một
số điều của Luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp)
+ Dịch vụ khám chữa bệnh tư nhân ;( Thông tư 07/2007/TT-BYT ngày
25/5/2007 của Bộ y tế hướng dẫn về ngành nghề y, y học cổ truyền và trang thiết bị y
tế tư nhân)
9
+ Dịch vụ khám chữa bệnh y học cổ truyền tư nhân; (Thông tư 07/2007/TTBYT ngày 25/05/2007 của Bộ y tế hướng dẫn về ngành nghề y, y học cổ truyền và
trang thiết bị y tế tư nhân).
- Ngành nghề mà pháp luật đòi hỏi cả Giám đốc và người khác giữ chức vụ
quản lí trong công ty phải có chứng chỉ hành nghề:
+ Dịch vụ kiểm toán- 3 chứng chỉ hành nghề “Doanh nghiệp kiểm toán chỉ được
thành lập khi có ít nhất ba người có Chứng chỉ kiểm toán viên, trong đó có Giám đốc
hoặc Tổng giám đốc” ( Điều 23 Nghị định số 30/2009/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30-3-2004 của Chính phủ
về kiểm toán độc lập.)
+ Dịch vụ kế toán- 2 chứng chỉ hành nghề ; (Điều 41 NGhị định số
129/2004/NĐ-CP ngày 31-5-2004 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Kế toán áp dụng trong hoạt động kinh doanh, Điều 2
Thông tư số 72/2007/TT-BTC Hướng dẫn việc đăng kí và quản lí ngành nghề kế
toán.
- Ngành nghề mà pháp luật có yêu cầu chứng chỉ hành nghề của người giữ
chức danh quản lí trong công ty gồm:
+ Dịch vụ thú y – 1 chứng chỉ hành nghề, (Điều 63 Nghị định số 33/2005/NĐCP ngày 25/3/2005 của Chính phủ về Quy định chi tiết thi hành một số điều Pháp lệnh
thú y.)
+ Sản xuất mua bán thuốc thú y, thú y thủy sản- 1 chứng chỉ hành nghề ( Pháp
+ Dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp – 1 Chứng chỉ hành nghề (trong trường
hợp có ủy quyền) (Đ.154 Luật Sở hữu trí tuệ)
Theo thông tin trên trang wed: http:///www.dpi.hochiminhcity.gov.vn của sở
kế hoạch và đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh.
Khoản 4 Điều 16, Khoản 5 Điều 18 và Khoản 5 Điều 19 Luật Doanh nghiệp
2005 đều có quy định: “Chứng chỉ hành nghề của giám đốc và cá nhân khác đối với
doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng
chỉ hành nghề”. Điểm c Khoản 1 Điều 34 Nghị định 43/2010/NĐ-CP cũng quy định
“Trường hợp bổ sung, thay đổi ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề
thì phải có thêm bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của một hoặc một số cá nhân
theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Kèm theo Thông báo phải có quyết định bằng văn bản và bản sao biên bản họp
của Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên,
của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần và của các thành viên hợp danh
đối với công ty hợp danh; quyết định của chủ sở hữu công ty đối với công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên về việc bổ sung, thay đổi ngành, nghề kinh doanh.
11
Quyết định, biên bản họp phải ghi rõ những nội dung được thay đổi trong Điều lệ
công ty”.
Việc ĐKKD hoặc đăng ký bổ sung ngành, nghề kinh doanh đối với doanh
nghiệp kinh doanh ngành, nghề phải có chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp
luật đó phải thực hiện theo các quy định tại Khoản 3 Điều 9 Nghị định 102/2010/NĐCP như đã nêu ở phần 1.3 ở trên.
XIII. PHÂN TÍCH QUY ĐỊNH VỀ CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ TRONG
MỘT LĨNH VỰC CỤ THỂ.
Để hiểu rõ hơn về chứng chỉ hành nghề, trong phạm vi bài làm của mình em sẽ
đi tìm hiểu các quy định của pháp luật về chứng chỉ môi giới bất động sản trong lĩnh
vực kinh doanh bất động sản. Dịch vụ môi giới bất động sản thuộc nhóm ngành nghề
mà pháp luật có yêu cầu chứng chỉ hành nghề của người giữ chức danh quản lí trong
Theo đó một cá nhân muốn được cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động
sản thì phải tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về môi giới bất động sản
tại cá cơ sở đào tạo có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 12 Nghị định này. Đồng
thời tại Điều 13 Nghị định này cũng chỉ rõ: “thủ trưởng cơ sở đào tạo, bồi dưỡng
kiến thức về môi giới, định giá bất động sản và quản lý, điều hành sàn giao dịch bất
động sản quyết định và chịu trách nhiệm về các nội dung sau đây:… Tổ chức việc
đánh giá kết quả học tập và cấp giấy chứng nhận đã hoàn thành khoá đào tạo, bồi
dưỡng kiến thức cho học viên.”.
Như vậy, sau khi hoàn thành khóa đào tạo này, các học viên có đủ điều kiện sẽ
được cấp giấy chứng nhận.
4. Có hồ sơ xin cấp chứng chỉ môi giới bất động sản theo quy định tại khoản
2 Điều này.
Hồ sơ xin cấp chứng chỉ môi giới bất động sản, bao gồm:
a) Đơn
xin cấp chứng chỉ có dán ảnh và có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã,
phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi cư trú của
người xin cấp chứng chỉ;
b) 02
ảnh màu cỡ 3 x 4 cm chụp trong năm xin cấp chứng chỉ;
c) Bản
sao chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người xin cấp chứng chỉ;
d) Bản
sao giấy chứng nhận đã hoàn thành khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức
không cụ thể. Do đó, nhiều nhà đầu tư cho rằng, việc xác nhận vốn pháp định như
hiện nay là mang tính hình thức, nhưng lại gây khó khăn cho doanh nghiệp và các cơ
quan quản lý cũng không kiểm soát được việc xác nhận có thực chất hay không.
- Yêu cầu Giám đốc phải có chứng chỉ hành nghề trong hồ sơ Đăng ký kinh
doanh là không phù hợp.
Cũng nằm trong thủ tục đăng lý lập hộ kinh doanh, theo quy định hiện hành,
hiện có khoảng 14 loại ngành nghề yêu cầu phải có chứng chỉ. Một số loại ngành
nghề yêu cầu giám đốc (hoặc người đứng đầu cơ sở kinh doanh) phải có chứng chỉ
hành nghề; ngành nghề khác thì chỉ yêu cầu chứng chỉ của người trực tiếp hoặc phụ
trách hoạt động đó. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, thì yêu cầu phải có chứng
chỉ hành nghề của giám đốc và người khác trong hồ sơ ĐKKD hoặc Đăng ký thay đổi
nội dung ĐKKD. Theo nhận định của em, quy định này không phù hợp với thực tế
bởi Giám đốc là người quản lý chung, là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng
ngày của doanh nghiệp, còn đối với hoạt động chuyên môn, doanh nghiệp có thể đi
thuê các nhân viên quản lý khác có đủ trình độ để phụ trách và quản lý lĩnh vực kinh
doanh tương ứng. Hơn nữa, trong trường hợp một công ty kinh doanh nhiều lĩnh vực
thì một Giám đốc không thể có nhiều chứng chỉ hành nghề. Ngoài ra, chứng chỉ hành
15
nghề cũng chỉ là một ĐKKD. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, DN được quyền
kinh doanh ngành khi có đủ điều kiện. Do vậy, không có lý do gì để yêu cầu DN phải
có chứng chỉ hành nghề trong hồ sơ khi thành lập DN hoặc bổ sung ngành nghề kinh
doanh. Bên cạnh đó ta thấy, việc yêu cầu này chỉ có ý nghĩa về mặt hình thức vì trên
thực tế, khi thành lập DN hoặc bổ sung ngành nghề kinh doanh pháp luật yêu cầu
phải có chứng chỉ hành nghề, đa số các chủ sở hữu tiến hành “đi mượn” chứng chỉ để
hợp pháp hóa về mặt thủ tục. Ngoài ra, những cá nhân có chứng chỉ hành nghề xét về
mặt pháp lý họ chỉ là người lao động của DN nên hợp đồng lao động giữa họ với DN
có thể chấm dứt bất kỳ lúc nào và cơ quan ĐKKD không thể kiểm soát được vấn đề
này.