tìm hiểu cơ sở phân chia nguồn thu giữa ngân sách nhà nước và các cấp ngân sách địa phương theo quy định pháp luật hiện hành và ý kiến pháp lý của nhóm về vấn đề này - Pdf 33

Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử, là một
thành phần trong hệ thống tài chính. Nó chính là quỹ tiền tệ tập trung của nhà
nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của một quốc gia. Nguồn thu ngân sách của nhà
nước cũng được phân chia theo các cấp quản lý. Vậy thì dựa vào đâu mà nhà nước
phân chia nguồn thu ngân sách thành Ngân sách nhà nước và các cấp ngân sách địa
phương? Bài viết dưới đây sẽ tập trung khai thác đề tài: “Tìm hiểu cơ sở phân
chia nguồn thu giữa ngân sách nhà nước và các cấp ngân sách địa phương theo
quy định pháp luật hiện hành và ý kiến pháp lý của nhóm về vấn đề này”.

1. Các khái niệm cơ bản
1.1.

Ngân sách nhà nước

Có rất nhiều các quan điểm khác nhau về ngân sách nhà nước. Về mặt kinh
tế, ngân sách nhà nước là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước
huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau. Còn về mặt pháp lý, ngân
sách nhà nước là bản dự trù thu chi tài chính của nhà nước trong một khoảng thời
gian nhất định, thường là một năm. Điều 1 Luật Ngân sách nhà nước năm 2002
quy định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một
năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Theo đó, có thể nhận xét rằng, ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ
kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập
trung của nhà nước khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia
nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước trên cơ sở luật định.
Để quản lý và điều tiết được nguồn thu ngân sách một cách hiệu quả, ngân
sách nhà nước được chia thành ngân sách trung ương và ngân sách các cấp địa
1



cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng nhiệm vụ kinh tế xã hội của nhà nước.

2


Theo đó, có thể hình dung thu ngân sách nhà nước bao gồm những khoản
tiền nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
Thu ngân sách nhà nước chỉ bao gồm những khoản tiền nhà nước huy động vào
ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng
nộp. Do đó, nguồn thu ngân sách nhà nước sẽ bao gồm: Thuế, phí, lệ phí do các tổ
chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật; Các khoản thu từ hoạt động kinh
tế của Nhà nước; Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; Các khoản viện
trợ không hoàn lại 1; Và, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
Dựa theo hệ thống chính quyền, nguồn thu ngân sách nhà nước được chia
làm hai loại: nguồng thu của chính quyền trung ương và nguồn thu của các cấp địa
phương. Nguồn thu của chính quyền trung ương bao gồm thuế xuất khẩu- thuế
nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt của hàng hóa nhập khẩu,
thuế và khoản thu khác từ dầu khí, thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty hạch
toán toàn ngành. Nguồn thu của địa phương bao gồm thuế nhà đất, thuế tài nguyên
thiên nhiên không bao gồm dầu khí, thuế môn bài, thuế chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, phí sử dụng đất, tiền cho thuê đất, khoản thu và cho thuê bán nhà thuộc
sở hữu nhà nước, lệ phí trước bạ và hầu hết các khoản phí và lệ phí khác

2. Cơ sở phân chia nguồn thu giữa ngân sách nhà nước và các cấp ngân
sách địa phương
2.1.

Cơ sở pháp lý

Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ và Thông tư 59/2003/TT-BTC ngày

từng cấp;
đ) Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan
quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì phải chuyển kinh
phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó;
4


e) Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân
chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp
dưới để bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương. Tỷ
lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp
trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3 đến 5 năm. Số bổ sung từ ngân
sách cấp trên là khoản thu của ngân sách cấp dưới;
g) Trong thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương được sử dụng nguồn
tăng thu hàng năm mà ngân sách địa phương được hưởng để phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn; sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, phải tăng khả năng tự cân
đối, phát triển ngân sách địa phương, thực hiện giảm dần số bổ sung từ ngân sách
cấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết số thu nộp về ngân sách cấp trên;
h) Ngoài việc uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ chi và bổ sung nguồn thu quy
định tại điểm đ và điểm e khoản 2 Điều này, không được dùng ngân sách của cấp
này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của
Chính phủ”;
Ở cấp trung ương và cấp địa phương đều có ngân sách riêng. Ngân sách này
phục vụ cho những hoạt động khác nhau của cơ quan quyền lực nhà nước cũng
như cơ quan hành chính. Điều 1 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001, sửa đổi bổ sung
năm 2007 quy định: “Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và
đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những
nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã
hội và hoạt động của công dân”; Bên cạnh đó, Điều 1 Luật Tổ chức chính phủ
năm 2001, sử đổi bổ sung năm 2007 cũng ghi nhận: “Chính phủ thống nhất quản
lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và

phương tiện tài chính để thực hiện nhiệm vụ được giao, đặc biệt đối với các sự kiện
pháp lý cấp thiết phát sinh cần nguồn ngân sách giải quyết kịp thời.

6


Thứ hai, cơ quan quyền lực nhà nước chỉ có thể giải quyết các vấn đề phát
sinh ở trung ương, hạn chế khả năng giải quyết các vấn đề phát sinh ở các cấp đơn
vị hành chính. Cấp trung ương không thể cáng đáng được hết thảy tất cả công việc
của quốc gia, không thể quản lý từng công việc cụ thể trên mỗi địa phương, lãnh
thổ. Việc phân cấp nguồn thu ngân sách cho cấp địa phương để có thể giảm bớt
gánh nặng quản lý, đồng thời thể hiện rõ nguyên tắc tập trung dân chủ trong phân
cấp quản lý.
Thứ ba, do các địa phương có các điều kiện kinh tế- xã hội khác nhau cũng
như có các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng khác
nhau nên việc thống nhất tỉ lệ điều tiết giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa
phương được giao trong thời kỳ ổn định là khó khăn. Sự khác biệt trong việc áp
dụng quy định pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước theo Luật ngân
sách nhà nước đối với từng địa phương; mỗi địa phương đều có vị trí địa lý cũng
như đặc điểm dân cư khác nhau, cho nên các vấn đề nảy sinh trong mỗi đơn vị
hành chính đều không hề giống nhau. Chẳng hạn, Thành phố Hải Phòng giáp với
biển nên sẽ có các khoản thu thuế, phí và lệ phí phát sinh từ các hoạt động về biển
và hoạt động xuất nhập khẩu qua cảng biển, trong khi đó Lào Cai sẽ không có các
khoản thu này nhưng bù lại lại có các khỏan thu từ các hoạt động xuất nhập khẩu
qua các cửa khẩu biên giới của Lào Cai. Phần lớn các địa phương đều xa trung
ương, cho nên khi nảy sinh một sự kiện pháp lý cần xin ngân sách nhà nước thì tốn
thời gian, kém hiệu quả và chủ động khi giải quyết công việc. Đảm bảo quyền tự
chủ tài chính của địa phương. Việc phân cấp nguồn thu giữa ngân sách nhà nước
và các cấp chính quyền địa phương tạo khả năng quản lý của từng cấp chính quyền
địa phương, đảm bảo nguồn lực để các cấp chủ động thực hiện những nhiệm vụ


3. Nhận xét của nhóm
Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 quy định về phân cấp quản lý các khoản
thu giữa ngân sách nhà nước trung ương và ngân sách nhà nước địa phương. Việc
8


phân cấp ngân sách nhà nước địa phương trong đơn vị tỉnh giữa ngân sách tỉnh,
ngân sách huyện và ngân sách xã được giao cho hội đồng nhân dân tỉnh. Ngân sách
trung ương và ngân sách địa phương tuy được đảm bảo tính độc lập bằng các
khoản thu được hưởng 100%, nhưng nhìn chung hệ thống ngân sách nhà nước còn
mang tính thứ bậc, và tính lồng ghép cao của ngân sách cấp dưới vào ngân sách
cấp trên. Cụ thể là khoản thu bổ sung của ngân sách cấp dưới từ ngân sách cấp trên
được Quốc hội quyết định hàng năm, còn khoản thu điều tiết từ thuế giá trị gia
tăng, thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêu thụ đặc biệt, phí xăng dầu theo Điều 30
Khoản 2 Luật ngân sách nhà nước cũng được phân cấp trong thời kỳ ổn định bởi
Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo Nghị quyết của Quốc hội. Uỷ ban thường vụ
Quốc hội có thể quyết định tỉ lệ thu điều tiết linh hoạt giữa Ngân sách trung ương
hoặc ngân sách địa phương, nhưng việc tăng tỉ lệ điều tiết về Ngân sách trung ương
có thể làm hạn chế quyền tự chủ của địa phương có điều kiện kinh tế xã hội phát
triển trong quản lý và khai thác nguồn thu đáp ứng yêu cầu phát triển. Còn đối với
địa phương không có khả năng tự cân đối nguồn thu so với nhiệm vụ chi, quy định
khoản thu bổ sung của ngân sách địa phương theo Luật ngân sách nhà nước hiện
nay là tạo ra lợi ích để các địa phương không cân đối được nguồn thu để thực hiện
nhiệm vụ chi.
Có thể thấy, ngân sách trung ương là trung tâm điều hòa của các cấp ngân
sách địa phương, phản ánh nhiệm vụ thu theo ngành và giữ vai trò chủ đạo trong
hệ thống ngân sách nhà nước. Ngân sách địa phương phản ánh nhiệm vụ thu theo
địa phương, khu vực với các xã phường là đơn vị dự toán cơ sở. Đảm bảo nhiệm
vụ thực hiện toàn diện nền kinh tế các cấp. Mỗi cấp ngân sách được xác định nội

1. Giáo trình Luật Ngân sách nhà nước;
NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, 2010;
Trang 68 – 70;
2. Luật Ngân sách nhà nước năm 2002;
3. Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001, SĐBS năm 2007;
4. Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001, SĐBS năm 2007;
5. Hiến pháp 1992, SĐBS năm 2001;
6. Các Website:
- tamnhin.net;
- kinhtevadubao.vn;
- vneconomy.vn;
- vbpq.mof.gov.vn;
- phapluat.tienphong.vn;
- vi.wikipedia.org;
- luattaichinh.wordpress.com;

11




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status