Sinh viên: Lê Thị Thu Trang
Mã sv: 605904042
Lớp: k60- Khoa GDTH
BÀI THU HOẠCH
Tìm hiểu cơ sở lí luận về kiểm tra đánh giá và
kĩ thuật thiết kế đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập
môn Toán ở Tiểu học
A, Cơ sở lý luận
*CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP Ở TIỂU
HỌC
1. Kiểm tra: Họat động của GV sử dụng để thu thập thông tin về biểu hiện kiến
thức, kỹ năng và thái độ của học sinh (HS) trong học tập nhằm cung cấp dữ kiện
cho việc đánh giá. Trong giáo dục, kiểm tra có các hình thức như kiểm tra thường
xuyên (kiểm tra hằng ngày), kiểm tra định kì (kiểm tra hết chương, hết phần…) và
kiểm tra tổng kết (kiểm tra cuối học kì).
2. Đánh giá kết quả học tập: là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về
trình độ học sinh. Muốn đánh giá kết quả học tập của học sinh thì việc đầu tiên là
phải kiểm tra, soát xét lại toàn bộ công việc học tập của học sinh, sau đó tiến hành
đo lường để thu thập những thông tin cần thiết, cuối cùng là đưa ra một quyết định.
=> Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là 2 khâu có quan hệ mật thiết
với nhau. Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để đánh giá và đánh giá thông qua kết
quả của kiểm tra. 2 khâu đó hợp thành một quá trình thống nhất là kiểm tra – đánh
giá.
3. Đo lường: Việc ghi nhận, mô tả kết quả làm bài của HS bằng một số đo dựa trên
những quy tắc đã định trước.
4. Lượng giá: Dựa vào số đo đã có để đưa ra những thông tin ước lượng trình độ
kiến thức, kỹ năng của HS. Có 2 cách lượng giá: Theo Chuẩn và Theo Tiêu chí.
5. Trắc nghiệm: Là công cụ hoặc quy trình có tính hệ thống được dùng để đo
lường các hành vi học tập hoặc kết quả học tập cụ thể.
Tóm lại: Đánh giá kết quả học tập của HS để GV điều chỉnh nội dung,
cao ý thứcc tự giác, khắc phụ tính chủ quan tự mãn.
Đối với giáo viên: Cung cấp cho giáo viên những thông tin "liên hệ ngược
ngoài" giúp người dạy điều chỉnh hoạt động dạy.
Đối với cán bộ quản lí giáo dục: Cung cấp cho cán bộ quản lí giáo dục những
thông tin về thực trạng dạy và học trong một đơn vị giáo dục để có những chỉ đạo
kịp thời, uốn nắn được những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay,
bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục.
7.3. Vai trò của kiểm tra-đánh giá trong dạy học hiện nay
Trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chủ yếu là dạy cái gì mà còn
dạy học như thế nào. Đổi mới phương phá dạy học là một yêu cầu cấp bách có tính
chất đột phá để nâng cao chất lượng dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học đòi
hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ đổi mới từ nội dung chương trình sách giáo
khoa, phương pháp dạy học cho đến kiểm tra đánh kết quả dạy học.
Kiểm tra đánh giá có vai trò rất to lớn đến việc nâng cao chất lượng đào tạo. Kết
quả của kiểm tra đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và
quản lý giáo duc. Nếu kiểm tra đánh giá sai dẫn đến nhận định sai về chất lượng
đào tạo gây tác hại to lơn trong việc sử dụng nguồn nhân lực. Vậy đổi mới kiểm tra
đánh giá trở thành nhu cầu bức thiết của ngành giáo dục và toàn xã hội ngày nay.
Kiểm tra đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp người học tự tin,
hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập.
*QUAN NIỆM VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ CÁC HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ
I, ĐÁNH GIÁ VÀ GIÁM SÁT TRONG MÔN TOÁN
1, Đánh giá trong môn Toán
Đánh giá HS là nhiệm vụ của GV (vì HS vừa là đối tượng, chủ thể và sản phẩm
của quá trình giáo dục)
GV phát hiện mức độ hiểu bài của cá nhân thông qua:
+ Các hoạt động trong giảng dạy toán hằng ngày
+ Các bài kiểm tra
Đảm bảo môi trường, cơ sở vật chất không ảnh hưởng đến việc làm bài của HS.
Kiểm soát được các yếu tố khác ngoài khả năng thực hiện bài tập đánh giá của
HS như sức khỏe, tâm lý làm bài, ngôn ngữ diễn đạt của bài kiểm tra…
Những phán đoán giá trị và quyết định việc học của HS phải dựa vào 3 cơ sở
sau:
Kết quả học tập thu thập được một cách có hệ thống trong quá trình dạy học;
Các tiêu chí đánh giá rõ ràng;
Kết hợp và cân bằng giữa đánh giá thường xuyên và định kỳ (đánh giá quá
trình học tập và đánh giá sản phẩm học tập của HS)
2.2/ Nguyên tắt công bằng:
Là hệ thống các quy tắc được thực hiện trong khi kiểm tra và đánh giá nhằm đảm
bảo rằng những HS thực hiện các hoạt động học tập với cùng một mức độ và thể
hiện cùng một nổ lực trong học tập sẽ thu được những kết quả như nhau.
Một số quy tắc thực hiện nguyên tắc công bằng:
Giúp mỗi HS có thể tích cực vận dụng phát triển kiến thức và kỹ năng đã học.
Hình thức các bài tập, bài kiểm tra là quen thuộc với HS.
Ngôn ngữ sử dụng để kiểm tra rõ ràng đơn giản không mang hàm ý đánh đố HS.
Việc chấm điểm hay ghi nhận xết kết quả phản ánh đúng khả năng của HS.
2.3/ Nguyên tắc bảo đảm tính toàn diện:
Một hệ thống gồm các quy tắc được thực hiện trong quá trình đánh giá kết quả học
tập của HS nhằm đảm bảo kết quả HS đạt được qua kiểm tra phản ánh được các
mặt Đức-Trí-Thể-Mỹ.
Một số quy tắc thực hiện nguyên tắc toàn diện:
Nội dung kiểm tra đánh giá cần bao quát được toàn bộ các nội dung trọng tâm
của phần học, chương trình học mà ta cần đánh giá.
Mục tiêu đánh giá cần bao quát các kết quả học tập với những mức độ nhận thức
từ đơn giản đến phức tạp: Nhớ / Nhận biết→ Hiểu→ Vận dụng→ Phân tích-Tổng
hợp-Đánh giá.
Công cụ đánh giá cần đa dạng; không chỉ đánh giá kiến thức, kỹ năng môn học
mà còn đánh giá các phẩm chất trí tuệ, tình cảm và kỹ năng xã hội.
Những gì mà HS cần phải học thêm.
2.7/ Nguyên tắc bảo đảm tính phát triển:
Giáo dục là quá trình giúp những cá nhân phát triển những tiềm năng của
mình để trở thành người hữu dụng trong xã hội hay xét về bản chất của giáo dục có
thể nói dạy học là phát triển.
Để giúp việc đánh giá kết quả học tập có tác dụng phát trển thì cần:
Công cụ đánh giá tạo điều kiện cho HS khai thác vận dụng kiến thức, kỹ năng
liên môn học.
Phương pháp và công cụ đánh giá phải góp phần kích thích lối dạy phát huy tính
tích cực, chủ động, sánh tạo của HS trong học tập; chú trọng thực hành, rèn luyện
và phát triển kỹ năng.
Đánh giá hướng đến việc duy trì sự phấn đấu và tiến bộ của HS cũng như góp
phần phát triển động cơ học tập đúng đắn trong người học.
Thông qua những đánh giá nhận xét về việc học của HS, GV giúp cho các em
nhận ra chiều hướng phát triển trong tương lai, nhận ra được tiềm năng của các em
mà từ đó góp phần phát thúc đẩy lòng tự tin, tự trọng và ý hướng phấn đấu học tập,
hình thành năng lực tự đánh giá cho HS.
* HÌNH THỨC KIỂM TRA
1. Hoạt động kiểm tra theo thời gian:
a) Kiểm tra thường xuyên: là tiến trình thu thập thông tin về việc học của HS một
cách liên tục trong lớp học và kết quả của nó dùng để theo dõi sự tiến bộ của HS
trong quá trình giảng dạy và giúp GV có những biện pháp điều chỉnh kịp thời việc
dạy học của mình, cũng như giúp HS nhận ra được sự tiến bộ, chưa tiến bộ của bản
thân để từ đó điều chỉnh và phát triển.
Hình thức kiểm tra: Phỏng vấn, thực hành, làm bài tập thường ngày trong giờ
học…
b) Kiểm tra định kỳ: là phương thức xem xét kết quả học tập của HS theo một
thời điểm. Mục đích là giúp GV xem mỗi HS đã tiếp thu được gì sau một đơn vị
học phần để từ đó có biện pháp kịp thời bổ khuyết hay điều chỉnh nội dung và
phương pháp dạy học những phần tiếp theo. Kiểm tra kiểu này mang tính đào tạo
b) Dựa theo tính chất của nhận xét:
→ Nhận xét cụ thể thể hiện tính cá nhân hóa
→ Nhận xét khái quát.
► Tác dụng của nhận xét đối với HS: Động viên và hướng dẫn HS điều chỉnh
việc học tập. Cụ thể:
- Phải thực tế; Phải cụ thể; Phải kịp thời và nói thẳng, không úp mở và cho
những ý kiến hay cảm nghỉ riêng thay vì những lời nhận định đầy quyền uy.
- Phải nhạy cảm đối với những quan tâm, mục đích hay cố gắng của HS;
không nên cho là HS sai hay không tốt mà cần cố gắng nhận biết mục đích mà các
em thực hiện.
- Khuyến khích những điều các em làm được với những chứng cứ cụ thể
- Hướng dẫn các em cách thức khắc phục những điều mà các em chưa đạt
cũng như cách thực hiện nhiệm vụ học tập kế tiếp tốt hơn.
1.3. Làm thế nào để có nhận xét tốt?
GV cần thường xuyên tham khảo các tiêu chí (chứng cứ) đã được xác lập đối
với trường hợp nội dung quan sát nhỏ hẹp.
Xây dựng bảng hướng dẫn đánh giá khi mà kết quả của nó sẽ được chính thức
sử dụng để xếp loại HS.
Quan sát và ghi nhận các biểu hiện hành vi của các em theo tiêu chí đã định.
Thu thập thông tin đầy đủ, phù hợp và tránh định kiến.
Trước khi đưa ra nhận xét cần xem xét:
Chứng cứ thu thập được có thích hợp không ?
Chứng cứ thu thập được đã đủ cho nhận xét về HS chưa ?
Xem xét những yếu tố nào khác ngoài bài kiểm tra hay thực hành có thể ảnh
hưởng đến kết quả thực hiện của HS không?
Viết nhận xét nào đó cần phải nêu rõ ràng những lí do của nhận xét ấy.
2. Đánh giá bằng điểm số.
2.1. Quan niệm:
Là sử dụng những mức điểm khác nhau trong 1 thang điểm để chỉ ra mức độ về
Là động viên và khuyến khích sự tiến bộ của HS khi kiểm tra đánh giá. Thông
thường sử dụng bằng điểm số hay nhận xét để kích thích tinh thần, cảm xúc của
HS từ đó thôi thúc các em thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo tốt hơn với sự phấn đấu
cao hơn.
4. Đánh giá bằng xếp loại:
Là tiến trình phân loại trình độ hay phẩm chất năng lực của HS dựa trên cơ sở xem
xét kết quả học tập đã thu thập được qua quá trình kiểm tra liên tục và hệ thống.
Kết quả học tập được ghi nhận bằng điểm số hay bằng nhận xét. Kết quả xếp loại
được dùng để đưa ra những quyết định nào đó cho HS như chứng nhận trình độ,
xét lên lớp, khen thưởng…nên nó có ý nghĩa quan trọng về mặt quản lý.
*NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
I. KHÁI NIỆM MỤC TIÊU VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC XÁC LẬP MỤC TIÊU
DẠY HỌC TRONG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP.
1. Mục tiêu dạy học là gì? Là kết quả học tập mà nhà trường mong HS đạt
được sau khi học tập. Có 2 loại mục tiêu: Thành thạo và phát triển.
1.1. Mục tiêu thành thạo: là kết quả tối thiểu mà mọi HS cần đạt một cách đồng
loạt. Mục tiêu này thường bao gồm những kiến thức đơn giản, cơ bản mà HS phải
nắm vững vào cuối một giai đoạn học tập.
1.2. Mục tiêu phát triển: là kết quả học tập phức tạp hơn mục tiêu thành thạo, HS
có thể vận dụng sang những tình huống học tập mới theo hướng tăng tiến liên tục
về trình độ, mục tiêu này HS chẳng bao giờ có thể đạt được một cách đầy đủ vào
một thời điểm cụ thể.
1.3. Trong thực tiễn mục tiêu dạy học gồm 3 thành tố: Kiến thức; Kỹ năng và Thái
độ. Chúng có mối quan hệ tương tác lẫn nhau.
2. Kết quả học tập cần đánh giá ở tiểu học: Sơ đồ diễn giải kết quả học
tập cần đánh giá ở tiểu học.
Đánh giá-Xếp loại HS tiểu học
Hạnh kiểm
Học lực
5 nhiệm vụ của HS trong TT 32
với một số trường hợp. (quan hệ nhân quả tương đối). Mưa lớn kéo dài nhiều ngày,
nước sông dâng cao (quan hệ nhân quả tuyệt đối)
b) Tương quan giữa 2 khái niệm: theo nguyên tắc dựa vào mối tương quan
giữa hai khái niệm để HS có thể phỏng đoán được điều gì đó.
Ví dụ: Người cao có xu hướng nặng hơn người thấp (tương quan giữa chiều
cao và cân nặng).
c) Quy luật xác suất: HS dùng sự phân bố xác suất để đưa ra những phỏng
đoán
Ví dụ: Mùa hè có nhiều em HS đi du lịch, HS có thể phỏng đoán rằng HS
thích đi du lịch vào mùa hè.
d) Chân lý: là một sự thật được mọi người chấp nhận đúng.
Ví dụ: Quy tắc sử dụng dấu câu, chính tả, quy tắc toán học…
4. Phương pháp / tiến trình: là một chuỗi các hành động thể chất hoặc tinh thần
dẫn đến một kết quả. Phương pháp / tiến trình có thể là đơn giản hoặc phức tạp.
Việc giảng dạy hay đánh giá một tiến trình mà HS lĩnh hội được là một việc làm
phức tạp.
Ví dụ: Phương pháp / tiến trình cắt dán một con thuyền, giải một bài toán…
III. NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG
1. Kỹ năng trí tuệ:
a) Hiểu: HS thể hiện các hành động trí tuệ như sau: giải thích mối quan hệ,
tóm tắt, cho ví dụ minh họa, so sánh…
b) Vận dụng: HS thể hiện các hành động trí tuệ như sau: Tính toán, đưa ra
cách làm, thu thập thông tin…
c) Tư duy phê phán: HS thể hiện các hành động trí tuệ như sau: đánh giá
hay dự đoán “Thông tin sự kiện, Khái niệm, Nguyên tắc, Phương pháp / tiến
trình”
d) Sáng tạo: HS thể hiện các hành động trí tuệ như sau:suy nghĩ/ý tưởng
sáng tạo hay sản phẩm sáng tạo. Bậc tiểu học thì những tình huống hoặc nội dung
học tập mà HS thể hiện kỹ năng sáng tạo:
Nói Làm văn nói, đọc thành tiếng
thảo luận, viết tóm tắt, chuẩn bị bài, trình bày vở, sử dụng Sách giáo khoa, tài liệu,
tự kiểm tra bài làm…
Sự phân loại bốn kỹ năng này có ý nghĩa tương đối và chỉ có giá trị định
hướng để xây dựng kế hoạch và nội dung kiểm tra đánh giá. Trên thực tế chúng có
xu hướng kết hợp thống nhất trong hoạt động học tập của HS.
IV. NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ THÁI ĐỘ VÀ HẠNH KIỂM
1. Các phẩm chất thái độ liên quan đến việc phát triển năng lực học tập
các môn học: đã được nêu trong mục tiêu dạy học của chương trình môn học cũng
như trong kế hoạch bài học. Tuy theo đặc trưng của từng môn học mà các phẩm
chất thái độ liên quan đến việc phát triển năng lực học tập môn học khác nhau. Có
thể khái quát thành một số phẩm chất chung như: Hứng thú học tập, thói
quen/phong cách học tập, khả năng sáng tạo, tính kỷ luật…
2. Các mức độ của lĩnh vực thái độ: Trong giảng dạy mục tiêu về giáo dục
thái độ thường không được diễn tả một cách chính xác. Krathwohl (1964) đã đưa
ra 5 mức độ của lĩnh vực thái độ nhằm giúp GV có thể hình dung ra những biểu
hiện từ đơn giản đến phức tạp của các thái độ của HS:
i) Tiếp nhận: Nhận biết, sẵn lòng tiếp nhận; chú ý có chủ định.
ii) Cho phản hồi: Hiểu biết, sẵn lòng đáp lại
iii) Phán đoán giá trị: Chấp nhận; thể hiện sự tham gia, cam kết thực hiện.
iv) Tổ chức: Tạo khái niệm về giá trị cho bản thân; đưa giá trị vào hệ thống
giá trị của bản thân.
v) Thể hiện: Hành động kiên định theo giá trị đã lĩnh hội, giá trị trở thành
nét tính cách của cá nhân.
3. Hạnh kiểm: Theo TT 32 ( thông tư 32).
Thái độ
Các phẩm chất liên quan đến việc phát triển năng lực học tập môn học
5 nhiệm vụ của HS được quy định trong TT 32/2009/TT-BGDDT ngày 27/10/2009
IV, MỘT SÔ KĨ THUẬT ĐÁNH GIÁ
►KỸ THUẬT QUAN SÁT
1. Các kiểu quan sát trong đánh giá kết quả học tập: Quan sát là một phương
d) Bảng kiểm:
Là bảng liệt kê những hành vi, tính chất…kèm với yêu cầu xác định và được
dùng như bảng hướng dẫn theo dõi, xem xét, ghi nhận các quan sát.
Ví dụ: Khoanh tròn C (CÓ) hoặc K (KHÔNG)
Phát âm chuẩn C K
Nói trôi chảy C K
Liên quan đến bài học C K
Thời gian không quá 3 phút C K
…
đ) Thang mức độ:
Là phương cách tiện lợi để ghi nhận và báo cáo các vấn đề đã quan sát trên một
nội dung kiểm tra rộng lớn hay phức tạp. Thang mức độ thường được xác lập với
những mức độ có tính chất định tính hay miêu tả như “Xuất sắc, Trung bình,
thường xuyên, hiếm khí…” và nó có chức năng tương tự như thang số.
Ví dụ: Khoanh tròn một trong các số dưới đây để chỉ mức độ HS đóng góp
vào buổi thảo luận. Điểm 5 Xuất sắc; 4 Khá; 3 Trung bình; 2 Yếu; 1 Kém.
HS tham gia vào buổi thảo luận ở mức độ nào?
1 2 3 4 5
Các ý kiến trao đổi liên quan đến chủ đề thảo luận ở mức độ nào?
1 2 3 4 5
3. Tiến trình và cách thức ghi nhận các quan sát để cho nhận xét
a) Trước khi quan sát:
Câu hỏi gợi ý giúp GV lập kế hoạch quan sát
-Sẽ tìm hiểu điều gì khi quan sát?
-HS nào sẽ được quan sát?
-Khi nào sẽ quan sát?
-Những thông tin nào cần được ghi nhận?
-Ghi nhận những thông tin đó như thế nào?
-Có điều gì ảnh hưởng đến việc quan sát không?
b) Trong khi quan sát:
lại nguyên văn những câu hỏi, những bài tập đã được dùng trong lúc giảng dạy ở
bài cũ.
- Ngoài kiểm tra ghi nhớ-tái hiện đơn giản, KTM cần tạo cơ hội cho các em áp
dụng những kiến thức, kỹ năng đã học vào đời sống hằng ngày và giải quyết vấn
đề, tạo cho các em có cơ hội được thể hiện, được diễn đạt, được trình bày.
►BÀI TỰ LUẬN
1. Các kết quả học tập mà tự luận có thể kiểm tra được:
- Trình bày kiến thức sự kiện; nêu khái niệm, định nghĩa; giải thích nguyên
tắc; mô tả phương pháp/tiến trình.
- Kỹ năng vận dụng kiến thức, phân tích, tổng hợp, suy luận và đánh giá
những thông tin mới nhờ sự hiểu biết.
- Kỹ năng suy nghĩ và giải quyết vấn đề.
- Kỹ năng chọn lựa, tổ chức, phối hợp, liên kết và đánh giá những ý tưởng.
- Kỹ năng diễn đạt ngôn ngữ.
Thực tế, ngoài những bài tự luận dùng để đo lường những kết quả học tập
phức hợp như giải quyết vấn đề, những kỹ năng trí tuệ cao vẫn có những bài chỉ
đòi hỏi HS tái hiện đơn thuần những điều đã học (những bài như thế hiện nay được
sử dụng như công cụ chính).
2. Các hình thức bài tự luận: được phân theo 2 hướng:
a) Dựa vào độ dài và giới hạn của câu trả lời:
- Dạng trả lời hạn chế: Về nội dung: phạm vi đề tài cần giải quyết hạn chế. Về
hình thức: độ dài hay số lượng dòng, từ của câu trả lời được hạn chế. Dạng này có
ích cho việc đo lường kết quả học tập, đòi hỏi sự lí giải và ứng dụng dữ kiện vào
một lĩnh vực chuyên biệt.
- Dạng trả lời mở rộng: cho phép HS chọn lựa những dữ kiện thích hợp để tổ
chức câu trả lời phù hợp với phán đoán tốt nhất của họ. Dạng này làm cho HS thể
hiện khả năng chọn lựa, tổ chức, phối hợp, tuy nhiên làm nảy sinh khó khăn trong
quá trình chấm điểm. Có nhiều ý kiến cho rằng chỉ sử dụng dạng này trong lúc
giảng dạy để đánh giá sự phát triển năng lực của HS mà thôi.
b) Dựa vào các mức độ nhận thức: Có 4 loại:
iii) Xây dựng kế hoạch trắc nghiệm: Nội dung, mục tiêu, kỹ thuật đánh giá và số
lượng câu cho mỗi mục tiêu.
iv) Chọn lựa hình thức kiểm tra và viết câu trắc nghiệm.
v) Tự kiểm tra lại các câu trắc nghiệm: đối chiều nội dung với mục tiêu tương ứng,
ngôn ngữ diễn đạt…
vi) Tổ chức kiểm tra và thu thập thông tin.
vii) Đánh giá chất lượng bài kiểm tra.
viii) Cải tiến quá trình dạy và học.
Ví dụ: KẾ HOẠCH TRẮC NGHIỆM
Nội dung Mục tiêu Dạng trắc nghiệm Số câu
1. Nội dung 1 Mục tiêu 1:
Mục tiêu 2:
Mục tiêu 3:
Nhiều lựa chọn
Đúng sai
Đối chiếu cặp đôi
1
1
1
2. Các dạng bài trắc nghiệm
a) TRẮC NGHIỆM TRẢ LỜI NGẮN(điền vào chỗ trống) :
Câu hỏi với giải đáp ngắn hay một phát biểu chưa hoàn chỉnh với một chỗ hoặc
nhiều chỗ để trống (kiểu điền khuyết)
Yêu cầu: Viết câu trả lời cho câu hỏi hoặc điền thêm vào chỗ còn trống.
VD: (Toán 4) Viết tiếp 3 số tự nhiên thích hợp vào chỗ chấm:
786; 787; 788; 789;……;……;…. .
1; 4; 9; 16;… ;……;…. .
b) TRẮC NGHIỆM ĐÚNG SAI: Gồm 2 phần.
Phần I (Phần đề): Một câu hỏi hoặc một phát biểu.
Phần II: là hai phương án lựa chọn: Đúng-Sai; Phải-Không phải; Đồng ý-Không
VD: (Toán 4) Khoanh vào chữ đặt trước hình có diện tích lớn nhất:
Hình vuông có cạnh là 5cm.
Hình chữ nhật có chiều dài 6cm và chiều rộng 4cm.
Hình bình hành có diện tích là 20cm
2
Hình thoi có độ dài các đường chéo là 10cm và 6cm.
***Ưu- Nhược điểm của các loại trắc nghiệm khách quan
Loại bài trắc
nghiệm
Ưu điểm Nhược điểm
1, Trắc nghiệm
trả lời ngắn
(điền vào chỗ
trống)
-Tốn ít thời gian hơn câu
hỏi yêu cầu cần trả lời dài.
- Yêu cầu HS diễn đạt đúng
cách hiểu của mình.
- Chỉ đánh giá khả năng nhớ lại
của HS.
- Khuyến khích thói quen học vẹt.
- Có lợi cho HS mạnh về vấn đáp.
- Tốn thời gian hơn trắc nghiệm
khác.
- Việc trả lời tóm tắt dẫn đến đoán
mò.
2, Trắc nghiệm
Đúng-Sai
- Dễ xây dựng.
- Chấm điểm dễ và nhanh.
- Khó đọc kĩ danh sách dài.
- Ghép nối các câu không cho thấy
khả năng sử dụng các thông tin đó.
4, Trắc nghiệm
nhiều lựa chọn
- Có thể bao quát phạm vi
rộng lớn các vấn đề.
- Dễ chấm điểm.
- Tốt với những HS diễn
đạt kém.
- Phù hợp với bất kì môn
học nào.
- Khó vì đặt ra các câu bẫy phù
hợp không phải dễ.
- Khuyến khích HS phỏng đoán và
khiến độ tin cậy bị nghi ngờ.
- Tốn thời gian chuẩn bị.
- Không tạo cơ hội làm việc thực
sự cho HS.
- Tỉ lệ may mắn ít hơn so
với câu hỏi đúng/sai.
- Trả lời nhanh.
-Tính hiệu quả cao nếu
được xây dựng tốt.
- Không có lợi với HS mạnh về
vấn đáp.
- Những HS đọc chậm thường gặp
khó khăn.
►BÀI THỰC HÀNH
1. Khái niệm và những kết quả học tập được đánh giá qua bài thực hành
bằng thực hành.
Bước 2: Chọn và phát triên bài tập thể hiện đầy đủ cả nội dung kiến thức và kỹ
năng liên quan trực tiếp đến các thành quả học tập trọng tâm đã xác định ở B1.
Bước 3: Luôn tập trung vào ý định đánh giá
Bước 4: Cung cấp hay gợi ý cho HS những hiểu biết cần thiết
Bước 5: Xây dựng phương hướng và tiến trình thực hiện bài tập một cách rõ ràng
Bước 6: Cho HS biết các tiêu chí đánh giá các hoạt động trong khi làm và sản
phẩm sau khi làm.
5. Cách đánh giá các kỹ năng thực hành: Quan sát và ghi chép điều đã quan sát
được; Sử dụng bảng kiểm; thang mức độ…
V. THU THẬP CÁC THÔNG TIN PHỤC VỤ CHO ĐÁNH GIÁ
*Kĩ thuật phổ biến nhất để thu thập thông tin phục vụ cho đánh giá là quan sát.
Quan sát→ đánh giá → tri thức
→ kĩ năng của HS
→ thái độ
Các quan sát thường ngày được tiến hành để xác định các yếu tố:
Độ chuẩn xác câu trả lời của HS.
Bản chất các câu trả lời của HS đối với các ví dụ, bài tập.
Cách thức phản ứng của HS với 1 bài tập.
Cách thức phản ứng của HS đối với điểm kiểm tra
Các kĩ năng nói, sử dụng để diễn đạt các ý tưởng
Xác định tiến độ của bài học.
Có cần đưa them các ví dụ không?
Nên hỏi HS nào?
Mức độ hứng thú học tập của HS.
Thái độ thể hiện qua các câu trả lời của HS.
*Quy trình quan sát thu thập thông tin:
- Đặt kế hoạch quan sát thường ngày trong quá trình dạy một bài.
- GV nên ghi lại các quan sát, những lí giải và việc đã làm.
trong lớp học đồng thời phát triển kỹ năng điều hành cho HS và mối liên hệ giữa
nhà trường với gia đình được phát triển chặt chẽ hơn.
f) Lập những phiếu để giúp HS dễ dàng thể hiện các nhận xét tự đánh giá.
Ví dụ:
+ Tên HS:…………………lớp……….……ngày……………………
+ Ở trường em giỏi về……………………………………………………
+ Em nghĩ em cần giúp đỡ về
+ Môn học em thích là bởi vì
+ Những điều em thấy khó khăn khi học là
*Quy định về việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập các môn học ( trong đó có
mônToán) của Bộ GDĐT
ĐÁNH GIÁ VÀ XẾP LOẠI HỌC LỰC
Điều 6. Đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì
1. Đánh giá thường xuyên được thực hiện ở tất cả các tiết học theo quy định của
chương trình nhằm mục đích theo dõi, động viên, khuyến khích hay nhắc nhở học
sinh học tập tiến bộ, đồng thời để giáo viên đổi mới phương pháp, điều chỉnh hoạt
động dạy học và hoạt động giáo dục nhằm đạt hiệu quả thiết thực. Đánh giá thường
xuyên được tiến hành dưới các hình thức kiểm tra thường xuyên (KTTX), gồm:
kiểm tra miệng, kiểm tra viết (dưới 20 phút), quan sát học sinh qua hoạt động học
tập, thực hành vận dụng kiến thức, kĩ năng.
2. Đánh giá định kì kết quả học tập của học sinh được tiến hành sau từng giai đoạn
học tập, nhằm thu nhận thông tin cho giáo viên và các cấp quản lí để chỉ đạo, điều
chỉnh quá trình dạy học; thông báo cho gia đình nhằm mục đích phối hợp động
viên, giúp đỡ học sinh.
a) Đối với các môn học đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét: bài kiểm tra định
kì được tiến hành dưới hình thức tự luận hoặc kết hợp tự luận và trắc nghiệm trong
thời gian 1 tiết.
b) Đối với các môn học đánh giá bằng nhận xét: căn cứ vào các nhận xét trong quá
trình học tập, không có bài kiểm tra định kì.
Điều 7. Đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét