CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN VÀ KIỂM TOÁN CHU TRÌNH - Pdf 64

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN VÀ KIỂM TOÁN CHU TRÌNH
BÁN HÀNG -THU TIỀN.
A. Bản chất của kiểm toán.
1. Bản chất của kiểm toán.
Kiểm toán đó là một lĩnh vực còn mới do vậy việc nêu ra kiểm toán là gì
còn là một vấn đề phải bàn luận. Đã có nhiều quan điểm về kiểm toán chẳng
hạn có 3 quan điểm sau:
Quan điểm 1: Quan điểm về kiểm toán của vương Quốc Anh.
“ Kiểm toán đó là một sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những
bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm
để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ nhất định có
liên quan.
Với nội dung trên, định nghĩa đã nêu khá đầy đủ các mặt đặc trưng cơ
bản của kiểm toán. Tuy nhiên, quan niệm này chỉ phù hợp với kiểm toán tài
chính có đối tượng là bản khai tài chính, do kiểm toán viên độc lập hoặc được
bổ nhiệm tiến hành trên cơ sở những chuẩn mực chung.
Quan điểm 2: kiểm toán được đồng nghĩa với kiểm tra kế toán một chức
năng của bản thân kế toán, một thuộc tính cố hữu của kế toán, nội dung của
hoạt động này là rà soát các thông tin kế toán, chứng từ kế toán, định khoản
và ghi sổ kế toán, tính giá các đối tượng kế toán và tổng hợp cân đối kế toán.
Quan điểm này mang tính truyền thống trong điều kiện kiểm toán chưa
phát triển và trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Trong cơ chế này Nhà nước
vừa là chủ sở hữu vừa lãnh đạo trực tiếp nền kinh tế. Do đó chức năng kiểm
tra của Nhà nước được thực hiện trực tiếp với mọi thực thể kinh tế xã hội
thông qua nhiều khâu kể cả kiểm tra kế hoạch, kiểm tra tài chính thường
xuyên qua giám sát viên của Nhà nước đặt tại xí nghiệp đó là kế toán trưởng
đến việc quyết toán và thanh tra các nghiệp vụ cụ thể. Tuy nhiên quan điểm
này mâu thuẫn với việc công nhận kiểm toán là một hoạt động độc lập có
phương pháp riêng và được thực hiện bởi một bộ máy riêng biệt.
Quan điểm 3: Quan điểm hiện đại.
Ta thấy trong quá trình phát triển kiểm toán không chỉ giới hạn ở kiểm

b. Chức năng bày tỏ ý kiến được bày tỏ dưới 2 góc độ.
Góc độ tư vấn đưa ra các lời khuyên trong thư quản lý về vến đề thực
hiện các quy tắc kế toán và hoạch định các chính sách, thực thi các chế độ,
pháp luật, về hiệu quả kinh tế và hiệu năng quản lý.
Góc độ bày tỏ ý kiến được thể hiện qua việc phán sử như một quan toà
hoặc kết hợp với xử lí tại chỗ như công việc của thanh tra.
Như vậy, có thể nói: Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực
trạng hoạt động được kiểm toán bằng hệ thống các phương pháp kỹ thuật của
kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có nghiệp vụ
tương xứng trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực.
3. Phân loại kiểm toán .
Có nhiều cách phân loại kiểm toán trong đó có phân loại kiểm toán theo
đối tượng cụ thể. Theo cách phân loại này gồm có:
a. Kiểm toán bảng khai tài chính.
Kiểm toán bảng khai tài chính đối với một doanh nghiệp gồm có .
- Bảng cân đối tài sản.
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ .
Những bảng khai tài chính này trình bày tình hình tài chính, thu nhập,
những luồng tiền và những chú thích kèm theo nên nó là đối tượng quan tâm
trực tiếp của các tổ chức, cá nhân. Do đó, nó cũng là đối tượng trực tiếp,
thường xuyên của kiểm toán.
Đặc trưng cơ bản của kiểm toán tài chính là ngược với trình tự kế toán
và người thực hiện kiểm toán tài chính là những kiểm toán viên chuyên nghiệp.
b. Kiểm toán nghiệp vụ. Là việc thẩm tra những trình tự và phương
pháp tác nghiệp ở bộ phận hoặc đơn vị được kiểm toán nhằm mục đích đánh
giá tính hiệu lực và hiệu quả của các nghiệp vụ từ đó đưa ra các kiến nghị để
cải tiến và hoàn thiện các hoạt động của doanh nghiệp.
Kiểm toán nghiệp vụ là việc nhận định về thành tích và hiệu quả bao
gồm 3 mặt.

chính của doanh nghiệp dùng để phân tích khả năng thanh toán, tiềm năng,
hiệu quả kinh doanh, triển vọng phát triển cũng như những rủi ro tiềm tàng
trong tương lai vì thế các chỉ tiêu này thường bị phản ánh sai lệch theo. Để có
được những hiểu biết sâu sắc về chu trình bán hàng và thu tiền thì trước hết
phảI nắm được các đặc đIểm, các thuộc tính của chu kì.
Các đặc đIểm của chu kỳ bán hàng và thu tiền gồm có:
- Mật độ phát sinh của các nghiệp vụ tiêu thụ tương đối lớn và phức tạp.
- Có liên quan đến đối tượng bên ngoàI doanh nghiệp.
- Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quy luật cung cầu.
- Doanh thu là cơ sở để đánh giá hiệu quả của một quá trình kinh doanh
và lập phương án phân phối thu nhập đồng thời thực hiện nghĩa vụ với Nhà
nước nên chỉ tiêu này dễ bị xuyên tạc.
- Các quan hệ thanh toán trong mua bán rất phức tạp, chiếm dụng vốn lẫn
nhau, công nợ dây dưa khó đòi. Tuy nhiên, việc lập dự phòng nợ khó đòi lạI
mang tính chủ quan và thường dựa vào khả năng ước đoán của Ban Giám đốc
nên rất khó kiểm tra và thường bị lợi dụng để ghi tăng chi phí.
- Rủi ro đối với các khoản mục trong chu kỳ này xảy ra theo nhiều chiều
hướng khác nhau có thể bị ghi tăng, ghi giảm hoặc vừa tăng vừa giảm theo ý
đồ của doanh nghiệp hoặc một số cá nhân. Chẳng hạn khoản phảI thu có thể bị
khai tăng để che đậy sự thụt két hoặc doanh thu có thể bị ghi giảm nếu nhằm
mục đích trốn thuế, và khai tăng nhằm cảI thiện tình hình tàI chính doanh
nghiệp. Vì thế việc kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền tương đối tốn kém và
mất thời gian. Với chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến về các thông tin tàI
chính nói chung và các thông tin về chu trình bán hàng thu tiền nói riêng thì
kiểm toán viên không thể không xem xét những đặc đIểm của chu kỳ và ảnh
hưởng của nó đến việc lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán sao
cho có hiệu quả.
II.2. Tổ chức kế toán Bán hàng-Thu tiền
Bán hàng-Thu tiền là một giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Là giai đoạn thứ 2 sau quá trình mua vào và thanh toán đối với doanh nghiệp

Bộ phận cung cấp dịch vụ
Kế toán bán h ngà
Lưu chứng từ
Lập hoá đơn cung cấp dịch vụ
Ký duyệt hoá đơn dịch vụ
Thu tiền
Cung cấp dịch vụ
Ghi sổ doanh thu v các sà ổ khác
Thủ quỹ

b. Các tài khoản sử dụng.
Hạch toán trên cơ sở sổ tài khoản là việc vận dụng phương pháp đối ứng
tài khoản để phân loại và ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
vào hệ thống sổ chi tiết và sổ tổng hợp. Để phản ánh được thì phải xây dựng
được một bộ tài khoản phản ánh đầy đủ toàn bộ thông tin có liên quan đến
quá trình Bán hàng-Thu tiền. Bộ tài khoản đó bao gồm các tài khoản sau.
Tài khoản 511 - Doanh thu Bán hàng
Tài khoản 512- Doanh thu bán hàng nội bộ.
Tài khoản 521- Chiết khấu Bán hàng.
Tài khoản 531- Doanh thu hàng bán bị trả lại.
Tài khoản 532- Giảm giá hàng bán
Tài khoản 131- Phải thu khách hàng.
Tài khoản 3387- Doanh thu nhận trước
Tài khoản 139 - Dự phòng phải thu khó đòi.
Tài khoản 641- Chi phí bán hàng
Tài khoản 642- Chi phí quản lý doanh nghiệp
Tài khoản 721- Thu nhập bất thường.
Tài khoản 3331- Thuế giá trị gia tăng đầu ra.
Tài khoản 111 - Tiền mặt tại quỹ.
Tài khoản 112- Tiền gửi ngân hàng

cân đối tài khoản và báo cáo kết quả kinh doanh phục vụ thông tin cho công
tác quản lý. Từ đó nắm rõ được nội dung và quá trình hạch toán kiểm toán chu
trình Bán hàng-Thu tiền, kiểm toán viên tiến hành kiểm toán.
II. Chu trình Bán hàng-Thu tiền với công tác kiểm toán.
II.1. Hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý chu trình Bán hàng-
Thu tiền.
a. Các mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Đối với bất kì một nhà quản trị doanh nghiệp làm ăn chân chính nào
cũng luôn mong muốn hoạt động kinh doanh tại đơn vị mình diễn ra một cách
có hiệu quả nhất. Điều đó thể hiện ở việc thu hồi vốn nhanh, chi phí thấp, lợi
nhuận cao từ đó có thể mở rộng sản xuất kinh doanh theo cả chiều rộng và
chiều sâu ... Để đạt được điều đó thì tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh
tại đơn vị đều phải được kiểm soát chặt chẽ nhằm đảm bảo tất cả các thông tin
là đúng hiện thực, từ đó giúp cho các quản trị gia nắm bắt được các thông tin
và đưa ra các quyết định kịp thời. Như vậy, lí do để doanh nghiệp xây dựng
một hệ thống kiểm soát nội bộ là để giúp doanh nghiệp thoả mãn các mục tiêu
của mình, và điều quan trọng để đảm bảo thành công cho quá trình kiểm tra
kiểm soát trong nội bộ đơn vị là việc xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ
phù hợp với đặc điểm và quy mô hoạt động của doanh nghiệp.
Theo định nghĩa của liên đoàn kế toán quốc tế thì hệ thống kiểm soát nội
bộ là một hệ thống các chính sách và thủ tục nhằm vào 4 mục tiêu sau.
+) Bảo vệ tài sản của đơn vị
+) Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin.
+) Bảo đảm để thực hiện các quy định pháp lý.
+) Bảo đảm hiệu quả của hoạt động
Như vậy, đối với một doanh nghiệp thì hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn
bộ các chính sách và thủ tục kiểm soát do đơn vị thiết lập và duy trì nhằm điều
hành các hoạt động của đơn vị để đảm bảo các mục tiêu sau:
+) Điều khiển và quản lý hoạt động kinh doanh có hiệu quả.
+) Đảm bảo được mọi hoạt động của đơn vị đều được thực hiện đúng

tiếp gia tăng hiệu quả lao động. Để xây dựng được một đội ngũ cán bộ tốt đòi
hỏi phải có chính sách tuyển dụng, đề bạt và khen thưởng công bằng.
Mặt 4: Kế hoạch và chiến lược một hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh
giá là có hiệu quả khi doanh nghiệp có một chiến lược trước mắt và lâu dài. Kế
hoạch và chiến lược hoạt động là căn cứ để xem xét doanh nghiệp có định
hướng phát triển lâu dài.
Mặt 5: Uỷ ban kiểm soát bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo
cao nhất của doanh nghiệp ( những thành viên chính thức của hội đồng quản
trị, những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát). Uỷ ban kiểm soát thường
được giao trách nhiệm giám sát quá trình báo cáo tài chính của tổ chức, gồm
cả cơ cấu kiểm soát nội bộ và sự tuân thủ những điều luật và các quy định.
Mặt 6: Các nhân tố bên ngoài. Hoạt động của đơn vị còn chịu ảnh hưởng
của các nhân tố bên ngoài như luật pháp, sự kiểm tra, thanh tra của các cơ
quan nhà nước, ảnh hưởng của các chủ nợ, con nợ, đặc biệt là đường lối phát
triển của đất nước và bộ máy quản lý ở tầm vĩ mô.
b2. Hệ thống kế toán là một công cụ quản lý kinh tế tài chính, có chức
năng thông tin và kiểm tra về tình hình tài sản bằng phương pháp chứng từ,
phương pháp đối ứng tài khoản,phương pháp tính giá và phương pháp tổng
hợp cân đối kế toán.
Hệ thống kế toán bao gồm đầy đủ các yếu tố như sổ chứng từ, sổ chi tiết,
hệ thống sổ tổng hợp và hệ thống bảng tổng hợp và cân đối kế toán trong đó
quá trình lập và luân chuyển chứng từ đóng vai trò quan trọng trong công tác
kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp.
VD: Quá trình lập và luân chuyển chứng từ.
Lập Duyệt Thực thi Ghi sổ Lưu Huỷ
b3: Các thủ tục kiểm soát. Thủ tục kiểm soát là chế độ và thể thức ngoài
các yếu tố về môi trường kiểm soát và các đặc điểm của hệ thống kế toán đã
được ban quản trị xây dựng để thoả mãn các mục tiêu của họ. Các thủ tục kiểm
soát được xây dựng trên 3 nguyên tắc cơ bản sau.
Nguyên tắc 1 : Phân công phân nhiệm rõ ràng.

mục tiêu đặt ra nhằm cung cấp một bố cục giúp kiểm toán viên tập hợp đầy đủ
bằng chứng cần thiết. Các mục tiêu đặt ra này có liên quan chặt chẽ đến việc
xác nhận của doanh nghiệp mà cụ thể là ban quản trị về các tiêu chuẩn của
đặc tính thông tin đã trình bày trên báo cáo tài chính. Thông thường các bước
triển khai mục tiêu kiểm toán là như sau.
Biểu 03.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status