CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG - Pdf 63

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO KHẢ
NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I. THỊ TRƯỜNG VÀ CÁC QUY LUẬT KINH TẾ:
1. Khái niệm và chức năng thị trường:
a) khái niệm:
Thị trường là nơi trao đổi hàng hoá được sản xuất ra và hình thành trong
quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá cùng với mọi quan hệ kinh tế giữa người
với người, liên kết với nhau thông qua trao đổi hàng hoá, thông qua đó để xác định
giá cả và mức sản lượng hàng hoá cần tiêu thụ.
Thị trường đó là nơi địa điểm diễn ra sự trao đổi mua bán, thị trường có thể
là chợ, của hàng, sở giao dịch mà ở đó có sự cạnh tranh của các chủ thể kinh tế. Đó
là cạnh tranh giữa người mua, người bán sản xuất và tiêu dùng hàng hoá với nhau
để xác định khối lượng hàng hoá tiêu thụ cơ chế thị trường là guồng máy hoạt động
theo nên kinh tế thị trường thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo yêu cầu của cơ chế
khách quan điều tiết quá trình lưu thông hàng hoá theo quy luật thị trường.
Do đó cơ chế thị trường điều tiết nền kinh tế để làm nền sản xuất cân đối
giữa cung và cầu cân bằng giá cả, giá trị giữa sản xuất và lưu thông một cách tĩnh
tại để giải quyết vấn đề cơ bản của nền sản xuất hàng hoá đó là sản xuất cái gì, sản
xuất như thế nào, sản xuất cho ai.
b) Chức năng của thị trường:
Thị trường là nơi thừa nhận công dụng xã hội của các sản phẩm của hàng
hoá chỉ có quan hệ thị trường mới biết và chấp nhận hàng hoá. Trên thị trường
người sản xuất, người tiêu thụ hàng hoá, mua nguyên vật liệu để sản xuất và người
lao động mua về sinh hoạt để tái sản xuất sức lao động.
Thị trường còn là đòn bẩy kích thích sản xuất và tiêu dùng, đảm bảo sản
xuất luôn luôn phù hợp với nhu cầu tiêu dùng vì khi sản xuất mang ra thị trường,
người sản xuất bán được hàng rồi tiếp tục sản xuất dẫn đến sản xuất phát triển.
Thị trường kích thích làm giảm chi phí sản xuất.
Thị trường còn là nơi cung cấp thông tin cực kì quan trọng giúp cho người
sản xuất để sản xuất phù hợp với nhu cầu của thị hiếu của sản xuất.

định cầu chính là cung tạo ra cầu thông qua chủng loại giá cả của hàng hoá. Mặt
hàng nào ưa chuộng tác động đến cầu làm cho cầu tăng lên.
c) Quy luật giá cả:
Giá cả thị trường là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường , do sự thoả
thuận giữa người mua và người bán.
II. CẠNH TRANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG:
1. Khái niệm cạnh tranh:
Khái niệm về cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày dưới nhiều góc độ
khác nhau, trong các giai đoạn khác nhau của nền kinh tế xã hội. Dưới thời kì Chủ
nghĩa Tư bản phát triển vượt bậc, Mác quan niệm rằng “Cạnh tranh TBCN là sự
ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà Tư bản nhằm giành giật những điều
kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu
ngạch”. Chủ nghĩa Tư bản phát triển đến đỉnh điểm chuyển sang Chủ nghĩa Đế
quốc rồi suy vong và cho đến ngày nay kinh tế Thế giới đã dần đi vào quỹ đạo của
sự ổn định với su hướng chủ đạo là hôi nhập, hoà đồng giữa các nền kinh tế, cơ chế
hoạt động là cơ chế thị trường có sự quản lí điều tiết của nhà nước thì khái niệm
cạnh tranh đã mất hẳn tính chính trị nhưng về bản chất thì nó vẫn không thay đổi:
Cạnh tranh vẫn là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua giữa các tổ chức, các doang
nghiệp nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh để
đạt được mục tiêu của tổ chức, của doanh nghiệp đó.
Trong kinh tế thị trường cạnh tranh là sự sống còn của mỗi doanh nghiệp,
cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữ các doanh nghiệp trong việc giành
một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị
trường, để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể. Ví dụ như lợi nhuận, doanh số
hoặc thị phần. Cạnh tranh trong một môi trường như vậy đồng nghĩa với ganh đua:
Ganh đua về giá cả, số lượng, dịch vụ hoặc kết hợp giữa các yếu tố này với các
nhân tố khác để tác động lên khách hàng. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh
các tín hiệu giá cả, lợi nhuận tạo lên sự kích thích giữa các doanh nghiệp từ nơi tạo
ra giá trị thấp hơn sang nơi cao giá trị cao hơn, việc phân cấp quá trình ra quyết
định cho doanh nghiệp sẽ thúc đẩy phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm của

bịp, hàng giả, hàng lậu.
3. Các loại hình cạnh tranh:
Có nhiều cách phân loại cạnh tranh dựa trên các tiêu thức khác nhau.
3.1- Căn cứ vào các chủ thể tham gia thị trường:
*) Cạnh tranh giữa những người bán với người mua: là cuộc cạnh tranh
diễn ra theo quy luật “Mua rẻ, bán đắt” những người bán muốn bán những sản
phẩm của mình với giá cao nhất, ngược lại những người mua lại có tham vọng mua
được hàng hoá với giá rẻ. Hai lực lượng này hình thành lên hai phía cung cầu trên
thị trường. Giá cuối cùng (Giá cân bằng) là giá thống nhất giữa người mua và
người bán sau một quá trình mặc cả với nhau mà theo đó hoạt động Bán - Mua
được thực hiện.
*) Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Là cuộc cạnh tranh dựa
trên cơ sở quy luật cung cầu. Khi lượng cung một loại hàng hoá dịch vụ nào đó mà
thấp hơn so với nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh giữa những người mua sẽ trở
lên quyết liệt. Lúc đó giá cả hàng hoá dịch vụ sẽ tăng vọt nhưng do hàng hoá dịch
vụ khan hiếm lên người mua vẫn chấp nhận gía cao để mua thứ mà mình cần. Kết
quả là người bán thu được lợi nhuận cao, còn người mua thì mất thêm một số tiền.
Đây là cuộc canh tranh mà theo đó những người mua sẽ bị thiệt còn người bán sẽ
được lợi.
*) cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Đây là cuộc cạnh tranh
chính trên thị trường tính gay go khốc liệt nhất mà có ý nghĩa sống còn đối với
doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau, thủ tiêu nhau để giành giật
khách hàng và thị trường làm cho giá cả không ngừng giảm xuống và người mua
sẽ được lợi kết quả đánh giá doanh nghiệp nào chiến thắng trong cuộc cạnh tranh
này là viẹec tăng doanh số tiêu thụ, tăng tỷ lệ thị phần cùng với nó là việc tăng lợi
nhuận, tăng đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất.
Thực tế cho thấy khi sản xuất hàng hoá càng phát triển số người bán càng
tăng lên thì cạnh tranh cũng càng quyết liệt. Trong quá trình ấy, một mặt nó sẽ gạt
ra khỏi thị trường những doanh nghiệp không có chiến lược cạnh tranh thích hợp,
mặt khác nó lại mở đường cho các doanh nghiệp khác lắm chắc được vũ khí cạnh

*) Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh trên thị trường mà ở đó có một số
người bán một số sản phẩm thuần nhất hoặc nhiều người bán một số sản phẩm
không đồng nhất. Họ có thể kiểm soát gần như toàn bộ số lượng sản phẩm hay
hàng hoá bán ra thị trường. Thị trường này có sự pha trộn giữa độc quyền và cạnh
tranh giữa các nhà độc quyền. Điều kiện ra nhập hoặc rút lui ra khỏi thị trường này
có nhiều trở ngại do vốn đầu tư lớn hoặc độc quyền về bí quyết công nghệ. Thị
trường cạnh tranh độc quyền không có cạnh tranh về giá cả mà một số người bán
toàn quyền quyết định giá cả. Họ có thể định giá cao hơn hoặc thấp hơn giá thị
trường tuỳ thuộc vào đặc điểm tác dụng của từng loại sản phẩm, cốt sao cuối cùng
họ thu được lợi nhuận tối đa. Những doanh nghiệp nhỏ tham gia thị trường này
phải chấp nhận bán hàng theo giá cả của những nhà độc quyền.
Trong thực tế có tình trạng độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩm nào
thay thế sản phẩm độc quyền hoặc các nhà độc quyền liên kết với nhau. Độc
quyền gây trở ngại cho việc phát triển sản xuất làm phương hại cho người tiêu
dùng. Vì vậy mà ở một số nước có luật chống độc quyền nhằm chống lại sự liên
minh giữa các nhà kinh doanh.
3.3- Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế:
*) Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các nhà doanh
nghiệp trong cùng một ngành sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoá, dịch vụ nào
đó. Trong cuộc cạnh tranh này, các chủ doanh nghiệp tìm mọi cách thôn tính lẫn
nhau, giành khách hàng về mình. Biện pháp của cạnh tranh chủ yếu là cải tiến kỹ
thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất nhằm làm giảm giá trị cá
biệt của hàng hoá do doanh nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội để thu được
nhiều lợi nhuận siêu nghạch. Kết quả của cạnh tranh là kỹ thuật sản xuất phát triển,
điều kiện sản xuất trung bình trong một ngành sản xuất thay đổi. Giá trị xã hội của
hàng hoá được xác định lại, tỷ suất lợi nhuận giảm xuống đồng thời các doanh
nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường, những
doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh thậm chí bị phá sản.
*) Cạnh tranh giữa các ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các nhà doanh
nghiệp hay đồng minh giữa các nhà doanh nghiệp trong ngành kinh tế với nhau,

cạnh tranh, và do đó rất thụ động, chỉ biết sản xuất theo lệnh của cấp trên chứ
không biết đến nhu cầu của xã hội. Vì vậy khi chuyển sang nền kinh tế thị trường,
nhiều doanh nghiệp nhà nước rất khó khăn vất vả để thích nghi với cơ chế mới. Để
cạnh tranh và đứng vững trước các đối thủ mới là các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế đặc biệt là các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài có vốn
nhiều và kỹ thuật cao lại dầy dạn kinh nghiệm trong cạnh tranh. Vì vậy nâng cao
khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp nhà
nước nói riêng vừa là sự cần thiết cho sự tồn tại của doanh nghiệp vừa là để tăng
tính cạnh tranh thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status