Tìm hiểu quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng thu ngân sách nhà nước từ các khoản vay nợ ở Việt Nam – một số nhận xét, đánh giá - Pdf 33

Ch:Tìm hiểu quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng thu ngân sách nhà nước
từ các khoản vay nợ ở Việt Nam – một số nhận xét, đánh giá

A. MỞ BÀI
Vay nợ của nhà nước là một chiến lược huy động vốn cho ngân sách nhà
nước để đầu tư phát triển kinh tế xã hội, trong nhiều năm qua Chính Phủ, Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh và các doanh nghiệp nhà nước đã tổ chức huy động các
nguồn vốn trong nước, nước ngoài thông qua hình thức vay nợ. Các khoản vay
nợ ở Viêt Nam hiện nay đã trở thành khoản thu quan trọng trong ngân sách nhà
nước góp phần bù đắp thâm hụt ngân sách quốc gia và đây một phần vốn rất
quan trọng cho việc phát triển nền kinh tế đất nước.

B. NỘI DUNG
I. Quy định của pháp luật về thu ngân sách nhà nước từ các khoản vay nợ
ở Việt Nam
1, Khái niệm thu ngân sách nhà nước: Thu ngân sách nhà nước là hoạt
động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm huy động của cải xã hội dưới
hình thức giá trị vào quỹ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật để
phục vụ thu chi của nhà nước.
2, Khái niệm vay nợ: “Nợ chính phủ, còn gọi là Nợ công hoặc Nợ quốc gia,
là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến
địa phương đi vay. Việc đi vay này là nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt
ngân sách nên nói cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách luỹ kế đến
một thời điểm nào đó.” (http://vi.wikipedia.org).
2.1, Nguồn thu ngân sách nhà nước từ vay nợ
- Trái phiếu chính phủ:
- Khái niệm trái phiếu: Trái phiếu là loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của
người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán
(người cho vay) một khoản tiền xác định (mệnh giá của trái phiếu), thường là
trong những khoảng thời gian cụ thể, và với một lợi tức quy định.
+ Trái phiếu chính phủ là trái phiếu do chính phủ phát hành nhằm mục đích bù

thể được vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ. Trong một số dự án
ODA đã thí điểm áp dụng cơ chế chính quyền địa phương vay lại nguồn vốn
ODA cho các dự án cơ sở hạ tầng thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa
phương; địa phương chịu trách nhiệm bố trí từ nguồn ngân sách của địa phương
để trả nợ khi đến hạn. Trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ, một
số tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương được tự tìm nguồn vốn, đàm phán vay

2


(nguồn vốn không ưu đãi) nhưng phải thực hiện cơ chế Chính phủ ký vay và
cho vay lại
- Vay nợ của các định chế tài chính phát triển nhà nước
- Vay nợ của doanh nghiệp nhà nước. theo Luật DNNN các DNNN được vay
trong nước, ngoài nước (kể cả phát hành trái phiếu) được chính phủ bảo lãnh
(Điều 31 đến Điều 36 Luật QL Nợ công). Việc bảo lãnh vay nước ngoài của
Chính phủ cho DNNN thực hiện theo Nghị định 134/2005/NĐ-CP ngày
01/11/2005 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài.
2.2, Các hình thức vay nợ
- Phát hành trái phiếu chính phủ.
Chính phủ có thể phát hành Trái phiếu chính phủ để vay từ các tổ chức,
cá nhân. Trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi
ro tín dụng vì Chính phủ có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán
cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn. Trái phiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ
(thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) có rủi ro tín dụng cao hơn so với khi
phát hành bằng nội tệ vì chính phủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán
và ngoài ra còn có rủi ro về tỷ giá hối đoái.
- Vay trực tiếp.
Chính phủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại,
các thể chế siêu quốc gia (ví dụ: Quỹ Tiền tệ Quốc tế)... Hình thức này thường

Để bảo đảm an toàn nợ của quốc gia và nợ của chính phủ. Thứ nhất, giới
hạn nợ quốc gia không vượt quá 50% – 60% GDP hoặc không vượt quá
150% kim ngạch xuất khẩu. Thứ hai, dịch vụ trả nợ quốc gia không
vượt quá 15% kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ trả nợ của chính phủ không
vượt quá 10% chi ngân sách.
1, Nợ trong nước.
Nợ trong nước là khoản vay từ người cho vay trong nước.
Ở nước ta, để thực hiện chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế, Chính phủ
phải gắn một phần trách nhiệm của mình đối với một số khoản nợ của các chủ
thể kinh tế khác, chẳng hạn của các tổ chức công, như Quỹ hỗ trợ phát triển
doanh nghiệp nhà nước và nợ của khu vực tư có bảo lãnh của Chính phủ.
- Các khoản vay nợ trong nước của Việt Nam bao gồm:
+ Phát hành trái phiếu Chính phủ,trái phiếu địa phương (Nghị định số
01/2011/NĐ –CP quy định về phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu
được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương).
4


+ Vay từ ngân hàng nhà nước;
+ Vay từ các tổ chức, cá nhân khác.
- Thực tiễn các khoản vay trong nước.
Đối với Việt Nam, trái phiếu là hình thức huy động vốn có hiệu quả, qua
các đợt phát hành với chính sách lãi suất và thời hạn hoàn trả hợp lý đã huy
động được nguồn vốn khá lớn vào ngân sách nhà nước đáp ứng kịp thời nhu
cầu chi tiêu của nhà nước góp phần chống lạm phát và ổn định nền kinh tế xã
hội. Đến nay có 3 địa phương bao gồm thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí
Minh và Đà Nẵng thực hiện vay thông qua phát hành trái phiếu. Thành phố Hồ
Chí Minh là địa phương đầu tiên ở Việt Nam được thực hiện phát hành trái
phiếu chính quyền địa phương, là trái phiếu đô thị TP.HCM. Phát hành trái
phiếu đô thị là một trong những kênh huy động vốn hiệu quả của Thành phố Hồ

2, Nợ nước ngoài.
Nợ nước ngoài là các khoản vay từ người cho vay ngoài nước dưới hình
thức ODA, vay thương mại, phát hành trái phiếu chính phủ trên thị trường quốc
tế.
Vốn vay viện trợ phát triển (ODA) là một phần của nguồn tài chính chính
thức mà Chính phủ các nước phát triển và các tổ chức đa phương dành cho các
nước đang phát triển nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội các quốc
gia này. Vốn ODA bao gồm tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại, có hoàn
lại và vay ưu đãi; trong đó phần viện trợ không hoàn lại và các yếu tố ưu đãi
khác chiếm ít nhất 25% vốn cung ứng. Hơn những năm qua, Việt Nam đã có
được những thành công đáng kể trong lĩnh vực này: đầu tư bằng vốn ODA
chiếm khoảng 12% tổng vốn đầu tư xã hội, 28% vốn đầu tư từ NSNN 50% vốn
tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. ( bảng 1 tình hình ODA từ năm 1993
đến 2006). (((….))
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch-Đầu Tư, tổng giá trị giải ngân vốn ODA 5
tháng đầu 2011 ước tính đạt 1,26 tỷ USD, bằng 52,5% kế hoạch giải ngân của
cả năm. Đây được xem là con số giải ngân ODA cao kỷ lục so với nhiều năm
trước đó.
+ Vốn ODA ký kết cũng tăng rất cao trong 6 tháng đầu năm 2011. Tổng số
vốn ODA ký kết trong 5 tháng đầu năm nay thông qua các hiệp định từ mức
hơn 1 tỷ USD trong các công bố chính thức cách đây khoảng hai tháng, vọt lên
trên 1,66 tỷ USD, tăng khoảng 20% so với cùng kỳ năm ngoái.
Việc sử dụng ODA trong thời gian qua đã có hiệu quả, tác động tích cực đến
phát triển năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng dịch vụ của các ngành và địa
6


phương. Từ nguồn vốn ODA, từ đầu năm 1993 đến cuối năm 2010 các dự án và
công trình nổi bật được hoàn thành ở Việt Nam đó là: hệ thống giao thông hạ
tầng của VN đã được cải thiện rõ rệt (Các công trình giao thông như Quốc lộ 5,



ngoài của Chính phủ giảm xuống dưới 50%. Quyết định cũng nêu rõ định
hướng huy động vốn theo hướng vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài
là quan trọng. Tập trung huy động tối đa nguồn vốn vay viện trợ phát triển
(ODA), thận trọng với nguồn vốn vay thương mại nước ngoài. Việc vay và trả
nợ nước ngoài của các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng phải nằm trong hạn
mức vay thương mại nước ngoài hằng năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Trong cơ cấu nợ Chính phủ, nợ nước ngoài có ảnh hưởng không nhỏ đến
khả năng thanh toán quốc gia. Sự vay mượn nước ngoài quá mức sẽ đẩy nền
kinh tế quốc gia phụ thuộc nhiều vào kinh tế nước ngoài. Bài học về khủng
hoảng nợ Hy Lạp gần đây cho thấy rõ ràng về những quốc gia đang phát triển
nóng theo đuổi những “con số đẹp” về chỉ tiêu tăng trưởng, nếu cứ tiếp tục đi
vay và sử dụng tiền vay không hiệu quả, chắc chắn sẽ để lại cho thế hệ tương
lai một món nợ khổng lồ.
III. Đánh giá và một số giải pháp hoàn thiện.
1, Đánh giá:
Các khoản thu từ vay nợ chủ yếu được dùng để chi đầu tư.
Đối với Việt Nam, một điều không thể phủ nhận là để tiến hành công nghiệp
hóa và hiện đại hóa, việc vay nợ nước ngoài là cần thiết. Tuy nhiên, thực tế
hiện nay, vay mượn và sử dụng nguồn vốn vay mượn đó như thế nào để có hiệu
quả mới là vấn đề cần được đặt sự quan tâm lên hàng đầu.
Theo nhìn nhận của các chuyên gia, hiệu quả quản lý, sử dụng nợ cũng chưa
có sự cải thiện rõ rệt và cần có những giải pháp cụ thể nhằm giải quyết thấu đáo
vấn đề này, qua đó mới có thể giảm bớt gánh nặng nợ công. Vấn đề đặt ra là
Chính phủ cần có một chiến lược kiểm soát đầu tư công, giảm thâm hụt ngân
sách để có thể kiểm soát được nợ vay nước ngoài. Nếu không tình trạng nợ
nước ngoài sẽ là một vấn đề phức tạp trong dài hạn.
Đánh giá nợ nước ngoài theo tiêu chuẩn HIPCs([1] HIPCs (Các nước nghèo
gánh nặng nợ cao.):

Nợ/GDP
Nợ/thu ngân sách
NPV nợ /thu ngân sách
Dịch vụ nợ / thu ngân sách
Lãi suất/thu ngân sách

Mức ngưỡng
20% – 25%
92% – 167%
88% – 127%
28% – 63%
4,6% – 6,8%

VN
9%
32%
11%
1,6%

Nguồn: UNDP, Dự án VIE/01/010.
Theo mức ngưỡng mà Ngân hàng Thế giới đưa ra ở bảng trên, nợ trong
nước của VN ở mức khá an toàn. Từ chỉ tiêu: nợ/GDP đến lãi suất/thu ngân
sách, chỉ số nợ trong nước của VN năm 2005 thấp khá xa so với mức ngưỡng
của Ngân hàng Thế giới. Trong trường hợp này, VN vẫn có khả năng gia tăng
nợ công trong nước mà không làm ảnh hưởng đến tính bền vững nợ.
Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh tăng cường quản lý nợ nước
ngoài là một trong những vấn đề được đặt ra trong công tác quản lý vay và trả
nợ nước ngoài trong thời gian
Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh, ngành tài chính cần tạo
mọi điều kiện cho nhà đầu tư trong và ngoài nước xây dựng phát triển kinh tế,

- Những điểm hạn chế từ việc thu ngân sách nhà nước từ các khoản vay
nợ:
+ Nguồn ngân sách nhà từ việc vay nợ ngày càng tăng, việc trả nợ không đảm
bảo ngày càng tăng, món nợ của nhà nước ngày ngày lớn để laị cho thế hệ
tương lai món nợ khổng lồ hậu quả của việc này là rất khó lường trước có thể
dẫn đến khủng hoảng tài chính
10


+ Nợ nước ngoài quá nhiều sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ
các khoản tài trợ ngoài nước. Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo,
khoản tiền nợ sẽ tỏ ra kém hiệu quả và tình trạng tham nhũng, lãng phí sẽ tràn
lan nếu thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ việc sử dụng và quản lý nguồn thu từ
vay nợ.
+ Giải pháp trả nợ, phương án trả nợ của nhiều khoản vay vẫn chưa được đảm
bảo. Nhiều doanh nghiệp nhà nước làm ăn vẫn còn thua lỗ dẫn đến phá sản kéo
theo là một món nợ khổng lồ hàng nghìn tỷ ngân sách nhà nước phải gánh chịu
hậu quả.
+ Việc quản lý nợ công chưa thật sự hiệu quả, tính công khai minh bạch chưa
được công bố một cách rõ ràng. Việc sử dụng vốn vay như thế nào hầu như
người dân không biết.
2, Giải pháp hoàn thiện thu ngân sách nhà nước từ các khoản nợ vay.
- Trước hết, Chính phủ phải rà soát lại tất cả các dự án sử dụng vốn vay nợ,
nếu dự án nào không đem lại lợi ích kinh tế thì nên thay thế. Chính phủ nên
tính toán kỹ số tiền nợ hiện tại, trong các năm tới trả gốc và lãi bao nhiêu, thời
gian trả nợ, đặc biệt là lấy nguồn tiền ở đâu để trả? Lập kế hoạch, phương án
trả nợ cụ thể.
- Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, chú trọng vào xuất khẩu, tích trữ ngoại
hối dài hạn. Ngoài ra, Quốc hội cần thành lập một ủy ban giám sát nợ công để
rà soát khả năng trả nợ và tiến độ trả nợ nước ngoài.

nước, tăng cương đổi mới quy trình thực hiện thu ngân sách từ các khoản vay
nợ
- Các khoản thu, chi từ vay nợ cần phải công khai minh bạch hóa cho người
dân để biết trên các phương tiện truyền thông trong nước, nước ngoài, từ các
khoản thu nhà nước đã sử dụng như thế nào? Để cho người dân cùng biết.

C. KẾT LUẬN
Pháp luật hiện hành đã quy định khá chi tiết về các khoản vay nợ và việc
chi ngân sách từ các khoản vay nợ, thực tiễn áp dụng trong nhiều năm qua các
khoản vay nợ đã góp phần tích cực cho việc phát triển cơ sở hạ tầng của đất
nước; trong đó vẫn còn một số bất cập trong việc sử dụng, quản lý nguồn vốn

12


này, vì vậy pháp luật cần phải quy định lại môt cách phù hợp hơn cho phù hợp
với sự phát triển của nền kinh tế xã hội hiện nay.

13




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status