Đề tài: Bình luận về các điều kiện chi ngân sách nhà nước (qui định pháp luật và thực tiễn áp dụng) - Pdf 19

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
Bình luận về các điều kiện chi ngân
sách nhà nước
(qui định pháp luật và thực tiễn áp dụng)
MỤC LỤC
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP 1
Đề tài 1
Bình luận về các điều kiện chi ngân sách nhà nước 1
(qui định pháp luật và thực tiễn áp dụng) 1
MỤC LỤC 2
A – MỞ BÀI
Như chúng ta đã biết , sự ra đời và tồn tại của nhà nước và sự xuất hiện của nền
sản xuất hàng hóa bao giờ cũng gắn liền với sự ra đời và tồn tại của ngân sách nhà
nước. Đó là hệ thống các mối quan hệ kinh tế phát sinh giữa nhà nước và các chủ thể
khác trong nền kinh tế thông qua quá trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ tiền
tệ tập trung quan trọng nhất của nhà nước nhằm đáp ứng cho việc thực hiện các chức
năng nhiệm vụ của nhà nước về mọi mặt. Ngân sách nhà nước cũng đã trở thành công
cụ quan trọng nhất được nhà nước sử dụng để khắc phục những khuyết tật của nền
kinh tế thị trường, huy động nguồn tài chính, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, cũng như
điều tiết thu nhập nhằm đảm bảo công bằng xã hội. Những việc đó được thực hiện
thông qua hoạt động thu, chi ngân sách nhà nước. Thu để định hướng đầu tư , kích
thích hoặc hạn chế sản xuất,kinh doanh…chi để nâng cao chất lượng y tế, giáo dục,
nâng cao đời sống nhân dân…Tuy nhiên trong điều kiện ngân sách nhà nước còn eo
hẹp ,thì việc thu, chi ngân sách thế nào cho hiệu quả và tiết kiệm , tránh được tình
trạng thất thoát, thâm hụt ngân sách luôn là bài toán khó đặt ra cho nhà nước ta. Chi
ngân sách phải được tiến hành trên cơ sở pháp luật và theo kế hoạch chi ngân sách
cũng như phân bổ ngân sách do cơ quan quyền lực nhà nước quyết định. Mọi khoản
chi ngân sách phải phù hợp với các quy định của pháp luật về các điều kiện chi ngân
sách.
Với mục đích đi sâu tìm hiểu về các điều kiện chi ngân sách nhà nước cũng

gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm
hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước; chi viện trợ và các khoản
chi khác theo quy định của pháp luật. Khái niệm trên đã chỉ ra một cách khá đầy đủ
những nội dung chi cơ bản, mang tính then chốt cho việc đảm bảo các hoạt động của
bộ máy nhà nước, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong các lĩnh vực
khác nhau.
Như vậy, ta có thể hiểu chi ngân sách nhà nước là phân phối và sử dụng quỹ
ngân sách nhà nước theo dự toán ngân sách đã được chủ thể quyền lực quyết định
nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy nhà nước và bảo đảm thực hiện các chức năng
của Nhà nước. Chi ngân sách nhà nước là một nội dung quan trọng cơ cấu nên đạo
luật thường niên ngân sách nhà nước. Vậy chi ngân sách nhà nước mang những đặc
điểm gì?
2. Đặc điểm chi ngân sách nhà nước
Dựa trên những khái niệm về chi ngân sách nhà nước đã được đưa ra, ta có thể
thấy chi ngân sách nhà nước mang những đặc điểm sau:
- Chi ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối và sử dụng quỹ ngân sách
nhà nước, hoạt động này chỉ có thể thực hiện trên cơ sở quy định pháp luật và dự toán
ngân sách do cơ quan quyền lực nhà nước quyết định. Nội dung chi ngân sách phải
nằm trong bản dự toán ngân sách hàng năm. Bản dự toán ngân sách này do Quốc hội
thông qua. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền quyết định tổng số chi NSNN bao
gồm chi ngân sách trung ương và chi ngân sách địa phương, tổng số chi và mức chi
từng lĩnh vực… Chi ngân sách là một nội dung quan trọng quyết định đến hiệu quả
quản lý Nhà nước của bộ máy nhà nước vì vậy nó phải được thông qua theo nguyên
tắc tập thể, tập trung trí tuệ tập thể và qua một quy trình luật định nghiêm ngặt. Trước
tiên, Thủ tướng Chính phủ quyết định lập dự toán NSNN năm sau, trong đó có nội
dung chi ngân sách. Căn cứ vào quyết định đó, Bộ Tài chính ra quyết định hướng dẫn
về yêu cầu, nội dung, thời hạn lập dự toán NSNN…Trên cơ sở quyết định của Chính
phủ và hướng dẫn của Bộ tài chính, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn lập dự toán
ngân sách các cấp ở địa phương. Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trong việc thu
chi phải tổ chức lập dự toán ngân sách trong phạm vi nhiệm vụ được giao, báo cáo cơ

hóa bằng pháp luật đối với hoạt động chi ngân sách, Nhà nước còn hướng đến những
mục tiêu khác, trong đó bao gồm mục tiêu quản lý hiệu quả việc sử dụng công quỹ và
tăng cường kỷ luật ngân sách, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý các hành vi
vi phạm pháp luật về ngân sách nói chung và pháp luật về chi ngân sách nói riêng,
góp phần hạn chế tình trạng tham hang, lãng phí tài sản nhà nước.
3. Phân loại chi ngân sách nhà nước
Chi ngân sách nhà nước gồm nhiều loại: chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo
đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của
Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật (Khoản 2
Điều 2 Luật NSNN 2002). Tuy nhiên, nếu căn cứ vào tiêu chí mục đích kinh tế - xã
hội của các khoản chi ngân sách nhà nước thì ta có thể phân chia các khoản chi
NSNN thành hai loại:
- Chi đầu tư phát triển: là khoản chi phản ánh việc Nhà nước sử dụng một bộ
phận ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển
sản xuất nhằm bảo đảm thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế. Đây là
khoản chi mang tính tích lũy. Theo Khoản 1 Điều 3 NĐ 60/2003/NĐ-CP thì các
khoản chi được xếp vào loại chi đầu tư phát triển gồm: chi đầu tư xây dựng các công
trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn; chi đầu tư và hỗ
trợ cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính Nhà nước; chi bổ sung dự
trữ nhà nước; chi đầu tư phát triển thuộc các mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước…Chi
đầu tư phát triển phải đảm bảo cấp đủ và đúng tiến độ thực hiện trong phạm vi dự
toán được giao.
- Chi thường xuyên: là khoản chi nhằm thực hiện nhiệm vụ thường xuyên của
Nhà nước về quản lý các mặt của đời sống xã hội. Đây là những khoản chi mang tính
ổn định, định kỳ, lặp đi lặp lại và là khoản chi mang tính tiêu dùng, vì vậy nó không
có tính tích lũy. Những khoản chi này gồm: chi cho các hoạt động sự nghiệp giáo
dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao,
khoa học và công nghệ; chi cho hoạt động của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
- xã hội; chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế; chi cho quốc phòng an ninh, trật tự
an toàn xã hội…Chi thường xuyên theo định kỳ được bố trí kinh phí đều trong năm

chi mang tính đặc thù phát sinh từng lần. Do đó, phạm vi áp dụng của phương thức
này cũng hẹp hơn phương thức chi theo hạn mức. Tuy nhiên, phương thức này lại tạo
được sự chủ động tối đa cho các đơn vị sử dụng ngân sách, thêm vào đó nâng cao
trách nhiệm của cơ quan tài chính trong quá trình cấp phát kinh phí. Điểm mạnh này
có được là nhờ trình tự thực hiện phương thức này: Cơ quan tài chính phát hành lệnh
chi tiền yêu cầu Kho bạc nhà nước chi trả một số tiền cho đơn vị sử dụng ngân sách
theo đúng nội dung lệnh chi. Nhận được lệnh chi tiền, Kho bạc nhà nước xuất quỹ
thanh toán cho đơn vị sử dụng ngân sách theo yêu cầu của cơ quan tài chính.
Trên đây là những trình bày về các vấn đề khái quát liên quan đến hoạt động
chi ngân sách nhà nước. Vậy, để đảm bảo cho hoạt động chi tiêu của Nhà nước được
thực hiện có hiệu quả, chi ngân sách nhà nước cần đảm bảo những điều kiện gì? Pháp
luật Việt Nam đã có những quy định như thế nào về những điều kiện đó?
II. ĐIỀU KIỆN CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH – MỘT SỐ BÌNH LUẬN
1. Sự cần thiết phải có những điều kiện luật định đối với hoạt động chi ngân sách
nhà nước
- Hơn bất kỳ lĩnh vực nào, chi ngân sách nhà nước luôn được xem là lĩnh vực
chứa đựng nhiều nguy cơ tham nhũng và lãng phí nhất. Quan niệm “tiền công” là tiền
không của riêng ai khiến cho các đối tượng thụ hưởng ngân sách nhà nước đều có xu
hướng chi tiêu thoải mái, lãng phí, không tính đến hiệu quả của nguồn vốn mà Nhà
nước đầu tư. Điều này khiến cho Nhà nước luôn phải tính đến khả năng kiểm soát
việc chi tiêu ngân sách như thế nào cho hiệu quả và tiết kiệm, trong đó việc sử dụng
công cụ pháp luật để điều chỉnh hoạt động chi ngân sách là vấn đề then chốt, góp
phần đảm bảo tính minh bạch, ngăn chặn tệ tham nhũng, lãng phí trong quá trình sử
dụng công quỹ.
- Thêm vào đó, quỹ ngân sách nhà nước hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của
đông đảo quần chúng nhân dân, Nhà nước là chủ thể đại diện thay mặt nhân dân
quyết định việc sử dụng cụ thể như thế nào. Vì vậy, Nhà nước phải đảm bảo làm sao
sử dụng cho thật hiệu quả nguồn vốn đó, tránh để mất lòng tin của nhân dân đối với
Nhà nước. Công cụ hữu hiệu để đảm bảo cho hoạt động sử dụng nguồn tài chính đó

kết này, các đơn vị sử dụng ngân sách có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cấp đủ cho
mình số kinh phí mà Nhà nước đã cam kết với điều kiện đơn vị sử dụng ngân sách
chứng minh được rằng họ có đầy đủ những điều kiện được cấp phát theo quy định
của pháp luật.
Đây là điều kiện thứ nhất mà khoản chi phải thỏa mãn để có thể được thanh
toán. Có thể nói, đây là điều kiện “ở cấp trung ương” đối với các khoản chi. Bởi nó
quy định khoản chi đó phải nằm trong dự toán ngân sách- đạo luật ngân sách thường
niên mà chỉ cơ quan lập pháp cao nhất là Quốc hội có quyền thông qua. Quy định này
đưa ra đảm bảo các khoản dự định chi sẽ phù hợp với tổng thể các khoản chi khác,
phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội mà Nhà nước đề ra trong năm ngân
sách.
Tuy nhiên, điều kiện này cũng có những ngoại lệ của nó. Ngoại lệ thứ nhất là
trường hợp đầu năm ngân sách, dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách
chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thì cơ quan tài chính các cấp
được phép tạm cấp kinh phí cho các nhu cầu không thể trì hoãn được cho tới khi dự
toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách được quyết định. Đây có thể coi là
phương án bổ sung mà luật đưa ra cho các chủ thể sử dụng ngân sách áp dụng, tạo sự
linh hoạt trong hoạt động của các chủ thể đó khi chưa có dự toán ngân sách, đảm bảo
ứng phó kịp thời với các trường hợp xảy ra ngoài dự kiến, đảm bảo thực hiện chức
năng, nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên các chủ thể được tạm cấp kinh phí phải đảm
bảo hoàn trả ngay khi dự toán ngân sách và phân bổ ngân sách được quyết định,
nguồn vốn đã được chuyển về. Đây là quy định thể hiện sự linh hoạt của các nhà làm
luật, tạo điều kiện để việc thực hiện nhiệm vụ của các đối tượng thụ hưởng ngân sách
không bị gián đoạn.
Ngoại lệ thứ hai là trong quá trình chấp hành ngân sách nhà nước, có sự thay
đổi về thu chi, khoản chi từ nguồn tăng thu so với dự toán được giao và từ nguồn dự
phòng ngân sách theo quyết định của cấp có thẩm quyền. Nguồn tăng thu là nguồn
thu phát sinh tăng thêm, nằm ngoài dự toán ngân sách vì vậy chi từ khoản này cũng
không thể nằm trong dự toán ngân sách. Chi từ nguồn tăng thu ở cấp ngân sách nào
sẽ do cơ quan có thẩm quyền của cấp ngân sách đó quyết định. Số tăng thu này sẽ

định mức cho các khoản chi ngân sách có thể làm giảm tính chủ động của các đơn vị
sử dụng ngân sách, hơn nữa có thể làm xuất hiện tình trạng các đơn vị sử dụng ngân
sách cố chi cho hết số ngân sách đã được phân bổ, không quan tâm đến hiệu quả của
khoản chi đó. Hơn nữa, các nhà lập dự toán ngân sách cần bám sát điều kiện kinh tế -
xã hội tại từng thời điểm để đưa ra những tiêu chuẩn, định mức, chế độ phù hợp.
2.3. Khoản chi dự định thực hiện phải được Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách
hoặc người được ủy quyền quyết định chi
Đây có thể coi là điều kiện đủ để một khoản chi có thể được thực hiện. Một
khoản chi đã nằm trong dự toán ngân sách nhà nước, đã đúng với chế độ, tiêu chuẩn,
định mức do cấp có thẩm quyền quyết định nhưng nếu không được Thủ trưởng đơn vị
sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định chi thì khoản chi đó cũng
không thể được thực hiện. Chỉ người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo
ủy quyền mới được phép quyết định chi. Quy định này của luật đảm bảo quyền quản
lý của những người đứng đầu đơn vị sử dụng ngân sách trong việc chi ngân sách,
đồng thời đảm bảo chi đúng,chi đủ. Bởi Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc
người được ủy quyền là những người trực tiếp quản lý, điều hành đơn vị đó. Vì vậy,
họ sẽ nắm rõ nhu cầu chi của đơn vị mình quản lý, từ đó ra quyết định có chi hay
không một khoản nào đó.
Đối với những khoản chi do cơ quan tài chính cấp phát trực tiếp thì quyết định
chi là “lệnh chi tiền” của cơ quan tài chính. Lệnh chi tiền là quyết định chi do cơ quan
tài chính phát hành, gửi Kho bạc nhà nước, yêu cầu kho bạc chi trả, thanh toán một số
tiền cho đơn vị sử dụng ngân sách theo đúng nội dung của lệnh chi. Cơ quan tài chính
chịu trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát nội dung, tính chất của từng khoản chi, bảo đảm
các điều kiện chi đúng theo quy định của pháp luật. Kho bạc nhà nước thực hiện chi
trả, thanh toán cho đơn vị sử dụng ngân sách theo nội dung ghi trong lệnh chi tiền của
cơ quan tài chính.
Đối với các khoản chi cơ quan tài chính không cấp phát trực tiếp thì khi có nhu
cầu chi, đơn vị sử dụng ngân sách lập và gửi Kho bạc nhà nước giấy rút dự toán ngân
sách nhà nước cùng với quyết định chi do thủ trưởng đơn vị ký.
Luật đã quy định rất rõ trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách,

duyệt.
Quy định này dù không phải là điều kiện chính nhưng cũng là điều kiện hết sức
cần thiết. Nó tạo cơ sở chắc chắn, cụ thể, chính xác cho các khoản chi khi thực hiện
vì đã có chứng từ, hóa đơn kèm theo. Hơn nữa, sẽ tạo thói quen tốt cho các đối tượng
sử dụng ngân sách là thói quen sử dụng chứng từ khi có các nhu cầu chi phát sinh.
2.4.2. Khoản 4 Điều 51 NĐ 60/2003/NĐ-CP
Pháp luật quy định đối với trường hợp sử dụng vốn, kinh phí ngân sách nhà
nước để đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và các
công việc khác phải qua đấu thầu hoặc thẩm định giá thì trước khi khoản chi được
thực hiện, còn phải tổ chức đấu thầu hoặc thẩm định giá theo quy định của pháp luật.
Đây chính là khoản chi hành chính đảm bảo cho hoạt động thường xuyên của bộ máy
nhà nước. Quy định này đảm bảo chi hoạt động chi trong lĩnh vực này là chi đúng,
chi đủ, tổ chức đấu thầu hoặc định giá tài sản với mục đích xác định giá trị thực sự
của tài sản, từ đó thực hiện khoản chi hợp pháp,đúng đắn.
2.4.3. Khoản 5 Điều 51 NĐ 60/2003/NĐ-CP
Khoản này đưa ra quy định các khoản chi có tính chất thường xuyên được chia
đều trong năm để chi; các khoản chi có tính chất thời vụ hoặc chỉ phát sinh vào một
số thời điểm như đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản chi có
tính chất không thờng xuyên khác phải thực hiện theo dự toán quý đợc đơn vị dự toán
cấp I giao cùng với giao dự toán năm.
III. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC ĐIỀU KIỆN CHI NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC
1. Những kết quả đạt được
Việc các đơn vị sử dụng ngân sách có tuân thủ một cách nghiêm ngặt các điều
kiện luật định trong hoạt động chi ngân sách nhà nước hay không ảnh hưởng trực tiếp
đến hiệu quả chi ngân sách nhà nước. Nói chung, qua Bản báo cáo đánh giá tình hình
thực hiện ngân sách nhà nước 2010, nhìn chung, hoạt động chi ngân sách nhà nước đã
tương đối đảm bảo được các điều kiện cơ bản của chi ngân sách nhà nước. Năm vừa
qua là năm nền kinh tế Việt Nam có khá nhiều vấn đề nổi cộm: chỉ số giá tiêu dùng,
lạm phát tăng ở mức cao; lãi suất, tỷ giá biến động mạnh; thị trường vàng, ngoại tệ

càng tiết kiệm và đạt hiệu quả cao. Ví dụ, theo bảng số liệu trên thì năm 2010 bội chi
ngân sách đã giảm từ 7% xuống 6,2% Đó là những kết quả rất đáng khích lệ trong
bối cảnh nền kinh tế vừa trải qua cơn suy giảm.
Bên cạnh những kết quả đạt được đã nêu trên, thực tiễn áp dụng điều kiện chi ngân
sách dẫn đến hiệu quả thực hiện NSNN còn bất cập.
2.2. Những điểm bất cập
Dù đã có rất nhiều nỗ lực của các cơ quan có thẩm quyền trong việc đôn đốc
các đơn vị sử dụng ngân sách chấp hành các quy định pháp luật trong quá trình chi
NSNN nhưng trên thực tế vẫn còn tồn tại những điểm bất cập nổi cộm, như tình trạng
bội chi NSNN, thất thoát NSNN.
Mặc dù tỷ trọng thu nội địa có tăng nhưng chiếm tỷ trọng không lớn (khoảng
60%). Việc chấp hành kỷ luật ngân sách không nghiêm, thất thu, gian lận, nợ đọng
thuế, kể cả thuế nội địa và thuế xuất nhập khẩu còn lớn. Số nợ thuế chờ xử lý (chiếm
hơn 20% tổng số nợ thuế) tăng khá nhiều. Bội chi ngân sách vẫn còn cao (chưa về
mức dưới 5% như đã duy trì trong nhiều năm) và là một trong những nhân tố góp
phần làm gia tăng lạm phát. Điều này cũng cảnh báo độ an toàn của ngân sách trong
các năm tiếp theo nếu như không chủ động có các biện pháp cải cách để tạo nền tảng
tăng nguồn thu cũng như tăng cường kỷ luật tài chính cho ngân sách.
Ngoài ra, tình hình giải ngân xây dựng cơ bản cũng được tiến hành rất chậm.
Lý do cho tình trạng này là trong điều hành NSNN đã phát sinh một số khoản chưa có
nguồn thanh toán. Ủy ban Tài chính - Ngân sách QH cũng nhận định, Chính phủ đã
kiên quyết trong quản lý NSNN, hạn chế thất thoát lãng phí nhưng việc quản lý chi
theo dự toán còn chưa được coi trọng. Đặc biệt, việc triển khai và giải ngân vốn đầu
tư phát triển chậm, nhất là vốn trái phiếu chính phủ, xử lý nợ xây dựng cơ bản vẫn
chậm.
Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách nhà nước còn thiếu, chưa tương
xứng với tình hình thực tế, gây khó khăn trong việc cấp phát, kiểm tra, kiểm soát
trong chi NSNN. Ví dụ như hàng năm Quốc hội phân bổ 2% tổng chi ngân sách nhà
nước cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, nhằm đẩy mạnh nghiên cứu và áp dụng
thành tựu khoa học để phát triển kinh tế - xã hội liệu có quá ít. Hơn nữa, thủ tục pháp

Thứ ba, việc phê chuẩn của các cơ quan có thẩm quyền thường mang tính hình
thức và thiếu chi tiết. Giai đoạn cuối của quá trình lập ngân sách là Quốc hội xem xét,
thảo luận, và thông qua đề nghị dự toán ngân sách của Chính phủ. Việc chấp nhận
hay sửa đổi dự toán của Quốc hội có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế - xã
hội và tới việc thực thi chức năng của bộ máy nhà nước. Vì vậy, các đại biểu Quốc
hội phải có những chương trình, kế hoạch Chính phủ dự định thực hiện và phải có
thời gian xem xét để đưa ra ý kiến. Tuy nhiên, các đại biểu Quốc hội thường có rất ít
thời gian để xem xét, thảo luận trước khi biểu quyết và thông thường, Quốc hội phê
chuẩn dự toán NSNN theo phương thức trọn gói.
Thứ tư, hệ thống chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi còn lạc hậu và không thống
nhất, gây khó khăn cho việc tuân thủ các điều kiện chi NSNN đã được pháp luật quy
định. Theo Khoản 2 Điều 21 Luật NSNN thì Bộ tài chính có trách nhiệm chủ trì, phối
hợp với các cơ quan hữu quan trong việc xây dựng các định mức phân bổ và các chế
độ, tiêu chuẩn, định mức chi nhưng cho đến nay, ngành tài chính vẫn còn lúng túng
về vấn đề này. Do vậy, bản thân các đơn vị thiếu căn cứ để lập dự toán chi, còn các
cơ quan nhà nước thiếu căn cứ để duyệt dự án. Mặt khác, do hệ thống tiêu chuẩn,
định mức chưa đồng bộ nên nhiều khoản chi được quyết định ở mỗi nơi mỗi khác, kể
cả những khoản chi được trung ương quyết định thống nhất trên cả nước.
Cuối cùng, quy mô của nền kinh tế cũng có tác động nhất định đến việc đảm
bảo điều kiện chi NSNN. Khi quy mô nền kinh tế tăng dần lên, nhu cầu tăng chi để
thúc đẩy phát triển kinh tế đang đặt ra rất cấp bách, từ đó gây sức ép căng thẳng cho
ngân sách nhà nước, quy mô ngân sách cũng phải lớn lên và tiểm ẩn những rủi ro
trong các khoản chi NSNN như tình trạng thất thoát, lãng phí, tham nhũng.
Đó là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc không đảm bảo các điều kiện
chi NSNN theo quy định của pháp luật. Vậy cần có các biện pháp gì để nâng cao hiệu
quả áp dụng các điều kiện chi?
4. Các biện pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả áp dụng các điều kiện chi ngân
sách nhà nước
- Hoàn thiện pháp luật về quy trình lập, chấp hành, quyết toán ngân sách nhà
nước. Đây là ba khâu quan trọng trong quá trình ngân sách nhà nước. Luật NSNN đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status