Luận văn
Hợp đồng thuê nhà xưởng tại
công ty Quan hệ quốc tế -
Đầu tư sản xuất (CIRT), chế
độ pháp lý và thực tiễn áp
dụng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
1
Lời nói đầu
ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào, pháp luật luôn đóng một vai trò rất
quan trọng. Nó là tiêu chuẩn pháp lý cho mọi hoạt động trong đời sống xã hội.
Trong hệ thống pháp luật đó có pháp luật về hợp đồng kinh tế, nó điều chỉnh
các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hoạt động kinh tế.
Hiện nay, khi đã chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc theo định
hớng XHCN thì pháp luật về hợp đồng kinh tế đã và đang là một vấn đề hết
sức phức tạp . Nền kinh tế càng phát triển thì các quan hệ kinh tế càng đa dạng
và phức tạp hơn nhiều, nó không chỉ dừng lại ở các quan hệ kinh tế trong nớc
mà còn có sự tham gia bởi các nhân tô nớc ngoài.
Song cho đến nay, pháp luật hiện hành về chế độ hợp đồng kinh tế của
chúng ta vẫn là pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 cùng với các văn
bản cụ thể hoá và hớng dẫn thi hành pháp lệnh. Thực tế cho thấy pháp lệnh
này còn có nhiều điểm cha phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của nền kinh tế
xuất cùng với các thầy cô giáo trong Bộ môn Luật kinh tế, đặc biệt chất lợng
là thầy giáo TS. Nguyễn Hợp Toàn và cô giáo Phạm Thị Phơng Thuỷ đã
nhiệt tình giúp đỡ và hớng dẫn tôi hoàn thành bài viết này.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
3
Chơng I
Chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế
I. Đặc điểm hình thành và phát triển của hợp đồng kinh tế
Do đặc điểm của nền kinh tế ở các giai đoạn khác nhau mà đặc điểm
hình thành và phát triển của hợp đồng kinh tế cũng khác nhau trong các giai
đoạn sau :
1. Hợp đồng kinh tế trong thời kỳ khôi phục nền kinh tế và cải tạo
xã hội chủ nghĩa nền kinh tế quốc dân (1954 - 1959)
Thời kỳ này nền kinh tế gồm nhiều thành phần kinh tế hoạt động đan
xen lẫn nhau. Vì thế, chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế đợc thực hiện theo
nghị định số 738/TTg ngày 10/4/1956 của Thủ tớng Chính phủ ban hành
Điều lệ tạm thời về lập hợp đồng kinh doanh, qui định mối quan hệ hợp đồng
trong lĩnh vực kinh doanh giữa các đơn vị kinh doanh của Nhà nớc, hợp tác
xã, công ty hợp doanh và t doanh.
Đặc điểm của hợp đồng kinh doanh là rất coi trọng ý chí tự do, tự
nguyện, bình đẳng, thật thà, cùng có lợi của các đơng sự tham gia hợp đồng
trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, phải chịu sự kiểm soát của các cơ quan
Nhà nớc nh : hợp đồng phải đăng ký tại cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền,
Đây là thời kỳ nền kinh tế thực hiện việc quản lý theo phơng thức kinh
doanh xã hội chủ nghĩa. Để tơng ứng với nó chính phủ đã ban hành Điều lệ
về chế độ hợp đồng kinh tế kèm theo Nghị định số 54/CP ngày 10/3/1975 của
Hội đồng Chính phủ, qui định kiểu hợp đồng kinh tế mới, thay thế cho bản
điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế trớc đó.
Đặc điểm chế độ hợp đồng kinh tế thời kỳ này là : Hợp đồng kinh tế
đợc ký kết ngay sau khi có sổ kiểm tra kế hoạch và sau đó đợc điều chỉnh
lại khi Nhà nớc gao chỉ tiêu kế hoạch chính thức, việc ký kết hợp đồng kinh
tế căn cứ vào phơng hớng, nhiệm vụ , kế hoạch hoặc văn bản chỉ đạo, hớng
dẫn của cơ quan quản lý Nhà nớc cấp trên, bên cạnh đó các đơn vị kinh tế
còn có thể ký kết các hợp đồng kinh tế ngoài chỉ tiêu pháp lệnh, vì thế mà chủ
thể của hợp đồng kinh tế đợc mở rộng hơn, thể loại hợp đồng cũng đợc đa
dạng hơn nhiều
4. Hợp đồng kinh tế trong thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
(từ năm 1989 đến nay)
Sau đại hội VI, Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng đổi mới nền kinh tế
vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
5
xã hội chủ nghĩa, cơ chế quản lý kinh tế cũng đợc chuyển đổi hoàn toàn theo
nền kinh tế. Chính vì thế, chế độ hợp đồng kinh tế - cũng đợc chuyển đổi.
Tren cơ sở đó, pháp lệnh hợp đồng kinh tế do Hội đồng Nhà nớc , thông qua
ngày 25/9/1989 đợc ban hành.
Đặc điểm của pháp lệnh hợp đồng kinh tế gồm :
+ Hợp đồng kinh tế đợc xác lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng về
quyền và nghĩa vụ, cùng có lợi và không trái pháp luật.
chủ quan.
- Theo nghĩa khách quan (tức là dới góc độ ý chí Nhà nớc ) : hợp
đồng kinh tế là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nớc ban hành để
điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng
giữa các bên chủ thể kinh doanh với nhau (còn gọi là chế độ hợp đồng kinh tế
hay pháp luật về hợp đồng kinh tế). Chế độ hợp đồng kinh tế của nớc ta
mang đặc thù của pháp luật xã hội chủ nghĩa nó bao gồm các quy phạm pháp
luật về nguyên tắc ký kết t cách chủ thể tham gia; trình tự và thủ tục ký kết
hợp đồng kinh tế; các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cũng nh các
nguyên tắc và nội dung thực hiện; các điều kiện và cách thức giải quyết hậu
quả của việc thay đổi, huỷ bỏ, đình chỉ và thanh lý hợp đồng kinh tế; quyền và
nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hợp đồng kinh tế; trách nhiệm vật
chất do vi phạm hợp đồng kinh tế.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế , sự thay đổi của quan hệ kinh tế,
chế độ hợp đồng kinh tế cũng đợc thay đổi và phát triển.
- Theo nghĩa chủ quan (tức là theo ý chí của các bên ký kết hợp đồng) :
"Hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản hoặc tài liệu giao dịch giữa
các bên ký kết về thực hiện công việc sản xuất trao đổi hàng hoá, dịch vụ,
nghiên cứu , ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có
mục đích kinh doanh với sự qui định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi
bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình" (Điều 1 - Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế ngày 25/9/1989). Theo nghĩa này, hợp đồng là sự thống nhất ý
chí của các chủ thể hợp đồng kinh tế.
Nh vậy, xét về thực chất hợp đồng kinh tế , cũng nh các loại hợp
đồng khác, đều là sự thay đổi giữa các chủ thể về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong các quan hệ cụ thể. Tuy
nhiên, có một số điểm khác nhau giữa hợp đồng kinh tế với các loại hợp đồng
khác về t các chủ thể, mục đích, hình thức ký kết, thực hiện
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
2.3 Đặc điểm về hình thức hợp đồng kinh tế
Hợp đồng kinh tế có thể ký kết dới hình thức văn bản hợp đồng hoặc
tài liệu giao dịch (nh công văn, điện báo, đơn chào hàng, đặt hàng). Ngoài ra
các bên có thể ký kết các văn bản phụ lục hợp đồng cụ thể hoá các điều kiện
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
8
trong hợp đồng hoặc biên bản bổ sung những điều khoản mới thoả thuận vào
văn bản hợp đồng. Phụ lục hợp đồng và biên bản bổ sung có giá trị pháp lý
nh hợp đồng kinh tế.
3. Phân loại hợp đồng kinh tế
Dựa trên những căn cứ khác nhau mà hợp đồng kinh tế đợc phân thành
nhiều loại khác nhau.
3.1 Căn cứ và tính chất của quan hệ hợp đồng, hợp đồng kinh tế gồm
các loại sau:
* Hợp đồng kinh tế mang tính chất đền bù :
Là loại hợp đồng mà theo đó quyền và nghĩa vụ của các bên tơng xứng
nhau (quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngợc lại). Trong quan hệ
hợp đồng, một bên có nghĩa vụ giao hàng hoá, thực hiện dịch vụ hoặc kết quả
công việc đã thoả thuận, bên kia có nghĩa vụ nhận hàng hoá hoặc kết quả đó
và thanh toán tiền. Đây là loại hợp đồng phản ánh quan hệ hàng hoá - tiền tệ
với bản chất là quan hệ ngang giá và đợc sử dụng trong các lĩnh vực nh la
trao đổi hàng hoá; vận chuyển hàng hoá
* Hợp đồng kinh tế mang tính tổ chức :
Là loại hợp đồng đợc xác lập trên cơ sở sự đồng ý của cơ quan Nhà
nớc có thẩm quyền, các chủ thể kinh doanh có thể thoả thuận với nhau lập ra
một cơ sở kinh tế - kỹ thuật mới để thực hiện mục đích chung. Hợp đồng này
hợp đồng bị hạn chế. Tuy nhiên, trong cơ chế mới loại hợp đồng này không
còn đợc áp dụng phổ biến nữa mà chỉ những doanh nghiệp Nhà nớc hoạt
động công ích mới thực hiện nhiệm vụ kế hoạch Nhà nớc giao.
* Hợp đồng kinh tế thông thờng :
Loại hợp đồng này đợc ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng,
các bên cùng có lợi . Việc ký kết hợp đồng là quyền tự do ý chí của các đơn vị
kinh tế , không một tổ chức hay cá nhân nào đợc áp đặt ý chí của mình cho
các đơn vị kinh tế khác. Trong cơ chế mới này, loại hợp đồng này đợc áp
dụng rất phổ biến.
3.4 Căn cứ vào nội dung giao dịch của quan hệ hợp đồng gồm:
* Hợp đồng mua bán hàng hoá
Là hợp đồng mà theo đó bên bán có nghĩa vụ chuyển giao hàng hoá và
quyền sở hữu đối với hàng hoá đó cho bên mua theo đúng điều kiện đã thoả
thuận trong hợp đồng, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hoá và thanh toán
tiền hàng. Quan hệ hợp đồng này là quan hệ trao đổi hàng hoá, gọi là quan hệ
hàng hoá - tiền tệ
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
10
* Hợp đồng vận chuyển hàng hoá
Là hợp đồng mà theo đó bên vận tải hàng hoá có nghĩa vụ vận chuyển
hàng hoá nhất định đến địa điểm đã ấn định để giao cho bên nhận hàng, còn
bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả cho bên vận tải một khoản tiền nhất định
gọi là cớc phí vận chuyển.
* Hợp đồng xây dựng cơ bản :
Là hợp đồng kinh tế trong đó bên nhận thầu có nghĩa vụ xây dựng và
bàn giao cho bên giao thầu toàn bộ công trình theo đúng đồ án thiết kế và thời
hạn nh đã thoả thuận trong hợp đồng, còn ben giao thầu có nghĩa vụ bàn giao
III. Chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế
1. Chế độ ký kết về hợp đồng kinh tế
1.1 Nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế
Theo điều 3 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế : "Để bảo vệ quyền và nghĩa
vụ chính đáng của các bên tham gia quan hệ hợp đồng, bảo vệ lợi ích của xã
hội, việc ký kết hợp đồng kinh tế đợc pháp luật quy định, phải tuân theo
những nguyên tắc nhất định đợc quy định trong chế độ pháp lý về hợp đồng
kinh tế" thì ký kết hợp đồng kinh tế phải tuân thủ các nguyên tắc sau :
1.1.1 Nguyên tắc tự nguyện
Nguyên tắc này là quyền tự do ý chí (tự do khế ớc) của các chủ thể
kinh doanh đợc pháp luật cho phép để làm phát sinh quan hệ hợp đồng kinh
tế mà không có sự áp đặt ý chí của các bên với nhau hoặc của tổ chức, cá nhân
khác nhau. Việc tham gia hợp đồng hay không là do các bên toàn quyền định
đoạt. Mọi sự ép buộc ký kết hợp đồng kinh tế giữa bên này đối với bên kia -
đều làm cho hợp đồng kinh tế vô hiệu.Do đó, tự nguyện là nguyên tắc bắt
buộc phải có và cũng là nguyên tắc của hầu hết các loại hợp đồng. Theo
nguyên tắc này , việc ký kết hợp đồng kinh tế phải là mong muốn thực sự của
các bên tham gia nhằm đạt đợc mục đích nhất định. Theo đó, các bên có
quyền lựa chọn bạn hàng, lựa chọn địa chỉ cung ứng vật t, thời điểm ký kết
hợp đồng cũng nh nội dung ký kết Quan hệ hợp đồng kinh tế chỉ đợc coi
là hình thành và có giá trị pháp lý nếu có sự thoả thuận giữa các bên đợc thực
hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên.
Tại điều 4 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế qui định : "Ký kết hợp đồng
kinh tế là quyền của các đơn vị kinh tế. Không một cơ quan, tổ chức, cá nhân
nào đợc áp đặt ý chí của mình cho đơn vị kinh tế khi ký kết hợp đồng. Không
một đơn vị nào đợc phép lợi dụng ký kết hợp đồng kinh tế để hoạt động trái
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
chấp nhận ý kiến của bên kia. Thực hiện nguyên tắc này không phụ thuộc
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
13
quan hệ sở hữu và quan hệ quản lý của các chủ thể hợp đồng, bát kể họ thuộc
thành phần kinh tế nào, do cấp nào quản lý, thì khi ký hợp đồng điều bình
đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, cùng có lợi trên cơ sở thoả thuận và phải
chịu trách nhiệm vật chất nếu vi phạm hợp đồng đã ký kết. Quan hệ hợp đồng
kinh tế chỉ đợc coi là hình thành khi các bên thống nhất ý chí với nhau về tất
cả các điều khoản trong hợp đồng.
Tuy nhiên, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ ở đây phải song hành với t
tởng hai bên cùng có lợi nhng không nhất thiết các bên phải lợi ích nh
nhau mà mỗi bên đều có lợi ích riêng theo mục đích của mình, đồng thời, nó
đòi hỏi các bên phải biết tôn trọng lợi ích của nhau, không thể để lợi ích của
bạn hàng lấn át lợi ích của mình và ngợc lại không để lợi ích của mình lấn át
lợi ích của bạn hàng. Vì thế, đây chính là t tởng giúp cho quan hệ đợc làm
ăn lâu dài.
1.1.3 Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm vật chất và không trái pháp
luật
- Trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản có nghĩa là nếu có vi phạm hợp
đồng kinh tế, thì bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm trả tiền phạt và
bồi thờng thiệt hại (nếu có thiệt hại xảy ra) cho bên bị vi phạm bằng chính tài
sản của mình mà không phụ thuộc vào cơ quan, tổ chức, cá nhân có lỗi đã gây
ra vi phạm đó, trừ các trờng hợp miễm giảm trách nhiệm vật chất. Có nghĩa
là, khi hợp đồng kinh tế đợc ký kết thì các bên phải có nghĩa vụ thực hiện
đúng những điều khoản đã cam kết trong hợp đồng. Nguyên tắc này đợc qui
định trong Điều 29 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Điều 21 Nghị định
17/HĐBT đã dẫn. Đây là một điểm mới của hợp đồng kinh tế theo pháp luật
+ Có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó.
+ Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật môt cách độc lập
(điều 94, Bộ luật dân sự)
Cá nhân có đăng ký kinh doanh đợc hiểu là cá nhân đợc cơ quan Nhà
nớc có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đó là các hộ
kinh doanh cá thẻ đợc qui định tại Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày
3/2/2000 của Chính phủ, hoặc các doanh nghiệp t nhân, công ty hợp doanh
theo quy định của luật doanh nghiệp 12/6/1999.
Nh vậy, những hợp đồng đợc ký kết giữa các cá nhân với nhau không
đợc gọi là hợp đồng kinh tế và nếu tranh chấp xẩy ra sẽ đợc giải quyết theo
thủ tục tố tụng dân sự.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
15
Tuy nhiên, theo qui định tại điều 42 , 43 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và
thông t số 11/TT/PL ngày 25/5/1992 của Trọng tài kinh tế Nhà nớc hớng
dẫn ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế mở rộng điều kiện cho phép pháp
nhân có thể xác lập hợp đồng kinh tế với tổ chức, cá nhân nớc ngoài có vốn
đầu t ở Việt Nam, các doanh nghiệp không có t cách pháp nhân (doanh
nghiệp t nhân, công ty hợp doanh) , hộ kinh doanh cá thể, ngời làm công tác
khoa học kỹ thuật, nghệ nhân, hộ gia đình, hộ nông dân, ng dân ca thể nếu
nội dung của hợp đồng không nhằm mục đích sinh hoạt tiêu dùng, thuê lao
động.
Để hình thành quan hệ hợp đồng kinh tế thì phải có sự tham gia ký kết
của các bên chủ thể hợp đồng kinh tế . Thay mặt cho các bên chủ thể hợp
đồng kinh tế đó cần phải có một ngời đại diện để ký kết hợp đồng kinh tế.
Theo điều 9 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì đại diện ký kết hợp đồng kinh tế
có hai loại :
Đây là những mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch cho toàn bộ nền kinh tế
quốc dân hoặc từng ngành kinh tế kỹ thuật hoặc cho từng địa phơng xác định
cho từng thời kỳ, và cũng là căn cứ để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp. Hay nói cách khác đây là căn cứ mang tính pháp lý thể
hiện sự tuân thủ pháp luật của hợp đồng kinh tế.
1.3.2. Nhu cầu thị trờng, đơn chào hàng, đơn đặt hàng của bạn hàng
Các hoạt động kinh tế , quan hệ kinh tế trong nền kinh tế bị quy luật giá
trị, quy luật cung cầu chi phối. Điều đó đòi hỏi hợp đồng kinh tế phải luôn
luôn phù hợp với thị trờng thì mới phát huy đợc vai trò của nó. Là cái cầu
nối giữa sản xuất với thị trờng; giúp cho sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trờng
tức là giúp cho cung cầu gặp nhau. Vì vậy, đòi hỏi các chủ thể hợp đồng kinh
tế khi ký kết hợp đồng kinh tế phải lấy nhu cầu thị trờng để làm căn cứ nội
dung hợp đồng cũng nh quyền và nghĩa vụ của các bên. Đây là căn cứ mang
tính thực tiễn thể hiện nhu cầu thực sự của việc ký kết hợp đồng kinh tế, bảo
đảm tính khả thi của hợp đồng.
1.3.3 Khả năng phát triển sản xuất kinh doanh, chức năng hoạt động
kinh tế của mình.
Nhà nớc qui định căn cứ khả năng phát triển sản xuất kinh doanh để
tránh tình trạng các chủ thể kinh doanh ký kết hợp đồng kinh tế chỉ vì lợi ích
riêng mà bất chấp pháp luật, bất chấp khả năng và thực lực của mình . Đây
cũng là căn cứ vào khả năng về vốn, vật t, năng suất lao động hiệu quả sản
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
17
xuất kinh doanh của họ để làm cơ sở quyết định cho những cam kết trong hợp
đồng đợc thực hiện.
Căn cứ vào chức năng hoạt động kinh tế tức là căn cứ vào nội dung hoạt
động trong các ngành nghề , lĩnh vực mà doanh nghiệp đã đăng ký kinh
Hai là, điều khoản chủ yếu : Là những điều khoản cơ bản quan trọng
nhất của hợp đồng mà bắt buộc các bên phải thoả thuận và ghi vào hợp đồng,
nếu không thì hợp đồng sẽ không có giá trị pháp lý. Theo điều 12 pháp lệnh
hợp đồng kinh tế (đã dẫn) các điều khoản chủ yếu của hợp đồng kinh tế bao
gồm :
- Ngày, tháng, năm ký hợp đồng kinh tế; tên, địa chỉ, số tài khoản và
ngân hàng giao dịch của các bên; họ tên ngời đại diện, ngời đứng tên đăng
ký kinh doanh.
Điều khoản này gọi là điều khoản hình thức của hợp đồng, là điều
khoản chủ yếu mà thiếu nó thì văn bản hợp đồng không có giá trị pháp lý, mà
vấn đề pháp lý nổi bật nhằm đảm bảo cho hợp đồng các bên ký kết tuân theo
chế độ hợp đồng kinh tế đó là điều kiện về địa vị pháp lý của các bên tham gia
hợp đồng kinh tế.
- Đối tợng của hợp đồng kinh tế tính bằng số lợng, khối lợng hoặc
giá trị quy ớc đã thoả thuận: Điều khoản này nhằm trả lời câu hỏi cái gì? và
bao nhiêu? khi các bên tham gia ký kết hợp đồng kinh tế.
- Chất lợng, chủng loại, qui cách, tính đồng bộ của sản phẩm, hàng
hoá hoặc yêu cầu kỹ thuật của công việc, theo các quy định về quản lý chất
lợng sản phẩm thì chất lợng sản phẩm bao gồm các mặt nh phẩm chất, qui
cách , chủng loại, bao bì đóng gói kể cả màu sắc. Nh vậy, các hàng hoá,
công việc trong hợp đồng đã đợc xác định bởi các tiêu chuẩn kỹ thuật, chất
lợng sản phẩm, qui cách và chủng loại của Nhà nớc thì các bên tham gia
phải lấy đó làm cơ sở của việc ký kết, nếu thấy khác thì cần phải lấy đó làm
cơ sở của việc ký kết, nếu thấy khác thì cần phải sửa đổi còn đối với các sản
phẩm, hàng hoá, công việc trong hợp đồng mà cha có tiêu chuẩn chất lợng
cụ thể thì nhất thiết phải ghi rõ trong hợp đồng việc thoả thuận về chất lợng
hàng hoá hoặc yêu cầu kỹ thuật công việc.
- Giá cả: Điều khoản này là điều khoản mà các bên thoả thuận về đơn
giá, các phụ phí, tỷ lệ phần trăm hoa hồng. Khi thoả thuận điều khoản này các
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
- Nội dung của hợp đồng kinh tế vi phạm điều cấm của pháp luật
- Một trong các bên ký kết hợp đồng kinh tế không có đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện công việc và thoả thuận trong
hợp đồng.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
20
- Ngời ký hợp đồng kinh tế không đúng thẩm quyền hoặc có hành vi
lừa đảo.
1.5. Hình thức của hợp đồng kinh tế
Theo Điều I và Điều II pháp lệnh hợp đồng kinh tế, hợp đồng phải đợc
ký kết bằng văn bản hoặc bằng tài liệu giao dịch. Những văn bản, tài liệu giao
dịch này có chữ ký xác nhận của các bên về nội dung thoả thuận, thể hiện
dới dạng công văn điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng, pháp luật chỉ công
nhận và bảo vệ cho những hợp đồng kinh tế đợc ký kết dới hình thức văn
bản, tài liệu giao dịch, nhằm để ghi nhận một cách đầy đủ rõ ràng các cam kết
của các bên bằng "giấy trắng mực đen". Đây là cơ sở pháp lý để các bên tiến
hành thực hiện các cam két trong hợp đồng. Cũng đồng thời để các cơ quan có
thẩm quyền kiểm tra tính hợp pháp của hợp đồng , giải quyết các tranh chấp ,
xử lý các vi phạm nếu có.
Cùng với văn bản chính là hợp đồng, các bên còn có thể ký kết các văn
bản phụ lục hợp đồng để cụ thể hoá các điều khoản của hợp đồng kinh tế ký
kết hoặc có thể là ký kết biên bản bổ sung những điều khoản mới thoả thuận
vào bản hợp đồng. Phụl ục hợp đồng và văn bản bổ sung có giá trị kinh tế
chính.
Theo quy định tại Điều 7 khoản ghi trong Nghị định số 17/HĐBT ngày
16/1/1990 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì những loại
hợp đồng mà pháp luật qui định phải đăng ký hoặc công chứng thì các bên
gửi cho bên kia xem xét và có quyết định lập hợp đồng hay không. Thời hạn
lập hợp đồng ràng buộc pháp lý đối với bên đề nghị: trong thời hạn đó bên đề
nghị không đợc đề nghị lập hợp đồng với một ngời thứ ba nếu đề nghị đợc
chấp nhận thì bên đề nghị không đợc thay đổi ý kiến.
Bớc 2 : Chấp nhận đề nghị : Bên đợc đề nghị có trách nhiệm trả lời
bằng văn bản cho bên đề nghị trong thời gian đề nghị. Nếu thống nhất hoàn
toàn với bên đề nghị thì gọi là chấp nhận đề nghị và hợp đồng kinh tế đợc
hình thành và có hiệu lực pháp lý từ khi bên đợc đề nghị thể hiện sự thoả
thuận về tất cả các điều khoản chủ yếu của hợp đồng.
Trờng hợp bên đợc đề nghị đa kèm theo những đề nghị khác thì coi
nh bên đó từ chối đề nghị và trở thành ngời đề nghị mới. Đề nghị mới phải
đợc ngời đề nghị trớc đó đồng ý thì mới hình thành hợp đồng.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
22
Vì thế, lựa chọn phơng thức nào để ký kết hợp đồng kinh tế là quyền
của các bên trên cơ sở điều kiện thực tế của mỗi bên.
2. Chế độ thực hiện hợp đồng kinh tế
2.1. Các nguyên tắc thực hiện hợp đồng kinh tế
Sau khi hợp đồng kinh tế đợc ký kết và đã có hiệu lực pháp lý, các bên
phải thực hiện các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng. Trong quá trình này các
bên phải tuân thủ theo những nguyên tắc do pháp luật quy định . Theo điều
288 - Bộ luật dân sự ngày 28/10/1995 và điều 22 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
(đã dẫn) những nguyên tắc chỉ đạo việc thực hiện hợp đồng kinh tế bao gồm :
- Nguyên tắc chấp hành thực hiện : là các bên phải thực hiện đúng
những điều đã cam kết trong hợp đồng: đúng đối tợng, chất lợng, số lợng,
chủng loại, thời hạn, phơng thức và các thỏa thuận khác, không đợc tự ý
thay đổi đối tợng trong hợp đồng.
chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền. Đối với tài sản mà pháp
luật qui định phải đăng ký quyền sở hữu thì việc cầm cố tài sản đó cũng phải
đợc đăng ký.
Ngời giữ vật cầm cố bảo đảm nguyên giá trị của hiện vật cầm cố;
không đợc chuyển dịch sở hữu vật cầm cố cho ngời khác trong thời gian
văn bản có hiệu lực.
Khi nghĩa vụ hợp đồng kinh tế đã thực hiện xong, việc cầm cố tài sản
chấm dứt thì tài sản cầm cố, giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu đợc hoàn trả
cho bên cầm cố.
2.2.2. Thế chấp tài sản:
Thế chấp tài sản là việc bên có nghĩa vụ hợp đồng kinh tế dùng tài sản
là bất động sản thuộc sở hữu cua rmình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với
bên có quyền.
Việc thế chấp tài sản đợc lập thành văn bản (văn bản riêng hoặc ghi
trong hợp đồng chính) và phải có chứng nhận của công chứng Nhà nớc hoặc
cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền . Nếu bất động sản có đăng ký quyền sở hữu
thì việc thế chấp phải đợc đăng ký.
Ngời thế chấp tài sản có nghĩa vụ bảo đảm nguyên giá trị của tài sản
thế chấp, không đợc chuyển dịch quyền sở hữu hoặc chuyển giao tài sản đó
cho ngời khác trong thời gian văn bản thế chấp còn có hiệu lực.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A
24
Khi đã thế chấp tài sản, bên có nghĩa vụ vi phạm hợp đồng thì bên nhận
thế chấp có quyền yêu cầu bán đấu giá tài sản thế chấp để đảm bảo cho việc
thực hiện hợp đồng kinh tế.
Thế chấp tài sản chấm dứt trong trờng hợp nghĩa vụ hợp đồng kinh tế
đã thực hiện xong; lúc đó cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền đã đăng ký việc