MỤC LỤC
1. Vài nét cơ bản từ thu Ngân sách nhà nước từ các khoản vay nợ
Tran
g
2
2. Những quy định pháp luật về thu ngân sách nhà nước từ các khoản
vay nợ ở Việt Nam
3
2.1.
Nợ chính phủ
3
2.2.
Nợ được chính phủ bảo lãnh
5
2.3.
Nợ của chính quyền địa phương
7
11
Danh mục tài liệu tham khảo
13
1
Lịch sử hình thành và phát triển của nền tài chính công trog mấy trăm năm qua
cho thấy rằng, khi một quốc gia bắt đầu hình thành và quyền lực công cộng được tập
trung vào tay nhà nước, với tư cách là người đại diện hợp pháp cho quốc gia đó trong
quan hệ quốc tế thì chính quốc gia phải đối phó với các nhu cầu chi tiêu không thể trì
hoãn được cả về phương diện đối nội lẫn đối ngoại. Nhà nước thu ngân sách từ các
nguồn khác nhau. Bài viết dưới đây chỉ “Tìm hiểu quy định pháp luật và thực tiễn áp
dụng thu ngân sách nhà nước từ các khoản vay nợ ở Việt Nam- một số nhận xét,
đánh giá”.
1.
Vài nét cơ bản về thu Ngân sách nhà nước từ các khoản vay nợ
T
heo quy định của Điều 1 Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 thì “Ngân sách
nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Sự hình thành và phát triển của
Ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa- tiền
tệ trong các phương thức sản xuất của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời của
ương đến địa phương đi vay.Việc đi vay này là nhằm tài trợ cho các khoản
thâm hụt ngân sách nên nói cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách
luỹ kế đến một thời điểm nào đó. Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta
thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc
nội (GDP).
Vấn đề thu Ngân sách nhà nước từ các khoản vay nợ ở
Việt Nam được quy định trong các văn bản pháp luật như
Luật Ngân sách nhà nước năm 2002; Luật Quản lý Nợ công
năm 2009; Nghị định số 79/2010/NĐ-CP ngày 14/07/2010
của Chính phủ về nghiệp vụ quản lý nợ công; Luật các Tổ
chức tín dụng năm 2010; Nghị định số 5/2011/NĐ-CP về tín
dụng đầu tư và tín dụng xuất nhập khẩu của nhà nước,…;
Căn cứ vào Điều 1 Luật Quản lý Nợ công năm 2009 thì Nợ công bao gồm:
Nợ công
Nợ Chính phủ
Nợ được Chính
phủ bảo lãnh
Nợ Chính quyền
địa phương
2.1. Nợ chính phủ
• Khái niệm
Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài,
được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản
vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của
pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
Đối với vay nợ trong nước, khoản 1 Điều 20 Luật Quản lý Nợ công năm
2009 quy định: “Chính phủ vay trong nước thông qua phát hành công cụ nợ và ký kết
thỏa thuận vay.” Cụ thể hơn, có hai hình thức vay nợ của chính phủ, đó là phát hành
trái phiếu chính phủ hoặc vay trực tiếp.
Hình thức vay nợ
4
Phát hành trái phiếu chính phủ
Theo khoản 1 điều 2 Nghị định số 01/2011/NĐ-CP về
phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu được chính phủ bảo
lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương thì một trong những
mục đích phát hành trái phiếu chính phủ thì đây là “loại trái
phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho ngân
sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương trình, dự án
đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của nhà nước”. Chính phủ
có thể phát hành Trái phiếu chính phủ để vay từ các tổ chức, cá
nhân. Căn cứ vào khoản 1 Điều 4 Nghị định số 01/2011/NĐCP về phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu được chính
phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương thì một
trong những mục đích phát hành trái phiếu chính phủ là để:
“đầu tư phát triển kinh tế- xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân
sách trung ương theo quy định của Luật Ngân sách nhà
nước”, “bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước từ
vay trái phiếu ngắn hạn” và “cơ cấu lại khoản nợ, danh mục
nợ Chính phủ”;
Vay trực tiếp
Chính
5
Căn cứ vào Điều 32, 33 và 34 Luật Quản lý Nợ công năm 2009 thì đối tượng
được cấp bảo lãnh chính phủ là Doanh nghiệp thực hiện chương trình, dự án theo quy
định tại Điều 33 của Luật này và Ngân hàng chính sách của Nhà nước và tổ chức tài
chính, tín dụng thực hiện chương trình tín dụng có mục tiêu của Nhà nước. Các doanh
nghiệp này phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật (Điều 33, 34 Luật
Quản lý Nợ công năm 2009).
• Cơ quan cấp và quản lý bảo lãnh chính phủ
Điều 31 Luật Quản lý Nợ công năm 2009 quy định:
“1. Bộ Tài chính là cơ quan cấp và quản lý bảo lãnh chính phủ đối với khoản vay
hoặc phát hành trái phiếu trong nước, trái phiếu quốc tế;
2.
Bộ Tài chính chủ trì xây dựng, trình Chính phủ ban hành quy định về cấp và
quản lý bảo lãnh chính phủ”.
• Trách nhiệm của cơ quan cấp bảo lãnh và được bảo lãnh
Điều 36 Luật này quy định trách nhiệm của cơ quan cấp bảo lãnh và người
được bảo lãnh
“1. Bộ Tài chính là cơ quan cấp bảo lãnh có trách nhiệm:
a) Thẩm định phương án tài chính, điều kiện cấp bảo lãnh theo hồ sơ đề nghị cấp bảo
lãnh cho các chương trình, dự án cụ thể trình Thủ tướng Chính phủ quyết định và
chịu trách nhiệm về kết quả thẩm định;
b) Tham gia đàm phán về điều kiện vay, thỏa thuận vay và chủ trì đàm phán về nội
dung thư bảo lãnh;
c) Kiểm tra kết quả hoạt động kinh doanh, sử dụng vốn vay nước ngoài để đánh giá
khả năng trả nợ của người được bảo lãnh; kiến nghị biện pháp, chế tài xử lý trong
trường hợp người được bảo lãnh gặp khó khăn về trả nợ trình Thủ tướng Chính phủ
quyết định;
d) Thực hiện nghĩa vụ thanh toán của người bảo lãnh phát sinh theo thỏa thuận bảo
• Hình thức vay của chính quyền địa phương
Hình thức
Vay trong
nước cấp tỉnh
Chính quyền
địa phương
được vay thông qua phát hành trái
phiếu chính quyền địa phương
theo các quy định tại khoản 3,
Điều 8 Luật Ngân sách nhà nước
năm 2002. Trái phiếu chính quyền
địa phương được phát hành để đầu
tư phát triển kinh tế- xã hội thuộc
nhiệm vụ chi của ngân sách địa
phương theo quy định của pháp
luật về Ngân sách nhà nước và đầu
tư vào các dự án có khả năng hoàn
vốn tại địa phương (khoản 3 Điều
4 Nghị định 01/2011/NĐ-CP).Chủ
thể phát hành trái phiếu chính
quyền địa phương là Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh (khoản 3 Điều 3 Nghị
định 01/2011/NĐ-CP)
3.
ngoài
nướccủa địa phương
Hình thức vayVay
nước
ngoài
năm 2009 là 47.5% GDP; năm 2010 là 56.6% GDP, năm 2011 là 54.8%GDP. Như
vậy, các khoản vay có chiều hướng gia tăng. Thực tiễn việc thu ngân sách từ các
khoản vay nợ ở Việt Nam được biểu hiện qua một số vấn đề như sau:
3.1.
Nguồn thu ngân sách từ vay nợ nước ngoài
Thứ nhất, nguồn vốn vay ODA và FDI
Trong giai đoạn hiện nay, việc tranh thủ sự hỗ trợ về các nguồn vốn nước ngoài
của cộng đồng tài trợ nhằm hỗ trợ cho phát triển kinh tế- xã hôi, góp phần thực hiện
mục tiêu tăng trưởng theo các kế hoạch phát triển, phải kể đến ODA và FDI. Trong
đó, ODA ngày càng được chú ý và tìm cách thu hút một cách mạnh mẽ. Năm 2011,
trong bối cảnh Việt Nam phải cắt giảm đầu tư công để kiềm chế lạm phát, nguồn vốn
ODA với lãi suất ưu đãi và thời hạn vay kéo dài càng được coi là nguồn lực quan
trọng để đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong 5 tháng
đầu năm 2011, việc huy động và giải ngân ODA tiếp tục đạt kết quả ấn tượng, trong
đó giải ngân vốn ODA đã tăng cao kỷ lục. Theo số liệu của Bộ KH-ĐT, tổng giá trị
giải ngân vốn ODA 5 tháng đầu năm 2011 là 1.26 tỷ USD, bằng 52.5% kế hoạch giải
ngân của cả năm. Đây được xem là con số giải ngân ODA cao kỷ lục so với nhiều năm
trước đó. Vốn ODA ký kết cũng tăng rất cao trong 5 tháng đầu năm nay. Tổng số vốn
ODA ký kết trong 5 tháng đầu năm nay thông qua các hiệp định từ mức hơn 1 tỷ USD
trong các công bố chính thức cách đây khoảng hai tháng, vọt lên trên 1.66 tỷ USD,
tăng khoảng 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Về hoạt động thu hút vốn ODA, chỉ tính
trong 5 tháng đầu năm đã có 11 dự án viện trợ chính thức được ký kết với tổng giá trị
1028.21 triệu USD, gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ. Trong đó vốn vay đạt 1002.28 triệu
USD, viện trợ không hoàn lại đạt 25.93 triệu USD. Đáng chú ý có những dự án quy
mô lớn như dự án xây dựng Nhà máy điện Nghi Sơn 2 trị giá 365,82 triệu USD; dự án
xây dựng cầu Nhật Tân 2 trị giá 304.25 triệu USD. Theo báo cáo của UB Tài chính Ngân sách, năm 2011 VN phải trả nợ nước ngoài 86000 tỉ đồng, chiếm 12.5% nguồn
thu ngân sách. Năm 2012, dự kiến ngân sách sẽ dành 100000 tỉ đồng để trả nợ, nhưng
số này chưa bao gồm các khoản nhà nước cho doanh nghiệp phát hành thêm trái
Việt Nam bị hạ xếp hạng tín dụng. Tính toán của HSBC cho thấy trái phiếu bằng đồng
USD của Việt Nam mang lại mức lợi nhuận 5.1% trong năm 2011, cao hơn mức 3%
của trái phiếu Hàn Quốc và 2.8% của trái phiếu Thái Lan.
Thứ ba, tín dụng xuất khẩu
Ngoài ra, vay nước ngoài còn thể hiện dưới hình thức tín dụng xuất khẩu. Ngày
30/8/2011 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2011/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và
tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. Đối với tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, Chính
phủ quy định mức vốn cho vay tối đa bằng 85% giá trị hợp đồng xuất khẩu, nhập khẩu
đã ký đối với cho vay trước khi giao hàng hoặc giá trị hối phiếu hợp lệ đối với cho vay
sau khi giao hàng (như quy định hiện hành) và đồng thời phải bảo đảm mức vốn cho
vay tối đa đối với nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu nước ngoài không vượt quá 15% vốn
điều lệ thực có của Ngân hàng phát triển. Năm 2011 được tổng kết với những con số
không ngờ trong ngành ngân hàng: 12% tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống, 24% tăng
tín dụng nông thôn, 58% tăng tín dụng xuất khẩu của năm 2011. Nhìn lại năm 2011,
hệ thống ngân hàng nhà nước đã phải kiềm chế tăng trưởng tín dụng ở mức thấp chưa
9
từng có trong lịch sử phát triển ngành ngân hàng. Hệ số ICOR (số đồng vốn bỏ ra để
có một đồng tăng trưởng) của toàn nền kinh tế năm 2011 hạ khá nhiều so với những
năm trước, cho thấy đóng góp từ hiệu quả chất lượng tín dụng ngân hàng.
Nguốn thu ngân sách từ vay trong nước
Thứ nhất, trái phiểu chính phủ
Kho bạc Nhà nước đã huy động thành công được 5.900 tỷ đồng trái phiếu từ
phiên đấu thầu ngày 16/2, đạt tỷ lệ trúng thầu 84%. Trong đó, kỳ hạn 3 và 5 năm huy
động được toàn bộ 4000 tỷ đồng trái phiếu gọi thầu, với lãi suất 11.6- 11.68%/năm.
Lãi suất trúng thầu trái phiếu 2 kỳ hạn này cũng giảm liên tục trong 3 phiên gần đây,
từ mức 12.1- 12.15%/năm. Trái phiếu kỳ hạn 2 năm đấu thầu thành công 1800 tỷ đồng
trên 2000 tỷ đồng trái phiếu gọi thầu, lãi suất trúng thầu là 11.59%/năm. Kỳ hạn 10
năm huy động được 100 tỷ đồng trên 1000 tỷ đồng trái phiếu gọi thầu với lãi suất
nước, cần được xem xét đầy đủ trong mối quan hệ mật thiết với đầu tư công. Nợ công
sẽ không quá nặng nề khi đầu tư công được cắt giảm hợp lý và có hiệu quả. Một số
liệu do Bộ Tài chính công bố cho thấy rằng trên 70% nguồn vốn ODA được sử dụng
cho đầu tư công và cung ứng vốn thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh của các tập
đoàn kinh tế nhà nước. Điều đáng tiếc là khu vực kinh tế nhà nước làm ăn thường
không hiệu quả. Các số liệu thống kê chính thức cho biết rằng khu vực kinh tế nhà
nước chiếm 70% tổng vốn đầu tư quốc gia nhưng chỉ đóng góp khoảng 30% vào tổng
sản lượng quốc gia. Điều đó có nghĩa là các khu vực tư và khu vực đầu tư nước ngoài
chỉ sử dụng 30% vốn đầu tư quốc gia nhưng lại đóng góp đến 70% tổng sản lượng.
Hiệu quả sử dụng nguồn vốn của khu vực kinh tế nhà nước như vậy là bốn lần kém
hơn các khu vực kinh tế khác, năng suất lao động kém hơn và thu nhập lao động bình
quân cũng thấp hơn, trong khi khu vực này ngoài những ưu đãi mang tính chính sách
về nguồn vốn, về lãi suất còn được hưởng các đặc quyền, các ưu thế kinh tế vượt trội
mà các khu vực khác không có.
Giải pháp hoàn thiện
Thứ nhất, xây dựng chiến lược về vay nợ
Kế hoạch vay nợ cần được xây dựng dựa trên tình hình kinh tế xã hội, kế hoạch
thu- chi ngân sách nhà nước, xác định rõ mục đích vay, mức huy động vốn, hình thức
vốn và lãi suất thích hợp. Trong tình hình Việt Nam hiện nay, nên chú trọng hơn vào
các khoản vay trong nước nhằm giảm sự phụ thuộc vào các khoản vay nước ngoài,
tiềm ần nhiều nguy cơ.
Thứ hai, tăng cường kiểm soát và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay
Chính phủ cần tăng cường kiểm soát và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, vốn
được Chính phủ bảo lãnh và các khoản vốn Chính phủ cho vay lại. Trong đó, quyết
định vay về cho vay lại và bảo lãnh vay của Chính phủ cần được kiểm soát chặt chẽ và
thực hiện hết sức thận trọng, chỉ nên ưu tiên cho các chương trình, dự án có mức độ
khả thi và hiệu quả cao; không vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn; vay thương mại nước
ngoài chỉ sử dụng cho các chương trình, dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và
đảm bảo khả năng trả nợ.
Thứ ba, công khai và minh bạch thông tin trong quản lí vay nợ
quốc tế.
B
ài viết trên đây có sử dụng và trích dẫn nguyên văn các tài liệu tham khảo đó.
Nhóm thấy rằng, các quy định pháp luật về thu ngân sách nhà nước từ các
khoản vay nợ của Việt Nam còn rất nhiều sự chồng chéo và thiếu tính dự
báo. Các quy phạm pháp luật về thu ngân sách nhà nước từ các khoản vay nợ lại
không rõ ràng, dẫn đến tình trạng cuối tháng 8 năm 2011 vừa ban hành Nghị định số
75/2011/NĐ-CP ngày 30/08/2011 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất
khẩu của Nhà nước thì đầu tháng 3 năm 2012 lại ban hành Thông tư số 35/2012/TTBTC hướng dẫn một số điều của Nghị định số 75/2011/NĐ-CP. Hơn thế nữa, các số
liệu mà Chính phủ thống kê từ các khoản vay nợ liệu có minh bạch và chính xác thì
nhóm không dám khẳng định. Bài viết chỉ trình bày những vấn đề cơ bản và quan
trọng nhất. Quý độc giả có thể tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này thong qua danh mục
tham khảo của bài viết.
DANH MỤC TÀI LIỆU TAM KHẢO
1. Luật Ngân sách nhà nước 2002;
12
2. Luật Quản lý Nợ công nhà nước 2009;
3. Nghị định số 79/2010/NĐ-CP ngày 14/07/2010 của Chính phủ về nghiệp vụ
quản lý nợ công;
4. Luật Tổ chức tín dụng năm 2010;
5. Nghị định số 5/2011/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất nhập khẩu của
nhà nước;
6. Giáo trình Luật Ngân sách nhà nước;
NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, 2010;
7. Trần nợ công là bao nhiêu?