QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ NGHÀNH NGHỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN - Pdf 34

MỞ ĐẦU
Lựa chọn một ngành, nghề kinh doanh, dựa vào rất nhiều yếu tố như tiềm lực bản
thân, thị trường, nhu cầu xã hội và điều đầu tiên bạn cần quan tâm, đó là những quy
định của pháp luật. Mọi cá nhân có quyền tự do kinh doanh trên cơ sở những quy định
của pháp luật. Đối với ngành, nghề các nhà đầu tư đang lựa chọn, Nhà nước có những
quy định riêng nhằm thực hiện chính sách quản lý tốt nhất và phân chia ngành nghề
kinh doanh thành 3 nhóm sau:
-

Ngành, nghề được tự do kinh doanh;

- Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện gồm: Ngành, nghề cần có chứng chỉ hành
nghề và ngành, nghề cần có vốn pháp định;
- Ngành, nghề bị cấm kinh doanh.
Tuy nhiên, trong số đó phải kể đến ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, được coi là
loại hình kinh doanh phức tạp nhất, song lại được quan tâm nhiều nhất.
Chính vì những quan tâm này, chúng em xin được đưa ra những giải quyết cho những
vướng mắc mà các nhà đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực này đang quan tâm về điều
kiện kinh doanh trong kinh doanh có điều kiện cũng như đưa ra một cách cụ thể vấn đề
này trong một lĩnh vực kinh doanh có điều kiện được coi là khá phổ biến.
NỘI DUNG
I QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ NGHÀNH NGHỀ KINH
DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN.
1.Những quy định hiện hành của pháp luật về nghành nghề kinh doanh có điều
kiện
Ngành nghề kinh doanh có điều kiện là những ngành nghề doanh nghiệp được
quyền lựa chọn để đăng kí kinh doanh nhưng trước khi tiến hành hoạt động kinh
doanh phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định. Luật doanh nghiệp
quy định điều kiện kinh doanh được thể hiện dưới hai hình thức:
1


hiện hành có thể chia Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện gồm Ngành, nghề kinh
2


doanh có điều kiện gồm: Ngành, nghề cần có chứng chỉ hành nghề và ngành, nghề cần
có vốn pháp định
1.1 Ngành, nghề cần có chứng chỉ hành nghề trước khi đăng kí kinh doanh.
Theo quy định của nghị định 102 thì: Ngành nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành
nghề
1. chứng chỉ hành nghề quy định tại khoản 2 điều 7 luật doanh nghiệp là văn bản mà
cơ quan nhà nước có thẩm quyền của việt nam hoặc hiệp hội nghề nghiệp được nhà
nước ủy quyên cấp cho cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề
nghiệp về một ngành, nghề nhất định.
Chứng chỉ hành nghề được cấp ở nước ngoài không có hiệu lực thi hành tại Việt
Nam, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên có quy định khác.
2. ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề và điều kiện cấp chứng chỉ
hành nghề tương ứng áp dụng theo quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan.
3. đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề phải có chứng chỉ hành nghề theo
quy định của pháp luật, việc đăng kí kinh doanh hoặc đăng kí bổ sung, ngành nghề
kinh doanh đó phải thực hiện theo quy định đưới đây:
a, đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật yêu cầu giám đốc
doanh nghiệp hoặc người đứng đầu cơ sở kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề,
giám đốc của doanh nghiệp hoặc người đứng đầu cơ sở kinh doanh đó phải có chứng
chỉ hành nghề
b, đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề mà pháp luật yêu cầu giám đốc và
người khác phải có chứng chỉ hành nghề, giám đốc của doanh nghiệp đó và ít nhất
pháp luật chuyên ngành đó phải có chứng chỉ hành nghề
c, đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật không yêu cầu
giám đốc hoặc người đứng đầu cơ sở kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề, ít nhất

Hành nghề dược – 1 CCHN; (Đ.14 NĐ 79/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính
phủ)
Dịch vụ môi giới bất động sản – 1 CCHN (Đ.8 Luật KDBĐS)
Dịch vụ định giá bất động sản – 2 CCHN (Đ.8 Luật KDBĐS);
4


Dịch vụ sàn giao dịch bất động sản – 2 CCHN môi giới bất động sản (nếu có Dịch vụ
định giá bất động sản thì phải có 2 CCHN định giá bất động sản) (Đ.8 Luật KDBĐS)
Sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật – 1 CCHN;
(Quyết định 91/2002/QĐ-BNN )
Dịch vụ làm thủ tục về thuế - 2CCHN; (Điều 20 Luật Quản lý thuế)
Dịch vụ thiết kế phương tiện vận tải – 1 CCHN (Quyết định 38/2005/QĐ-BGTVT).
Hoạt động xông hơi khử trùng – 1 CCHN (Đ.3 Quyết định 89/2007/QĐ-BNN )
Dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp – 1 CCHN (trong trường hợp có ủy quyền)
(Đ.154 Luật Sở hữu trí tuệ)
1.2 Ngành, nghề kinh doanh phải có vốn pháp định trước khi đăng kí kinh doanh
Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu mà doanh nghiệp phải có theo quy định của
pháp luật để thành lập doanh nghiệp và trong suốt quá trình kinh doanh, vốn sở hữu
của doanh nghiệp không được thấp hơn số vốn pháp định.
1, ngành nghề kinh doanh phải có vốn pháp định. Mức vốn pháp định cụ thể, cơ quan
có thẩm quyền quản lý nhà nước về vốn pháp định, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
xác nhận vốn pháp định, hồ sơ điều kiện và cách thức xác nhận vốn pháp định áp dụng
theo các quy định của pháp luật chuyên ngành.
2, chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty và Giam đốc ( tổng giám đốc)
đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ tịch Hội đồng quản trị và giám đốc ( Tổng
giám đốc) đối với công ty cổ phần, tất cả các thành viên hợp danh đối với công ty hợp
danh và chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân đối với doanh nghiệp tư nhân phải chịu
trách nhiệm về tính trung thực và chính xác của vốn được xác nhận là vốn pháp định
khi thành lập doanh nghiệp. doanh nghiệp có nghĩa vụ bảo đảm mưc vốn điều lệ thực

- Kinh doanh cảng hàng không: (Khoản 1 Điều 22 NĐ 83/2007/NĐ-CP ngày
25/5/2007). Kinh doanh tại cảng hàng không quốc tế: 100 tỷ đồng; Kinh doanh tại
cảng hàng không nội địa: 30 tỷ đồng
- Cung cấp dịch vụ hàng không mà không phải là doanh nghiệp cảng hàng không:
(Khoản 2 Điều 22 NĐ 83/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007). Kinh doanh tại cảng hàng
không quốc tế: 30 tỷ đồng; Kinh doanh tại cảng hàng không nội địa: 10 tỷ đồng
6


- Kinh doanh vận chuyển hàng không: (Khoản 1 Điều 8 NĐ 76/2007/NĐ-CP ngày
9/5/2007)
+ Vận chuyển hàng không quốc tế:
 Khai thác từ 1 đến 10 tàu bay: 500 tỷ đồng
 Khai thác từ 11 đến 30 tàu bay: 800 tỷ đồng
 Khai thác trên 30 tàu bay: 1000 tỷ đồng
+ Vận chuyển hàng không nội địa:
 Khai thác từ 1 đến 10 tàu bay: 200 tỷ đồng
 Khai thác từ 11 đến 30 tàu bay: 400 tỷ đồng
 Khai thác trên 30 tàu bay: 500 tỷ đồng
 Kinh doanh hàng không chung: 50 tỷ đồng (Khoản 2 Điều 8 NĐ 76/2007/NĐCP ngày 9/5/2007)
Việc một số ngành nghề quy định mức vốn pháp định là nhằm bảo vệ lợi ích
cho người tiêu dùng và chủ nợ của các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề
đó. Cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành phái luôn giám sát số vốn sở hữu của
doanh nghiệp để cảnh báo cho người tiêu dùng và chủ nợ khi vốn chủ sở hữu của DN
có nguy cơ bị giảm sút dưới mức vốn pháp định và kịp thời có biện pháp quản lý cần
thiết khi số vốn chủ sở hữu của DN giảm dưới mức vốn pháp định.
Pháp Luật Việt Nam hiện nay có quy định một số ngành nghề phải có vốn pháp
định như: kinh doanh ngân hàng, bảo lãnh chứng khoán, bảo hiểm, Dịch vụ bảo vệ,
Kinh doanh bất động sản, Dịch vụ đòi nợ thuê,… Các quy định này thể hiện trong
pháp luật chuyên ngành. Đối với việc thành lập DN kinh doanh những ngành nghề

thể như sau:
a) Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam;
b) Có trình độ đại học luật;
c) Tốt nghiệp khóa đào tạo nghề luật sư ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài được pháp luật
Việt Nam công nhận, trừ trường hợp được miễn theo quy định tại Điều 9 của Pháp
lệnh này;
d) Có phẩm chất đạo đức tốt;
đ) Không phải là cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
8


người muốn gia nhập Đoàn luật sư trước hết phải là công dân Việt Nam, đồng thời
họ phải cư trú tại Việt Nam mới được gia nhập Đoàn luật sư.Như vậy,một người có
quốc tịch Việt Nam nhưng họ đang cư trú ở nước ngoài (người Việt Nam định cư ở
nước ngoài) thì không được gia nhập Đoàn luật sư.Quy định này có tính truyền thống
không chỉ ở Việt Nam,mà phù hợp với thông lệ quốc tế,trừ một số ngoại lệ áp dụng
nguyên tắc có đi có lại của giữa các quốc gia hay các nước cùng tham gia một điều
ước đa phương có thỏa thuận về vấn đề này.Ví dụ luật sư của Việt Nam được gia nhập
Đoàn luật sư và hành nghề ở Trung Quốc,thì ngược lại luật sư của Trung Quốc cũng
được gia nhập Đoàn luật sư và hành nghề ở Việt Nam;luật sư của một nước trong
khuôn khối Cộng đồng chung Châu Âu có thể trở thành thành viên của một Đoàn luật
sư để hành nghề luật sư ở một nước khác cũng là thành viên trong khối.Thông thường
pháp luật nước nào cũng giành quyền hành nghề luật sư trên lãnh thổ nước mình cho
công dân của nước mình.
Người có trình độ đại học luật là người có bằng cử nhân luật hoặc bằng tốt nghiệp
đại học chuyên nghành do cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam cấp hoặc có bằng tốt
nghiệp đại học chuyên nghành luật do cơ sở giáo dục đại học của nước ngoài cấp và
được công nhận tương đương với văn bằng của Việt Nam theo quy định của Bộ Giáo
dục và Đào tạo theo thông lệ quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
ký kết hoặc tham gia.

Những người được miễn đào tạo nghề luật sư
Khi soạn thảo pháp lệnh, vấn đề miễn đào tạo nghề luật sư ( quy định tại Điều 9
pháp lệnh luật sư) còn có ý kiến khác nhau về đối tượng được miễn đào tạo nghề luật
sư.Ý kiến thứ nhất đề nghị mở rộng đối tượng được miễn khóa đào tạo nghề luật sư
cho những người là chuyên viên chính pháp lý.Ý kiến này một mặt nhất trí là nghề
luật sư có những nét đặc thù, mặt khác cho rằng quy định hiện hành thì một người
được bổ nhiệm vào nghạch chuyên chính pháp lý phải có thời gin công tác hơn 10
năm (thực tiễn có những người phải 15 năm,20 năm hoặc lâu hơn),như vậy với quá
trình công tác pháp luật lâu năm họ cũng có thể biết được kiến thức cơ bản về hành
nghề luật sư.Ngược lai ý kiến thứ hai thì cho rằng người nào muốn hành nghề luật sư
10


thì phải qua khóa học nghề luật sư (không thể được miễn),vì nghề luật sư khác xa so
với các nghề luật khác,kể cả đội ngũ Thẩm phán,Kiểm sát viên,Điêu tra viên,Giáo sư
hay tiến sĩ luật.Qua cân nhắc ban soạn thảo thấy rằng quy định miễn đào tạo nghề luật
sư cho những người được công nhận là giáo sư,Phó giáo sư chuyên nghành luật,Tiến
sĩ luật,người đã làm Thẩm phán,Kiểm sát viên từ 5 năm trở lên,người đã làm điều tra
viên cao cấp,chuyên viên pháp lý cao cấp,nghiên cứu viên pháp lý cao cấp được miễn
đào tạo nghề luật sư là cần thiết,phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam,đồng
thời cũng phù hợp với thông lệ quốc tế.
Ngưởi có giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề luật sư do cơ sở đào tạo luật
ở nước ngoài cấp được Bộ tư xem xét công nhận nếu thời gian đào tạo nghề luật sư ở
nước ngoài ít nhất là 6 tháng và phải có nội dung cơ bản phù hợp với chương trình đào
tạo nghề luật sư ở Việt Nam về số môn học,số tiết học v.v Quy định này là phu hợp vì
đào tạo nghề luật sư chủ yếu về kỹ năng nghề, trên cơ sở kiến thức pháp luật đã được
đào tạo ở trường đại học ,tuy có cập nhật kiến thức pháp luật mới,nhưng không phải là
đào tạo kiến thức pháp luật.Kỹ năng hành nghề luật sư tuy có những điểm khác nhau
theo quan niệm truyền thống,văn hóa mỗi nước,nhưng về những nguyên tắc cơ bản
của luật sư và hành nghề luật sư của các nước đều có những điểm tương đồng.Việc

này phù hợp với tính chất của nghề luật sư,phù hợp với thông lệ quốc tế,đồng thời phù
hợp với Pháp lệnh cán bộ, công chức,tránh được một số trường hợp luật sư không
chuyên tâm nghề nghiệp,hành nghè thiếu tính khách quan;ngược lại tránh được việc
một bộ phận cán bộ,công chức không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo quy
định của pháp luật, “chân ngoài dài hơn chân trong”.Ngoài ra Điều 42 Pháp lệnh luật
sư năm 2001 quy định chộ cho phép cán bộ,công chức đang hành nghề luật sư theo
pháp lệnh tổ chức năm 1987 được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và được tiếp tục
hành nghề luật sư trong thời hạn là 3 năm,trong thời hạn này số luật sư đang là cán
bộ,công chức cần cân nhắc phải lựa chọn dứt khoát hoặc tiếp tục là cán bộ,công chức
thì phải ra khỏi Đoàn luật sư và không được hành nghề luật sư và ngược lại.
Thủ tục gia nhập Đoàn luật sư (điều 10 pháp lệnh luật sư năm 2001)
Người muốn gia nhập Đoàn luật sư phải làm đơn gửi ban chủ nhiệm Đoàn luật sư
của địa phương nơi mình cư trú.Kèm theo đơn phải có các giấy tờ bao gồm:sơ yếu lý
lịch;Bản sao bằng cử nhân luật hoặc bản sao Bằng thạc sỹ,tiến sỹ luật;Bản sao giấy
12


nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề luật sư hoặc giấy tờ chứng nhận là đối tượng thuộc
các trường hợp được miễn đào tạo nghề luật sư;Phiếu lý lịch tư pháp;Giấy tờ xác nhận
nơi cư trú.Nơi cư trú của một người được xác định theo quy định của Bộ luật dân sự.
Ban chủ nhiệm đoàn luật sư xem xét,quyết định chấp nhận việc xin gia nhập Đoàn
luật sư trong thời hạn 30 ngày,kể từ ngày nhận được đơn xin gia nhập Đoàn luật
sư;trong trường hợp từ chối thì phải thông báp lý do bằng văn bản cho người làm
đơn.Đối với người có Giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo luật sư ở nước
ngoài,Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư phải có văn bản gửi Bộ tư pháp kèm theo bản sao
Giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề luật sư ở nước ngoài và các giấy tờ
chứng minh nội dung được đào tạo,thời gian đào tạo.Ban chủ nhiệm đoàn luạt sư chỉ
xem xét ,chấp thuận cho gia nhập Đoàn luật sư đối với người có Giấy chứng nhận tốt
nghiệp khóa đào tạo nghề luật sư ở nước ngoài sau khi Bộ tư pháp có văn bản về việc
công nhận Giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề luật sư ở nước ngoài.

ký văn bản tư vấn pháp luật cho khách hàng ( điểm b,khoản 3 Điều 15) và phải chịu
trách nhiệm về công việc mà mình thực hiện trước luật sư hướng dẫn.
Hết thời gian tập sự,luật sư phải trải qua kỳ kiểm tra để đánh giá khả năng hành
nghề luật sư.
Hình thức kiểm tra hết tập sự của luật sư gồm:Kiểm tra viết và kiể tra vấn đáp.
Nội dung kiểm tra hết tập sự gồm:Pháp lệnh về hành nghề luật sư;quy tắc hành nghề
và đạo đức nghề nghiệp của luật sư;kỹ năng tư vấn pháp luật;kỹ năng tranh
tụng;những quy định mới của pháp luật.
Luật sư tập sự đạt yêu cầu kiểm tra hết tập sự được Đoàn luật sư đề nghị cấp Chứng
chỉ hành nghề luật sư.Người không đạt yêu cầu kiểm tra thì được gia hạn tập sự tối đa
là 2 lần,mỗi lần gia hạn từ 6 tháng đến 12 tháng.Hết thời hạn gia hạn,luật sư tập sự
phải tham gia kỳ kiểm tra hết tập sự.Nếu lần thứ 3 mà luật sư tập sự vẫn không đạt
yêu cầu thì bị xóa tên khỏi danh sách luật sư tập sự của Đoàn luật sư.Sau 3 năm kể từ
ngày bị xóa tên khỏi danh sách luật sư tập sự do không đạt yêu cầu của kỳ kiểm tra hết
tập sự,người bị xóa tên khỏi danh sách luật sư tập sự có thể xin gia nhập lại Đoàn luật
sư để tập sự hành nghề luật sư.
Cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư
14


Luật sư đạt yêu cầu kỳ kiểm tra hết tập sự và người được miễn thời gian tập sự hành
nghề luật sư đề nghị Bộ tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư ( khoản 1 Điều 13).
Bộ tư pháp cấp chứng chỉ hành nghề luật sư theo yêu cầu của Đoàn luật sư trong thời
hạn 30 ngày,kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề luật
sư;trong trường hợp bị từ chối thì phải thông báo lý do bằng vă bản cho người làm
đơn và Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư.Người bị từ chối cấp chứng chỉ hành nghề luật sư
có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ tư pháp,nếu không đồng ý với quyết định giải
quyết khiếu nại có thể khởi kiện vụ án hành chính tại tòa theo quy định của pháp luật.
Chứng chỉ hành nghề luật sư được cấp không thời hạn và chỉ bị thu hồi trong một số
trường hợp,cụ thể là:người bị xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức thu hồi Chứng

Bằng những hiểu biết ít ỏi của mình về vấn đề này, chúng em rất mong nhận được
những đóng góp quý báu từ phía thầy cô để bài làm của chúng em được hoàn thiện
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status