TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Niên khóa (2009-2013)
ĐỀ TÀI:
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG GÂY RA
Giảng viên hướng dẫn:
ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
Bộ môn: Luật tư pháp
Sinh viên thực hiện:
Neáng Sóc Thônh
MSSV: 5095470
Lớp: Luật Tư Pháp 2-K35
Cần Thơ, Tháng 05/2013
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trang
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu ..............................................................................................1
dựng gây ra ..............................................................................................................21
2.1.1. Có thiệt hại xảy ra ...........................................................................................21
2.1.2. Có hành vi trái pháp luật..................................................................................23
2.1.3. Có mối quan hệ nhân quả giữa sự tác động của nhà cửa, công trình xây dựng đối
với thiệt hại xảy ra ....................................................................................................24
2.1.4. Có lỗi của chủ sở hữu, người được giao quản lý, trông coi nhà cửa, công trình xây
dựng...........................................................................................................................25
2.2. Năng lực bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra ........ 26
2.3. Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng
khác gây ra ..............................................................................................................28
2.3.1. Chủ sở hữu đồng thời là người trực tiếp quản lý sử dụng nhà cửa, công trình
xây dựng ...................................................................................................................28
2.3.2. Chủ sở hữu giao nhà cửa, công trình xây dựng cho người khác quản lý, sử dụng
..................................................................................................................................29
2.3.2.1. Chủ sở hữu là Nhà nước giao tài sản thuộc sở hữu nhà nước là nhà cửa, công
trình xây dựng khác cho một số chủ thể là các cơ quan, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình
quản lý và khai thác sử dụng..................................................................................... 29
2.3.2.2. Chủ sở hữu là cộng đồng dân cư giao tài sản thuộc sở hữu cộng đồng là nhà cửa,
công trình xây dựng khác cho những chủ thể khác quản lý, sử dụng .........................29
2.3.2.3. Chủ sở hữu uỷ quyền cho người khác quản lý, trông coi nhà cửa, công trình xây
dựng khác cho mình ..................................................................................................30
2.3.2.4. Chủ sở hữu cho người khác thuê, mượn nhà cửa, công trình xây dựng ........31
2.3.2.5. Trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng bị người khác chiếm hữu bất hợp pháp
................................................................................................................................. 31
2.4. Xác định thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra ...........................32
2.4.1. Xác định thiệt hại về vật chất do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra..........32
2.4.1.1. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm ..................................................................32
2.4.1.2. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm ..............................................................33
KẾT LUẬN
Đề tài: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trường, của khoa học kỹ thuật hiện
đại đã đem đến cho con người những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, mặt trái của nó là kéo
theo sự gia tăng các tai nạn mang tính khách quan nhiều khi nằm ngoài sự chi phối, điều
khiển của con người, đe dọa tới sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người
trong xã hội. Trong đó, nhà cửa, công trình xây dựng là những tài sản tưởng chừng như
chúng có giá trị mang lại cho con người những lợi ích nhất định nhưng chúng cũng là
những nguồn gây thiệt hại đáng kể cho những người xung quanh. Do đó, việc yêu cầu bồi
thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra luôn là một vấn đề phổ biến.
Hiện nay, phần lớn các tranh chấp thường rất phức tạp và kéo dài. Đối với những thiệt hại
không lớn thì các bên có thể tự thỏa thuận được nhưng nếu thiệt hại quá lớn các bên khó
có thể tự thỏa thuận giải quyết được thì đều nhờ đến Tòa án để giải quyết.
Tuy nhiên, về mặt pháp lý thì vấn đề về bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công
trình xây dựng gây ra chỉ được các nhà làm luật dự liệu rất “khiêm tốn”, chỉ trong một
điều luật, đó là điều 627 Bộ luật dân sự năm 2005 và không có văn bản hướng dẫn, giải
thích chi tiết. Điều đó dẫn tới sự thiếu cụ thể, không rõ ràng, chỉ được hiểu như một
nguyên tắc, vì thế gây khó khăn không nhỏ cho những người làm công tác thực tiễn.
Từ những lý do nêu trên, người viết đã chon đề tài “Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra” để làm đề tài nghiên cứu cho luận
văn tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của những quy định của pháp luật
về loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra. Tìm hiểu
quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật liên quan về trách nhiệm bồi
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, thì luận văn gồm
có ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1- Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công
trình xây dựng gây ra
Chương 2- Những quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do nhà cửa,
công trình xây dựng gây ra
Chương 3- Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật – Một số bất cập và hướng
hoàn thiện.
Do thời gian nghiên cứu và trình độ chuyên môn và kiến thức thực tiễn của tác
giả còn hạn chế, nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự
góp ý của quý thầy cô để đề tài luận văn được hoàn thiện hơn. Tác giả xin chân thành
cảm ơn!
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
2
SVTH: Neáng Sóc Thônh
Đề tài: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
Chương 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG GÂY RA
1.1. Khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình
xây dựng gây ra
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam năm 1992 quy định:
“Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh
Điều 58, Hiến pháp năm 1992
Điều 71, Hiến pháp năm 1992
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
3
SVTH: Neáng Sóc Thônh
Đề tài: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
phát sinh kể cả khi không có lỗi của người gây thiệt hại. Dưới góc độ khoa học pháp lý,
trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này được gọi là trách nhiệm nâng cao.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng như sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một
loại trách nhiệm dân sự theo đó người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân, xâm phạm danh dự, uy tín tài sản của pháp nhân hoặc của các chủ thể khác mà
gây thiệt hại thì phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra.
Nếu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng phát sinh trên
cở sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một
loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối với người có hành vi trái pháp luật
xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy
định chủ yếu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với hành vi xâm
phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của các cá nhân và tổ
chức khác.
- Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại
trách nhiệm dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự. Khi một người gây ra tổn
thất cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một
việc bồi thường. Do đó, những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được
nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho
người bị thiệt hại. Và cũng chính vì vậy, thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi
phục lại thiệt hại cho người bị thiệt hại.
- Về mức bồi thường: bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về nguyên tắc là
người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ và kịp thời thiệt hại xảy ra. Các bên chủ thể
trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể tự do thỏa thuận về mức bồi thường, hình
thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi
thường nột lần hoặc nhiều lần. Thiệt hại chỉ có thể được giảm trong một trường hợp đặc
biệt đó là người gây thiệt hại có lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh
tế trước mắt và lâu dài của họ.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không chỉ nhằm bảo đảm việc
đền bù tổn thất đã gây ra mà còn giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ
tài sản xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
1.1.2. Khái niệm nhà cửa, công trình xây dựng
Trong những năm gần đây cùng với tốc độ phát triển của các đô thị, đặc biệt là ở
các thành phố lớn việc đầu tư xây dựng các công trình nhà cao tầng phát triển khá nhanh.
Đây là những tài sản có giá trị, mang lại cho người sử dụng những lợi ích to lớn, nhưng
cũng là những nguồn gây thiệt hại đáng kể cho những người xung quanh. Vì vậy trước
khi tìm hiểu về trách nhiêm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
thì trước hết chúng ta cần phải hiểu rõ về khái niệm nhà cửa, công trình xây dựng trong
trường hợp này được hiểu như thế nào.
Luật xây dựng năm 2005 quy định: “Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo
thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt công trình, được
liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới
mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao
gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình xây dựng công nghiệp, giao thông,
thủy lợi, năng lượng và các công trình xây dựng khác”4.
Bên cạnh đó, theo Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06 tháng 02 năm 2013 về
trình khai thác than, quặng; công trình công nghiệp dầu khí; công trình công nghiệp nặng;
công trình năng lượng; công trình công nghiệp hóa chất và hóa dầu; công trình công
nghiệp nhẹ; công trình công nghiệp chế biến thủy sản và đồ hộp.
- Công trình giao thông bao gồm: công trình đường bộ; công trình đường sắt;
công trình đường thủy; cầu; hầm; sân bay.
- Công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn gồm: công trình thủy lợi, công
trình lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, chăn nuôi.
- Công trình hạ tầng kỹ thuật gồm: công trình cấp nước, thoát nước; công trình
xử lý rác thải; công trình khác.
Tóm lại, từ những định nghĩa được căn cứ từ luật chuyên ngành ta có thể đưa ra
khái niệm về nhà cửa, công trình xây dựng như sau: Ngoài nhà cửa là công trình xây
dựng có tường vách dùng để ở hay dùng vào mục đích khác bao gồm nhà ở, nhà kho, nhà
tranh, nhà ngói… thì công trình xây dựng ở đây cũng được hiểu là một sản phẩm được
tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công
trình, được liên kết, định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần dưới mặt
nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế như công trình dân dụng, công
trình công nghiệp, công trình giao thông, công trình thủy lợi, công trình công cộng,…
1.1.3. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng
gây ra
Theo quy định chung của pháp luật thì công dân và pháp nhân có quyền được
bảo vệ tài sản, các lợi ích hợp pháp…Trong Hiến pháp năm 1992 quy định “Công dân có
quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất, vốn và tài
sản khác…, Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”7.
Bộ luật dân sự năm 2005 cũng ghi nhận: “cá nhân có quyền nhân thân gắn với tài sản và
quyền nhân thân không gắn với tài sản, quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác
đối với tài sản”8. Pháp luật luôn tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu tài sản và quyền được
hưởng lợi từ tài sản của các chủ sở hữu, nhưng đồng thời cũng đặt ra cho chủ sở hữu
những nghĩa vụ khi thực hiện các quyền năng pháp lý của họ. Như vậy pháp luật qui
định, khi tài sản của bất kỳ chủ sở hữu nào mà gây thiệt hại trái pháp luật cho chủ thể
7
tài sản mà để tài sản đó gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho người khác thì
phải bồi thường thiệt hại”9.
Theo Điều 627 Bộ luật dân sự năm 2005 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra được quy định như sau: “Chủ sở hữu, người
được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi
thường thiệt hại, nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở
gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị
thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng”. Do đó, từ quy định trên thì về nguyên tắc trách
nhiệm bồi thường sẽ thuộc về chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu giao quản lý tài
sản đó chứ không phải thuộc về tất cả mọi người đang chiếm giữ tài sản đó, trừ trường
hợp thiệt hại xảy ra là do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng.
Do nhà cửa, công trình xây dựng là một loại tài sản thuộc loại tài sản bất động
sản, có giá trị lớn. Như vậy, có thể dựa vào khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do tài sản gây ra và Điều 627 Bộ luật dân sự năm 2005 để xây dựng khái niệm trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra cụ thể như sau: “Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra là quy định của pháp
luật dân sự mà khi áp dụng sẽ phát sinh một quan hệ dân sự, theo đó chủ sở hữu, người
được chủ sở hữu giao cho quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng đó nếu để nhà
9
TS. Trần Thị Huệ, Tổng quan về trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại . Vấn đề lý luận và thực tiễn,
Truy cập ngày 05/03/2013
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
7
SVTH: Neáng Sóc Thônh
Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây
ra và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ bao gồm
thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng. Riêng thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín
không thuộc phạm vi tác động của hai loại trách nhiệm này.
Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra luôn mang lại hậu
quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại như khôi phục lại tình trạng ban đầu của
thiệt hại bằng biện pháp bồi thường. Đồng thời, có ý nghĩa giáo dục mọi người về ý thức
trong việc trông coi, quản lý tài sản,…
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
8
SVTH: Neáng Sóc Thônh
Đề tài: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
Thứ ba, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ phát sinh khi
có thiệt hại thực tế xảy ra.
Thứ tư, về đối tượng gây thiệt hại nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại ở hai
loại trách nhiệm này là do sự tự thân tác động của nguồn nguy hiểm cao độ hoặc do chính
đối tượng là nhà cửa, công trình xây dựng gây ra chứ không phải do hành vi của con
người.
* Khác nhau
- Về căn cứ phát sinh:
Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây thì
lỗi được xem xét có thể là lỗi suy đoán dù họ có lỗi vô ý hoặc cố ý.
SVTH: Neáng Sóc Thônh
Đề tài: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra có
ba trường hợp được miễm trách nhiệm bồi thường đó là: thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi
của người bị thiệt hại, do sự kiện bất khả kháng, do tình thế cấp thiết.
Tuy nhiên đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây
dựng gây ra ghi nhận hai trường hợp được miễm trách nhiệm bồi thường: thiệt hại xảy ra
hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng.
* Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
- Giống nhau
Tương tự như trên, thiêt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra và do súc vật
gây ra bao gồm: thiệt hại về sức khỏe, tài sản, tính mạng. Còn đối với thiệt hại về danh
dự, nhân phẩm, uy tín cũng không thuộc phạm vi điều chỉnh của hai loại trách nhiệm này.
Về hậu quả, cả hại loại trách nhiệm này luôn mang lại hậu quả bất lợi về tài sản
cho người gây thiệt hại như khôi phục lại tình trạng ban đầu của thiệt hại bằng biện pháp
bồi thường khi có thiệt hại xảy ra trên thực tế, có ý nghĩa giáo dục mọi người về ý thức
trong việc trông coi, quản lý tài sản,…của mình.
Về nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại là do sự tự thân tác động của chính đối
tượng là súc vật hoặc nhà cửa, công trình xây dựng gây ra không phải do hành vi của con
người.
Về yếu tố lỗi, lỗi được xem xét trong hai loại trách nhiệm này là lỗi suy đoán.
Bởi vì, chủ sở hữu, người được giao quản lý luôn bị xem là có lỗi trong việc trông coi,
quản lý tài sản.
- Khác nhau
Về chủ thể chịu trách nhiệm:
+ Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác
gây ra có hai chủ thể chịu trách nhiệm bao gồm: chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao
hữu, vì thế hai chế định này phát triển rất sớm trong hệ thống các qui định của pháp luật
mỗi quốc gia. Khi ra đời, để củng cố và bảo vệ địa vị thống trị của giai cấp bóc lột, nhà
nước ban hành pháp luật, qui định những tài sản nào là của nhà nước, tài sản nào thuộc về
cá nhân và đặc biệt qui định các chế tài có tính nghiêm khắc áp dụng đối với những ai có
hành vi trái luật xâm phạm tài sản của người khác.
Ở nước ta, các bộ luật của nhà nước phong kiến như Luật Hồng Đức, Luật Gia
Long có qui định về trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ lịch sử do tình hình
chính trị - kinh tế - xã hội khác nhau nên mỗi bộ luật qui định không giống nhau về nội
dung các chế định đó.
Trong Luật Hồng Đức, tại chương tạp luật có các qui định về bồi thường thiệt
hại do hành vi của con người gây ra, như: trộm cắp, đánh người và các qui định về trách
nhiệm bồi thường do tài sản gây ra như do súc vật gây ra (điều 581), công trình xây dựng
gây ra,…Trong đó, trách nhiêm bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng gây ra được
quy định cụ thể như sau:
Điều 568 Luật Hồng Đức qui định:
“Khi có việc xây dựng hoặc phá huỷ gì mà phòng bị không cẩn thận để đến nỗi
xảy ra chết người thì bị xử biếm một tư và chịu tiền mai táng 5 quan, còn thợ thuyền, chủ
ty thì hình quan sẽ xem xét lỗi vì ai xảy ra mà định tội”10.
Theo quy định của điều luật khi xây dựng nhà ở, công trình xây dựng, chủ sở
hữu phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết đảm bảo an toàn trong xây dựng và có biện
pháp đề phòng các trường hợp có thể gây thiệt hại cho tài sản, tính mạng sức khoẻ của
người khác. Tuy nhiên, nếu xây dựng hoặc phá huỷ công trình xây dựng mà gây thiệt hại
thì chủ sở hữu phải bồi thường. Trường hợp này có hai khả năng xảy ra: Thứ nhất là khi
xây dựng hoặc phá huỷ công trình mà người trực tiếp làm công việc đó có lỗi để gây ra
thiệt hại. Thứ hai, do người chủ không cẩn thận trong việc ngăn ngừa thiệt hại để cho
10
Điều 568 Luật Hồng Đức
Tuy nhiên, những thành quả đó không được kế thừa trong luật của nhà Nguyễn.
Vấn đề này do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chính là do nhà Nguyễn bị ảnh
hưởng, phụ thuộc nhiều vào chế độ phong kiến phương Bắc. Cho nên, trong Hoàng Việt
Luật lệ (Luật Gia Long), cấu trúc của Luật Gia Long hoàn toàn khác so với Luật Hồng
Đức. Trong chế định bồi thường thiệt hại, các qui định về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do tài sản gây ra không qui định cụ thể mà chủ yếu qui định về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do hành vi con người gây ra (quyển 6 - Hộ luật). Quyển 6 chủ yếu qui
định các hành vi gây thiệt hại về tài sản của Vua hoặc quan lại triều đình mà không có
qui định về bồi thường thiệt hại tài sản của công dân. Điều này có thể được giải thích là
trong xã hội nhà Nguyễn, pháp luật bảo vệ tuyệt đối quyền lợi của giai cấp thống trị
nhằm củng cố địa vị của giai cấp thống trị đối với nhân dân lao động.
1.3.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
trong thời kỳ Pháp thuộc
Sau khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, Pháp đã thi hành chế độ bảo hộ đối
với Việt Nam và các nước Đông Dương, vì vậy các bộ luật dân sự của nước ta thời kỳ
Pháp thuộc do nhà nước Pháp ban hành bằng tiếng Pháp và được dịch ra tiếng Việt. Các
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
12
SVTH: Neáng Sóc Thônh
Đề tài: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
bộ luật này dựa theo Bộ luật dân sự của NAPOLEON nhưng có điều chỉnh phù hợp với
điều kiện chính trị - kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
Chế định bồi thường thiệt hại trong Bộ Dân luật Bắc Kỳ (DLBK) và Hoàng Việt
Trung Kỳ Hộ luật (DLTK) được chia thành trách nhiệm dân sự theo hợp đồng và ngoài
hợp đồng. Đối với trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, nguyên tắc chung để xác định
11
12
Điều 711 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 763 Dân luật Trung Kỳ
Điều 716 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 767 Dân luật Trung Kỳ
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
13
SVTH: Neáng Sóc Thônh
Đề tài: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
thường. Nếu chủ nhà cố ý hoặc vô ý không tu bổ hư hỏng mà để gây thiệt hại thì đây là
hành vi vô ý của chủ nhà. Trường hợp nhà đổ do xây dựng không đảm bảo an toàn như
chất lượng vật liệu không tốt, kỹ thuật xây dựng kém hoặc làm nhà tạm bợ vì không có
khả năng kinh tế,… Những trường hợp này mà nhà ở gây thiệt hại thì được coi là lỗi gián
tiếp của chủ sở hữu, cần phải biết hoặc buộc phải biết về khả năng nhà có thể đổ nát khi
gặp mưa to, gió lớn, cho nên chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại.
Các qui định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hai bộ Dân luật Bắc kỳ
và Dân luật Trung kỳ đều dựa trên căn cứ vào lỗi trực tiếp hoặc lỗi gián tiếp của của chủ
sở hữu hoặc quản lý sử dụng tài sản. Nguyên tắc xác định trách nhiệm dân sự dựa trên
yếu tố lỗi đảm bảo được việc xác định đúng trách nhiệm dân sự của người có hành vi trái
luật, bảo vệ quyền lợi của người bị thiệt hại trong việc khắc phục hậu quả thiệt hại do
người khác gây ra.
Nhìn chung, chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình
xây dựng gây ra trong thời kỳ này được quy định một cách khá cụ thể. Đây là một điểm
tiến bộ rõ rệt của pháp luật thời kỳ này. Cụ thể, điều luật chỉ ra được chủ thể phải chịu
Đề tài: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
quy định về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra trong một số trường hợp cụ thể như14 :
bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, bồi thường thiệt hại do súc vật
gây ra, bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra, bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình
xây dựng gây ra. Trong đó, chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công
trình xây dựng khác gây ra được quy định cụ thể tại Điều 631 Bộ luật dân sự năm 1995
như sau: “Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình
xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị
sụp đổ, hư hỏng, sụp lở, gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra
hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng”.
Tiếp theo đó, là Bộ luật Dân sự 2005 được ban hành nhằm sửa đối bổ sung khắc
phục những hạn chế còn sót lại của Bộ luật Dân sự 1995. Tuy nhiên, trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra được quy định tại Điều 627
Bộ luật dân sự năm 2005 nhưng vẫn không có điểm khác biệt so với Bộ luật dân sự năm
1995 chỉ có sự thay đổi về số điều luật nhưng nội dụng vẫn giữ nguyên không có gì thay
đổi. Bên cạnh đó, các văn bản dưới luật hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật
Dân sự 2005 cũng lần lượt được ban hành như: Nghị Quyết số 01/2004/NQ- HĐTP ngày
28/04/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, về hướng dẫn áp dụng
một số quy định của Bộ luật dân sự 2005 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng, nay được thay thế bằng Nghị Quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ
luật dân sự 2005 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra cũng không được giải
thích cụ thể giống như bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Vì vậy,
chỉ căn cứ vào sự điều chỉnh của một số ít văn bản cùng với điều luật như trên thì việc áp
dụng vào thực tiễn để giải quyết các tranh chấp còn gặp nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, trong lĩnh vực xây dựng vấn đề bồi thường thiệt hại do nhà cửa,
nghiệp hóa, hiện đại hóa như ngày nay. Chính vì lẽ đó, việc hoàn thiện hơn các quy định
của pháp luật về chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra nói riêng là một yêu cầu hết
sức cần thiết trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay.
1.4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra theo
pháp luật dân sự của một số nước
Pháp luật luật dân sự của Pháp ảnh hưởng mạnh đến pháp luật dân sự của nhà
nước phong kiến Việt Nam thời kỳ thuộc địa, vì thế các qui định về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại nói chung trong các Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Dân luật Trung Kỳ đều
giống Bộ luật dân sự Pháp.
Điều 1384 Bộ luật dân sự Pháp quy định:
“Mỗi người phải chịu trách nhiệm không những về thiệt hại do mình gây ra mà
cả thiệt hại do những người mà mình chịu trách nhiệm hoặc những vật mà mình coi giữ
gây ra”15.
Điều 1386 Bộ luật dân sự Pháp qui định: “Chủ sở hữu công trình xây dựng phải
chịu trách nhiệm về thiệt hại gây ra do công trình bị đổ vì thiếu bảo dưỡng hoặc vì
khuyết tật trong khi xây dựng”16. Theo quy định trên, có thể hiểu chủ sở hữu bất động
sản phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do bất động sản của mình bị đổ nát hay bị cháy
gây ra. Sự đổ nát được thể hiện hoặc bằng sự sụp đổ của công trình hoặc bằng sự rơi
rụng một vài vật liệu nào đó gắn với công trình. Sự đổ nát này đặt ra trách nhiệm của chủ
sở hữu nếu như nó có thể quy cho sai sót trong xây dựng hay do thiếu sự tu bổ công trình.
Trong Bộ luật dân sự Nhật Bản, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được qui định
tại Chương V- Hành vi không hợp pháp. Chương này qui định về bồi thường thiệt hại do
hành vi không hợp pháp của con người trực tiếp hoặc gián tiếp gây thiệt hại. Người có
hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp tài sản
gây thiệt hại thì cần phải xác định người chủ sở hữu, người trực tiếp quản lý, người sử
dụng có lỗi hay không. Nếu thiệt hại xảy ra mà người quản lý, sử dụng hoàn toàn không
có lỗi thì không phải bồi thường. Lỗi của người quản lý tài sản thể hiện trong từng trường
15
16
trúc trên đất thì người chiếm hữu cấu trúc chịu trách nhiệm về những thiệt hại đối với
bên bị thiệt hại, song nếu như người chiếm hữu đã thể hiện sự quan tâm đúng mức nhằm
ngăn chận việc xảy ra thiệt hại thì chủ của cấu trúc đó phải bồi thường”17.
Theo qui định trên, nếu công trình đang xây dựng mà gây thiệt hại thì phải xác
định lỗi của người đang thi công. trường hợp người thi công có lỗi như vi phạm qui trình
kỹ thuật xây dựng, vô ý để tài sản gây thiệt hại cho người khác thì bên thi công phải bồi
thường thiệt hại. Qui định này hoàn toàn phù hợp với thực tế, bởi lẽ xây dựng là công
việc thuộc chuyên môn kỹ thuật cao, người làm nghề xây dựng phải có thẻ hành nghề và
mua bảo hiểm nghề nghiệp, vì vậy nếu trong quá trình xây dựng do lỗi của bên thi công
thì bên thi công phải bồi thường thiệt hại và bên thi công có quyền yêu cầu doanh nghiệp
bảo hiểm bồi thường thay.
Trường hợp, các công trình xây dựng hoặc các cấu trúc khác như nhà khung
sắt, nhà gỗ…sụp đổ gây thiệt hại, trước hết xem xét người chiếm hữu cấu trúc đó có lỗi
trong việc sử dụng hay không, nếu người chiếm hữu không có lỗi trong việc cấu trúc gây
thiệt hại thì chủ sở hữu công trình phải bồi thường. Rõ ràng, trường hợp này người chủ sở
hữu không có lỗi trong việc khai thác tài sản, cho nên qui định có tính chất suy đoán
người chủ sở hữu có lỗi nên buộc phải bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, xét về mặt thực
tiễn qui định này có tính hợp lý, thể hiện là công trình xây dựng là những khối bê tông
cốt thép khổng lồ được chôn sâu trong lòng đất, vì công trình xây dựng do con người tạo
17
Điều 717 Bộ luật dân sự Nhật Bản
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
17
SVTH: Neáng Sóc Thônh
nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra đã mở ra một hướng
giải quyết tranh chấp, theo đó, khi nhà cửa, công trình xây dựng gây ra thiệt hại, chủ sở
hữu, người đang quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng đương nhiên bị coi là có
lỗi. Với quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng
khác gây ra, quyền lợi của người bị thiệt hại được bảo đảm. Việc xác định trách nhiệm
trên nguyên tắc lỗi và trách nhiệm chứng minh của người có quyền, lợi ích bị xâm phạm
nhiều khi rất phức tạp và có thể còn có những bất lợi cho người bị thiệt hại. Nhiều trường
hợp tai nạn xảy ra do nhà cửa, công trình xây dựng bị sụp đổ hoặc do bị lún, nứt…nhưng
thiệt hại thực tế đã xảy ra nhưng không do lỗi của ai. Vì vậy, trong những trường hợp
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
18
SVTH: Neáng Sóc Thônh
Đề tài: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
này, nếu bắt buộc người bị thiệt hại phải dẫn chứng lỗi tức là đã gián tiếp hạn chế quyền
được đòi bồi thường của họ, nhất là những trong trường hợp này thiệt hại không phải do
con người gây ra mà chỉ do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra cũng
nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của chủ sở hữu, người sử dụng, quản lý nhà cửa, công
trình xây dựng. Chủ sở hữu, người sử dụng, quản lý nhà cửa, công trình xây dựng có
nghĩa vụ trông coi, quản lý, không để nhà cửa, công trình xây dựng của mình gây thiệt
hại cho người khác. Để thực hiện nghĩa vụ đó, họ phải tuân thủ các quy tắc trong việc sử
dụng, bảo quản,... kịp thời phát hiện nguy cơ nhà cửa, công trình xây dựng có thể gây
thiệt hại cho những người xung quanh để có biện pháp phòng ngừa, khắc phục thích hợp.
Khi tài sản gây ra thiệt hại, chủ sở hữu, người quản lý tài sản bị suy đoán là có lỗi, trừ
trường hợp họ chứng minh được lỗi thuộc về người khác.