LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH NHỮNG QUY ĐỊNH của PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH về PHÂN BIỆT cán bộ và CÔNG CHỨC TRONG cơ QUAN NHÀ nước - Pdf 48

Những quy định của pháp luật hiện hành về phân biệt cán bộ và công chức trong cơ
quan nhà nước
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH

–&—

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Khóa 33 (2007 – 2011)
Đề tài:

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN
HÀNH VỀ PHÂN BIỆT CÁN BỘ VÀ CÔNG
CHỨC TRONG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

Giảng viên hướng dẫn:
TS. PHAN TRUNG HIỀN
Bộ môn Luật hành chính

Sinh viên thực hiện:
TRẦN THỊ TỴ
MSSV: 5075314
Lớp: LK0764A3

Cần Thơ, Tháng 4/2011

GVHD: Ts. Phan Trung Hiền

Trang 1



Trang 2

SVTH: Trần Thị Tỵ


Những quy định của pháp luật hiện hành về phân biệt cán bộ và công chức trong cơ
quan nhà nước

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................

................................................................................................................................

GVHD: Ts. Phan Trung Hiền

Trang 4

SVTH: Trần Thị Tỵ


Những quy định của pháp luật hiện hành về phân biệt cán bộ và công chức trong cơ
quan nhà nước

MỤC LỤC

Trang
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài............................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu ................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu.................................................................................... 2
4. Phạm vi nghiên cứu...................................................................................... 3
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 3
6. Kết quả nghiên cứu ...................................................................................... 3
7. Bố cục đề tài ................................................................................................ 5
Chương1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC ...................... 5
1.1. Khái niệm cán bộ .................................................................................... 5
1.1.1. Khái niệm ......................................................................................... 5
1.1.2. Đặc điểm .......................................................................................... 6
1.2. Khái niệm công chức............................................................................... 7
1.2.1. Khái niệm ......................................................................................... 7
1.2.2. Đặc điểm ........................................................................................ 10

2.3.1. Bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm chức vụ, chức danh cán bộ trong cơ
quan nhà nước ........................................................................................ 27
2.3.2. Tuyển dụng công chức................................................................... 27
2.3.2.1. Cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức ....................... 27
2.3.2.2. Trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức................................... 28
2.4. Cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước ........................................ 30
2.4.1. Cán bộ............................................................................................ 30
2.4.2. Công chức...................................................................................... 31
2.4.2.1. Công chức trong Văn phòng Chủ tich nước, Văn phòng Quốc
hội, Kiểm toán Nhà nước..................................................................... 31
2.4.2.2. Công chức trong Bộ, cơ quan ngang Bộ và tổ chức khác do
Chính phủ thành lập............................................................................ 31
2.4.2.3. Công chức trong cơ quan hành chính ở cấp tỉnh, cấp huyện... 32
2.4.2.4. Công chức trong hệ thống Tòa án nhân dân ........................... 32
2.4.2.5. Công chức trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân ................. 33
2.4.2.6. Công chức ở xã, phường, thị trấn ........................................... 33
2.5. Phân loại cán bộ, công chức.................................................................. 33
GVHD: Ts. Phan Trung Hiền

Trang 6

SVTH: Trần Thị Tỵ


Những quy định của pháp luật hiện hành về phân biệt cán bộ và công chức trong cơ
quan nhà nước

2.6. Quyền và nghĩa vụ của cán bộ, công chức ........................................... 34
2.6.1. Quyền của cán bộ, công chức ......................................................... 35
2.6.2. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức ..................................................... 36

Những quy định của pháp luật hiện hành về phân biệt cán bộ và công chức trong cơ
quan nhà nước

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bốn nội dung của cải cách hành chính (thể chế hành chính, bộ máy
hành chính, cán bộ, công chức và tài chính công) thì cán bộ, công chức – con
người là vấn đề sống cơ bản và có ý nghĩa quyết định. Để có được “đội ngũ cán
bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng
và phát triển đất nước”. Việc ban hành pháp luật về cán bộ, công chức là điều kiện
quan trọng đầu tiên tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng đội ngũ công chức Nhà
nước.
Do những điều kiện lịch sử nhất định, suốt một thời gian dài trong đời sống
chính trị pháp lý ở Việt Nam tồn tại một tập hợp khái niệm “Cán bộ, công chức,
viên chức” không có sự phân biệt rõ ràng từng khái niệm cũng như quy chế pháp
lý đối với từng nhóm. Thực tế đó trong những hoàn cảnh nhất định có thể có
những giá trị tích cực và tiêu cực. Nhưng hoàn cảnh lịch sử đã có những thay đổi
căn bản, nhu cầu cải cách hành chính được đặt ra hết sức cấp bách ngày nay có cả
những nguyên nhân trong nước và nguyên nhân mang tính quốc tế. Sự “đồng nhất”
trong điều chỉnh pháp luật đối với các đối tượng khác nhau đã tỏ rõ nhược điểm.
Nhu cầu chuyên biệt hóa trong sự điều chỉnh pháp luật ngày càng rõ nét đòi hỏi
phải có sự thống nhất về nhận thức trong sự phân định các khái niệm có liên quan.
Xác định ai là cán bộ, ai là công chức cho phù hợp với chỉ tiêu biên chế,
nhiệm vụ công việc của từng cơ quan, tổ chức là vấn đề gặp không ít khó khăn cho
những người làm công tác tổ chức cán bộ, công chức. Đối với những công dân
bình thường không tham gia vào quản lý nhà nước; không am hiểu pháp luật về
cán bộ, công chức; không trực tiếp tham gia vào công tác tổ chức cán bộ, công
chức để họ biết ai là cán bộ, ai là công chức thì càng khó khăn hơn. Pháp luật hiện
hành đã tách biệt khái niệm cán bộ, công chức. Tuy nhiên việc phân biệt hai đối

về các vấn đề liên quan đến cán bộ, công chức. Tuy nhiên, khi nghiên cứu đề tài
này người viết chưa tìm thấy công trình nghiên cứu nào nghiên cứu pháp luật về
phân biệt cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước, ngoài việc pháp luật hiện
hành đã phân định rõ hai khái niệm trên.
3. Mục đích nghiên cứu
Thông qua quá trình nghiên cứu Luật cán bộ, công chức và các văn bản
pháp luật liên quan, người viết muốn tìm hiểu nội dung của pháp luật hiện hành về
vấn đề phân biệt cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước ở nước ta hiện nay. So
sánh với các văn bản pháp luật được ban hành trong giai đoạn Pháp lệnh cán bộ,
công chức có hiệu lực đến Luật cán bộ, công chức. Việc phân biệt cán bộ, công
chức có điểm mới, tiến bộ như thế nào về tiêu chí để phân biệt cũng như quyền và
nghĩa vụ, chế độ, chính sách đối với từng đối tượng. Qua đó thấy được pháp luật
hiện hành có ưu điểm hay những mặt hạn chế nào cần phải được khắc phục và có
những đề xuất, phương hướng hoàn thiện, tạo sự đồng bộ thống nhất trong hệ
thống pháp luật về phân biệt cán bộ, công chức phù hợp với cơ chế quản lý của
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và xu hướng phát triển của xã
hội, hội nhập quốc tế.

GVHD: Ts. Phan Trung Hiền

Trang 9

SVTH: Trần Thị Tỵ


Những quy định của pháp luật hiện hành về phân biệt cán bộ và công chức trong cơ
quan nhà nước

4. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài người viết tập trung nghiên cứu pháp

GVHD: Ts. Phan Trung Hiền

Trang 10

SVTH: Trần Thị Tỵ


Những quy định của pháp luật hiện hành về phân biệt cán bộ và công chức trong cơ
quan nhà nước

- Chương 2. Những quy định của pháp luật hiện hành về phân biệt cán bộ,
công chức trong cơ quan nhà nước
Người viết tập trung phân tích cơ sở pháp lý của vấn đề tại chương này. Cụ
thể là trình bày những điều khoản, quy định của pháp luật liên quan gồm có tiêu
chí để phân biệt, các chức danh cán bộ, công chức cụ thể trong cơ quan nhà nước
và các vấn đề liên quan đến cán bộ và công chức như phân loại, quyền và nghĩa
vụ, trách nhiệm pháp lý, đào tạo, bồi dưỡng và chế độ thôi việc, nghỉ hưu của cán
bộ, công chức. Qua phân tích các vấn đề này nhằm tạo nền tảng để tìm hiểu thực tế
về phân biệt cán bộ, công chức được trình bày ở Chương 3.
- Chương 3: Nhận xét, đánh giá pháp luật hiện hành về phân biệt cán bộ, công
chức trong cơ quan nhà nước và phương hướng hoàn thiện.
Dựa trên những cơ sở pháp lý ở Chương 2, người viết phân tích những hạn
chế và tích cực của pháp luật hiện hành về phân biệt cán bộ, công chức. Đồng thời
đưa ra những nguyên nhân của hạn chế và có một số đề xuất nhằm khắc phục
những hạn chế đó đồng thời góp phần hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức.
Cuối cùng là phần kết luận lại những vấn đề chung nhất của bài luận văn.

GVHD: Ts. Phan Trung Hiền

Trang 11

hội;
Vậy cán bộ trong cơ quan nhà nước bao gồm những người được bầu cử, bổ
nhiệm giữ chức vụ, chức danh trong cơ quan nhà nước từ trung ương đến cấp
huyện. Cán bộ xã, phường, thị trấn bao gồm những người được bầu Chủ tịch, phó
chủ tịch Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
1

Phạm Trung – “Một số suy nghĩ về khái niệm "cán bộ, công chức" trong quá khứ và theo luật cán bộ, công
chức năm 2008” - [truy cập ngày
29/3/2011]
2
Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008

GVHD: Ts. Phan Trung Hiền

Trang 12

SVTH: Trần Thị Tỵ


Những quy định của pháp luật hiện hành về phân biệt cán bộ và công chức trong cơ
quan nhà nước

1.1.2. Đặc điểm
- Là những người được bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh cụ thể
Đây là đặc điểm đặc trưng của cán bộ so với các đối tượng khác như công
chức, viên chức. Hầu hết cán bộ đều được hình thành thông qua con đường bầu cử.
Chỉ có cán bộ mới được bầu, cán bộ thường giữ vị trí, vai trò chủ đạo trong cơ
quan nhà nước. Tuy nhiên không phải tất cả những người được bầu đều được gọi
là cán bộ. Chẳng hạn, đại biểu Hội đồng nhân dân được nhân dân cầm lá phiếu đi

Trang 13

SVTH: Trần Thị Tỵ


Những quy định của pháp luật hiện hành về phân biệt cán bộ và công chức trong cơ
quan nhà nước

hiệu do bầu cử. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức
Nhà nước thì hưởng lương từ tổ chức sự nghiệp theo quy định của pháp luật.
- Làm việc trong cơ quan nhà nước, cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị, chính trị
xã hội
Đặc điểm này giúp nhận diện tư cách cán bộ với các thành phần xã hội
khác. Chủ thể các tổ chức này đặc trưng là cán bộ và công chức. Tuy nhiên công
chức còn làm việc trong đơn vị sự nghiệp nhưng cán bộ thì không. Cán bộ chỉ làm
việc trong các tổ chức này và chỉ trong các tổ chức này mới có sự hiện diện của
cán bộ.
- Không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội
Hoạt động mang tính chất định hướng phát triển và bảo đảm sự lãnh đạo
của Đảng, nhà nước đối với quá trình sản xuất của cải vật chất. Nghĩa là họ có
những hình thức và phương pháp hoạt động riêng mang tính đặc thù của cán bộ,
khác hẳn với hoạt động của công nhân4.
1.2. Khái niệm công chức
1.2.1. Khái niệm
- Công chức theo từ điển tiếng việt, Hoàng Phê chủ biên, nhà xuất bản Đà
Nẵng – Trung tâm từ điển học năm 2000: “Công chức là những người được tuyển
dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng
lương do ngân sách Nhà nước cấp”.
Như vậy theo từ điển thì khái niệm công chức chỉ là những người hoạt động
trong bộ máy Nhà nước, còn khái niệm cán bộ thì rất rộng, bao gồm không chỉ

phát triển của nhà nước và xã hội. Nội dung của nó phụ thuộc rất nhiều vào đặc
điểm chính trị, kinh tế - xã hội của từng giai đoạn lịch sử cụ thể ở mỗi quốc gia.
Ở mỗi quốc gia tồn tại nhiều đảng phái chính trị (có đảng cầm quyền và
đảng đối lập) thì công chức chỉ được hiểu là những người giữ công vụ thường
xuyên trong các cơ quan nhà nước, được xếp vào ngạch, bậc công chức được
hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Còn ở những nước chỉ có một đảng duy
nhất, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thì quan niệm công chức có những ý
nghĩa khác hẳn, không chỉ gồm những chủ thể nêu trên, mà còn cả những đối
tượng có dấu hiệu tương tự, nhưng lại làm việc tại các tổ chức của Đảng, tổ
chức chính trị - xã hội. Vì vậy, không thể có một định nghĩa chung duy nhất về
công chức cho mọi quốc gia. Quan niệm về công chức gắn liền với yếu tố chính
trị và đời sống chính trị - xã hội có tính quyết định đến chế độ công vụ và quan
niệm công chức.
Luật Công chức Cộng hoà Liên bang Đức năm 1997 quy định: các công
chức Cộng hoà Liên bang Đức đều là những nhân viên làm việc trong các cơ quan
nhà nước, tổ chức văn hoá, nghệ thuật, giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia,
gồm nhân viên các tổ chức công, nhân viên công tác trong các xí nghiệp nhà nước,
các công chức làm việc trong các cơ quan Chính phủ, nhân viên lao động công,
giáo sư đại học, giáo viên trung học hay tiểu học, bác sỹ hộ lý bệnh viện, nhân viên
lái xe lửa... .
Theo Điều lệ tạm thời về công chức nhà nước của Cộng hoà nhân dân
Trung Hoa công bố ngày 14 tháng 8 năm 1993, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10
năm 1993, công chức nhà nước bao gồm công chức lãnh đạo và không lãnh đạo;
và phải thông qua một chế độ tuyển dụng hết sức nghiêm ngặt. Công chức không
lãnh đạo gồm: cán sự, chuyên viên, chuyên viên tổ trưởng, chuyên viên tổ phó, trợ
lý chuyên viên nghiên cứu, chuyên viên nghiên cứu, trợ lý chuyên viên thanh tra.
Chức danh lãnh đạo gồm: Thủ tướng Quốc vụ viện, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện,
các thành viên Quốc vụ viện; chức Trưởng phó cấp bộ, tỉnh; chức phó cấp vụ....
Hiện nay, Trung Quốc đã chuyển các công chức sang chế độ hợp đồng lao động và
có những cải cách mạnh mẽ trong lĩnh vực hành chính để giảm biên chế.

Theo khoản 2 điều 4 Luật cán bộ công chức năm 2008, Công chức, được
định nghĩa như sau:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị
thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,
công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không
phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của
đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính
trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý
của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự
nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức
GVHD: Ts. Phan Trung Hiền

Trang 16

SVTH: Trần Thị Tỵ


Những quy định của pháp luật hiện hành về phân biệt cán bộ và công chức trong cơ
quan nhà nước

danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Vậy công chức trong cơ quan nhà nước là công dân Việt Nam được tuyển
dụng vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa
phương.
1.2.2. Đặc điểm


SVTH: Trần Thị Tỵ


Những quy định của pháp luật hiện hành về phân biệt cán bộ và công chức trong cơ
quan nhà nước

- Quan hệ lao động của đội ngũ công chức luôn tồn tại hai yếu tố tự nguyện của
người lao động và yếu tố ý chí của nhà nước6.
Sự đồng ý của người lao động là cần thiết, nó là điều kiện bước đầu để quan
hệ phục vụ Nhà nước được hình thành. Nhưng ý chí nhà nước mới là yếu tố quyết
định cho sự hình thành quan hệ pháp luật của hai bên. Bởi vì quyền và nghĩa vụ
của cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước phát sinh từ khi có quyết định tuyển
dụng, quyết định bổ nhiệm hoặc quyết định công nhận kết quả kết quả bầu cử chứ
không phải từ khi cá nhân người lao động thể hiện nguyện vọng của mình.
- Công việc có tính chuyên nghiệp và thường xuyên
Tất cả công chức thực hiện những nghiệp vụ công phục vụ công dân, thực
hiện một cách thường xuyên và ổn định. Công chức lãnh đạo đứng đầu đơn vị sự
nghiệp, tính chất công việc mà họ thực hiện thường xuyên và ổn định hơn.
- Tư cách công chức luôn được xác định khả năng trở thành chủ thể quản lý trong
quan hệ pháp luật hành chính, nhưng chủ thể quản lý hành chính nhà nước không
chỉ có công chức 7.
Công dân muốn trực tiếp tham gia quản lý Nhà nước phải được bầu, bổ
nhiệm, tuyển dụng. Thông qua quá trình này địa vị pháp lý của công dân đó có thể
là cán bộ, có thể là công chức. Trong quản lý hành chính Nhà nước ngoài các chủ
thể quản lý là cán bộ, công chức thì chủ thể quản lý còn có thể là cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền, các tổ chức xã hội.
- Được giao những quyền hạn nhất định
Quyền hạn là phương tiện để công chức thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ.
Họ có quyền nhưng không có nghĩa là họ muốn làm hay không cũng được, mà họ

Công chức là những người thực hiện chuyên môn, nghiệp vụ. Hoạt động
của họ trực tiếp tạo ra những sản phẩm tinh thần hoặc vật chất cho xã hội nhưng có
tính chất phục vụ xã hội. Hoạt động của công chức chỉ mang tính định hướng phát
triển và bảo đảm sự lãnh đạo của nhà nước đối với các quá trình sản xuất, họ
không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra vật chất của cải.
í Khác với cán bộ, công chức, viên chức là công dân Việt Nam được tuyển
dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp
đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy
định của pháp luật8. Đặc điểm đặc trưng của đội ngũ viên chức: được tuyển dụng
thông qua hình thức xét tuyển, làm việc theo chế độ hợp đồng và hưởng lương từ
đơn vị sự nghiệp công lập.
Tóm lại có thể hiểu cán bộ, công chức, viên chức như sau:
- Cán bộ nhà nước: là những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo
nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, hoạt động của đối tượng này mang tính
chính trị, họ là các nhà chính trị.
- Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công
chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên làm trong các cơ quan nhà nước, cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, đơn vị thuộc Công an nhân dân.
- Viên chức nhà nước là những người đươc tuyển dụng bổ nhiệm vào một
ngạch viên chức hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên trong các đơn vị sự
nghiệp của nhà nước.
1.3. Lịch sử hình thành khái niệm cán bộ, công chức
Ở mỗi giai đoạn khác nhau, các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước sử
dụng những thuật ngữ khác nhau để chỉ người làm việc trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách Nhà nước và tổ chức sự nghiệp. Trong khuôn khổ của đề tài,
người viết tìm hiểu khái niệm về cán bộ, công chức qua hai mốc lich sử đó là trước
8

Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2012, tại thời điểm người viết
nghiên cứu đề tài thì Luật này chưa có hiệu lực thi hành)

Nam”. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định về công chức. Theo quy định của
sắc lệnh này thì chỉ những “công dân Việt Nam được chính quyền cách mạng
tuyển bổ giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ”11 mới được
coi là công chức (trừ trường hợp riêng do Chính phủ quy định). Như vậy, phạm vi
công chức quy định trong Sắc lệnh nêu trên là rất hẹp. Như vậy vào thời điểm này
“cán bộ”, “công chức” chưa được xác định rõ, mà chỉ gọi chung những người làm
việc trong bộ máy nhà nước là công chức.
Từ năm 1954, Nhà nước thực hiện chế độ cán bộ nên Sắc lệnh số 76/SL hầu
như không được áp dụng mặc dù không có văn bản nào chính thức bãi bỏ. Trong
các văn bản pháp luật, “cán bộ”, “công chức” được sử dụng bằng thuật ngữ “cán
bộ, viên chức”12. Cán bộ, viên chức bao gồm những người trong biên chế, làm việc
trong các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, trong các cơ quan
9

Nguyệt san Pháp Luật TP.HCM tháng 6-2010
Nguyệt san Pháp Luật TP.HCM tháng 6-2010
11
Sắc lệnh số 76/ SL ngày 20/5/1950
12
Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, trang 205
10

GVHD: Ts. Phan Trung Hiền

Trang 20

SVTH: Trần Thị Tỵ


Những quy định của pháp luật hiện hành về phân biệt cán bộ và công chức trong cơ

thể.
1.3.2. Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1992 đến nay
Hiến pháp 1992 là cơ sở pháp lý cao nhất để Ủy ban thường vụ Quốc hội
ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức (26/02/1998) đánh dấu một bước phát triển
mới trong quá trình xây dựng pháp luật về cán bộ, công chức.

GVHD: Ts. Phan Trung Hiền

Trang 21

SVTH: Trần Thị Tỵ


Những quy định của pháp luật hiện hành về phân biệt cán bộ và công chức trong cơ
quan nhà nước

Điều 8 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định: “… cán bộ,
viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân”. Ở đây khái niệm viên chức có lẽ bao
hàm khái niệm công chức. Còn điều 623 Bộ luật dân sự năm 1995 lại sử dụng cụm
từ “công chức viên chức nhà nước”; Điều 4 Bộ luật lao động năm 1994, sửa đổi,
bổ sung các năm 2002, 2006, 2007 cũng sử dụng cụm từ công chức viên chức nhà
nước để chỉ những người làm việc trong bộ máy nhà nước.
Pháp lệnh cán bộ, công chức đề cập ba khái niệm cán bộ, công chức, viên
chức nhưng không thể hiện rõ ai là cán bộ, ai là công chức, ai là viên chức. Có thể
thấy rằng rất khó đưa ra một định nghĩa chuẩn, một phạm vi rõ rệt để khoanh vùng
từng nhóm đối tượng vì một lý do đơn giản là mỗi quốc gia, mỗi thời kì, các khái
niệm này lại được hiểu theo những cách khác nhau. Mặc dù vậy, theo cách hiểu
khá phổ biến trong khoa học pháp lý cũng như tinh thần Pháp lệnh có thể coi cán
bộ là những người hoạt động không mang tính thường xuyên (hoạt động theo
nhiệm kì) trong cơ quan Nhà nước, trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội; công chức là những người hoạt động thường xuyên, chuyên nghiệp trong


- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao
giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan Nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh,
cấp huyện;
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ
một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xã hội;
- Thẩm phán tòa án nhân dân, kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân;
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên làm
việc trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân
nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc
công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.
- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kì trong thường trực
hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân; bí thư, phó bí thư đảng ủy; người đứng đầu tổ
chức chính trị - xã hội cấp xã;
- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ
thuộc ủy ban nhân dân cấp xã.
Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 đã phân biệt được đối tượng
làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước và gọi là viên chức, đồng thời
Pháp lệnh đã quy định thêm công chức xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, cả Pháp
lệnh cán bộ, công chức năm 1998 và Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm
2003 đều không đưa ra được khái niệm về cán bộ, khái niệm về công chức, chỉ đưa
ra thuật ngữ dùng chung cho cán bộ, công chức.
Để khắc phục mặt hạn chế của các văn bản pháp luật về cán bộ, công chức
từ trước đến nay chưa làm rõ được các khái niệm về cán bộ, công chức và đáp ứng
cơ sở pháp lý để đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp
ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Ngày 13/11/2008 tại
kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật cán bộ, công chức. Nhằm thực
hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân, xây dựng một nền hành chính trong sạch, hiệu lực, hiệu

Phân biệt cán bộ, công chức là cơ sở cho việc xây dựng cơ chế quản lý phù
hợp đối với từng đối tượng, chức danh cụ thể.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền là mục tiêu hàng đầu mà Đảng và Nhà
nước ta đặc biệt quan tâm. Để đạt được mục tiêu đó chúng ta phải xây dựng một
nền hành chính trong sạch vững mạnh. Yếu tố quan trọng và cấu thành nên bộ máy
hành chính Nhà nước đó là đội ngũ cán bộ, công chức vừa có năng lực, nghiệp vụ
chuyên môn vừa có đạo đức văn hóa pháp lý. Để đào tạo được đội ngũ cán bộ,
công chức vừa hồng vừa chuyên là vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta hướng đến.
Phân biệt ai là cán bộ, ai là công chức là công tác không thể thiếu trong chương
trình đào tạo cán bộ, công chức hiện nay.
Hiện nay cán bộ, công chức mà pháp luật nói chung và các văn bản hành
chính nói riêng điều chỉnh, không chỉ làm việc trong bộ máy Nhà nước mà cả
trong các cơ quan của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Đặc biệt việc
phân biệt cán bộ, công chức có liên quan tới khái niệm công vụ, từ đó gây cản trở
ngại cho sự điều chỉnh của pháp luật và khoa học đối với cán bộ, công chức. Công
vụ là một yếu tố quan trọng của nền hành chính quốc gia. Nó là một loại lao động
14
15

Xem khoản 1 điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008
Xem khoản 2 điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008

GVHD: Ts. Phan Trung Hiền

Trang 24

SVTH: Trần Thị Tỵ


Những quy định của pháp luật hiện hành về phân biệt cán bộ và công chức trong cơ

bộ, công chức; là điều kiện cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công vụ.
Đó cũng là cơ sở để hoàn thiện tổ chức cơ cấu các cơ quan hành chính Nhà nước.
Nhằm chuẩn hoá các vị trí tuyển dụng, bổ nhiệm, quản lý, sử dụng cán bộ,
công chức. Đây cũng là căn cứ để xác định biên chế để tuyển dụng, thi nâng
ngạch, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm. Biên chế cán bộ, công chức được

GVHD: Ts. Phan Trung Hiền

Trang 25

SVTH: Trần Thị Tỵ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status