Lời mở đầu:
Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự nói chung và biện pháp kê
biên tài sản của người phải thi hành án dân sự đóng vai trò quan trọng trong việc
bảo đảm hiệu lực các phán quyết dân sự về tài sản của Tòa án. Hiệu quả của việc
kê biên tài sản của người phải thi hành án là cơ sở, là tiền để cho thành công,
hiệu của quả một vụ thi hành án về tài sản mà đượng sự không tự nguyện thi
hành. Dưới đây sinh viên xin trình bày những quy định của pháp luật và thực
tiễn áp dụng biện pháp kê biên tài sản của người phải thi hành án.
I. Một số vấn đề lý luận và những quy định của pháp luật hiện hành về
biện pháp kê biên tài sản của người phải thi hành án dân sự:
1. Một số khái niệm và đặc điểm của biện pháp kê biên tài sản của người
phải thi hành án:
Khái niệm biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự: là biện pháp thi
hành án dân sự dùng quyền lực của Nhà nước buộc người phải thi hành án thực
hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự của họ, do chấp hành viên áp dụng trong
trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện
thi hành án.
1
Khái niệm biện pháp kê biên tài sản của người phải thi hành án: là biện
pháp cưỡng chế thi hành án do chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người
phải thi hành án có nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định có điều kiện thi
hành án nhưng không tự nguyện thi hành.
2
Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 ( LTHADS) đã quy định 6
biện pháp cưỡng chế thi hành án, kê biên tài sản của người phải thi hành án kể
cả tài sản đang do người thứ ba giữ là một trong 6 biện pháp đó. Chính vì lẽ đó
biện pháp kê biên tài sản của người phải thi hành án có những đặc điểm chung
của các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự như sau:
- Thể hiện quyền năng đặc biệt của Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng
sức mạnh của Nhà nước;
- Được chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không tự
tự kê biên tài sản. Nguyên tắc thứ nhất: nếu người phải thi hành án không đề
nghị kê biên tài sản nào trước thì tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của người
phải thi hành án được kê biên trước; nếu người phải thi hành án không có hoặc
không đủ tài sản riêng để thi hành án thì mới kê biên đến tài sản chung của
người phải thi hành án với người khác. Nguyên tắc thứ hại: trong số những tài
sản thuộc diện kê biên thì kê biên bất động sản trước, sau khi kê biên hết các
động sản mà vẫn không đủ để thi hành án thì kê biên các động sản.
- Chấp hành viên chỉ được kê biên tài sản của người phải thi hành án tương ứng
với nghĩa vụ thi hành án và các chi phí liên quan. Đó là các khoản phải thi hành
theo quyết định của bán án; khoản lãi chậm thi hành án nếu có và các chi phí dự
tính mà theo quy định người phải thi hành án phải chịu như chi phí kê biên,
giám định chất lượng, định giá tài sản…Nếu người phải thi hành án chỉ có một
tài sản duy nhất có giá trị lớn hơn nghĩa vụ phải thực hiện mà tài sản đó không
thể phân chia được hoặc nếu phân chia sẽ làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thi
Chấp hành viên vẫn có quyền kê biên tài sản đó.
- Nếu tài sản của người phải thi hành án đã được cầm cố, thế chấp cho người khác
nhưng tài sản đó có giá trị lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm bằng việc cầm cố, thế
chấp hoặc người phải thi hành án không còn tài sản nào khác thì Chấp hành viên
vẫn cò quyền kê biên tài sản này để thực hiện thi hành án. Đây là biện pháp hiệu
quả nhằm ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán tài sản thông qua
một giao dịch dân sự khác.
- Trường hợp có tranh chấp về tài sản kê biên thì Chấp hành viên vẫn tiến hành
cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện ra tòa án hoặc đề
nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Cụ thể hơn tại Điều 75 LTHADS đã quy
định biện pháp xử lý đối với tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp.
- Đối với tài sản kê biên thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng
đất hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật thì khi kê biên,
xử lý tài sản đã kê biên Chấp hành viên phải thông báo cho các cơ quan liên
quan biết.
2. Những quy định của pháp luật hiện hành:
công cụ lao động có giá trị lớn như xe ô tô, xe máy, máy cày…thì Chấp hành
viên vẫn được kê biên, bán đấu giá để thi hành án nhưng có trích lại một khoản
tiền để người phải thi hành án có thể thay thế bằng một công cụ lao động khác
có giá trị thấp hơn. Đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương
cũng không được kê biên nhằm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng cũng như
truyền thống uống nước nhớ nguồn.
Khoản 3 Điều 87 quy định nhóm tài sản của người phải thi hành án là
doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ không được kê
biên. Quy định này hướng tới nhằm bảo đảm hoạt động sản xuất kinh doanh
bình thường.
2.2 . Thủ tục kê biên tài sản của người phải thi hành án:
Chấp hành viên chỉ có thể ra quyết định kê biên tài sản sau khi có kết quả
xác minh về tài sản của người phải thi hành án. Chấp hành viên có nhiệm vụ
thông báo cho những chủ thể liên quan biết về việc tổ chức kê biên tài sản trong
thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định kê biên trừ trường hợp cần
ngăn chặn đương sự tẩu tan, hủy hoại, trốn tránh việc thi hành án. Việc thông
báo cưỡng chế kê biên tài sản được quy định tại Điều 38;39;88 Luật THADS.
Đối tượng được nhận thông báo không chỉ là các bên đương sự để kịp thời giam
gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà còn là các cơ quan có liên
quan để thực hiện chức năng do Nhà nước quy định. Cụ thể Chấp hành viên phải
thông báo trước và trực tiếp bằng văn bản cho người phải thi hành án, người
được thi hành án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; Ủy ban cấp xã nơi
có tài sản kê biên; Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và tổ chức liên quan tới việc
thực hiện quyết định cưỡng chế thi hành án. Ví dụ:
- Cục Hàng không Việt Nam trong trường hợp tài sản kê biên là tàu bay;
- Cơ quan đăng ký tàu biển và thuyền viên khu vực, trong trường hợp tài
sản kê biên là tàu biển.
Để việc kê biên được khách quan, khi kê biên tài sản phải có mặt của
phải ghi rõ việc này vào biên bản kê biên đồng thời phải mời người làm chứng.
Việc trước tiên Chấp hành viên thực hiện khi thực hiện việc kê biên tài sản là
ký của những người tham gia và người làm chứng.” Trong trường hợp cần thiết
sau khi mở khóa, mở gói Chấp hành viên niêm phong đồ vật và giao bảo quản
cho người phải thi hành án; người thân thích của người thi hành án; hoặc người
đang sử dụng bảo quản; cá nhân tổ chức có điều kiện bảo quản; hoặc Kho bạc
nhà nước; bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự tùy vào tình hình
thực tế sự việc và tài sản đó là gì.
Trên thực tế, khi được lựa chọn các hình thức giao bảo quản tài sản kê
biên, Chấp hành viên đã lựa chọn hình thức bảo quản (đối với tất cả các tài sản
là động sản) tại kho của Cơ quan thi hành án. Việc bảo quản tài sản tại kho Cơ
quan thi hành án có nhiều thuận lợi và thực sự đem lại hiệu quả trong công tác
thi hành án dân sự, hạn chế được hiện tượng tẩu tán tài sản kê biên như trước
đây. Đặc biệt đương sự đã thấy được sức mạnh, quyền lực của nhà nước của Cơ
quan thi hành án nói chung, của Chấp hành viên nói riêng và thấy được tài sản
của họ thực sự bị “mất”, buộc họ phải lựa chọn biện pháp thi hành có lợi cho họ,
đó là việc tự nguyện thi hành để họ sớm nhận lại tài sản đang do Cơ quan thi
hành án thu giữ.
c) Thủ tục kê biên tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án:
Điều 74 LTHADS đã quy định thủ tục kê biên tài sản thuộc sở hữu chung,
kể cả tài sản chung của vợ chồng. Có 2 trường hợp xảy ra như sau:
hành án với người khác, Chấp hành viên phải thông báo cho chủ sở hữu chung
biết việc cưỡng chế. Chủ sở hữu chung có quyền khởi kiện yêu cầu tòa xác định
phần sở hữu của họ đối với tài sản chung trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận
được thông báo. Nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện thì người được thi hành
án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu tòa án xác định phần sở hữu của
người phải thi hành án trong khối tài sản chung.
Trường hợp thứ hai: tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được
phần sở hữu của các chủ sở hữu chung. Nếu tài sản có thể chia được thì áp dụng
biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi
hành án. Nếu tài sản chung không chia được hoặc việc chia làm giảm đáng kể
giá trị của tài sản thì có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản
đối với phương tiện bị kê biên. Việc kê biên đối với tàu bay để thi hành án được
thực hiện theo quy định của Pháp lệnh bắt giữ tàu bay năm 2010 có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/01/2011; việc kê biên tàu biển để thi hành án được thực hiện
theo quy định của Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển năm 2008;
g) Thủ tục kê biên tài sản gắn liền với đất và nhà ở của người phải thi hành
án: được quy định tại Điều 94 và 95 LTHADS. Theo đó, khi kê biên tài sản là
công trình xây dựng gắn liền với đất thì phải kê biên cả quyền sử dụng đất trừ
trường hợp quyền sử dụng đất không được kê biên; hoặc việc tách rời tài sản kê
biên và đất không làm giảm đáng kể giá trị tài sản đó.
Nếu nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình thì
Chấp hành viên chỉ được kê biên nếu đã xác định được người phải thi hành án