A.
LỞI MỞ ĐẦU
Trong thực tế hiện nay thì thẩm quyền và thủ tục xử lý vi phạm hành
chính ở nước ta hiện nay được quy định chi tiêt trong Pháp lệnh xử lý vi phạm
hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007 và 2008).Cụ thể về thẩm
quyền xử lý vi phạm hành chính được quy định tại chương IV của pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chính, và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính cũng được
quy định trong pháp lệnh tại chương VI. Trải qua các thời kỳ lịch sử, cùng với
sự phát triển của đất nước thì thẩm quyền và thủ tục xử lý vi phạm hành chính
của nhà nước ta cũng có những thay đổi nhất định để theo kịp sự phát triển của
thời đại.Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế nhất định. Trong
vấn đề về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính cũng chứa đựng
những bất cập, làm ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác quản lý hành chính
nhà nước.
Chính vì điều này, trong bài tập lớn học kỳ em đã quyết định lựa chọn
đề bài: “Đánh giá tính hợp lý của pháp luật về thẩm quyền và thủ tục xử
phạt vi phạm hành chính”:
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1.Khái niệm vi phạm hành chính:
Vi phạm hành chính là hành vi do tổ chức, cá nhân thực hiện với lỗi cố ý hoặc
vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý hành chính nhà nước mà
không phải là tội phạm hình sự thì sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định của
pháp luật hiện hành.
2.Khái niệm xử phạt hành chính:
Xử phạt hành chính chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền, căn cứ
vào các quy định pháp luật hiện hành, quyết định áp dụng các biện pháp xử
phạt hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác (trong trường
vụ thủy nội địa, giám đốc cảng vụ hàng không; tòa án nhân dân và cơ quan thi
hành án dân sự. Đồng thời pháp luật cũng quy định thẩm quyền xử phạt vi
2
phạm hành chính cụ thể của mỗi cán bộ có thẩm quyền xử phạt trong các cơ
quan này. Như vậy ta thấy có sự phân cấp về quyền lực nhà nước trong lĩnh
vực quản lý hành chính nhà nước
1.2. Cách quy định của pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
trong pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành:
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi, bổ sung 2007,
2008 đã quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo phương pháp
liệt kê thẩm quyền của các cá nhân,cơ quan, tổ chức cụ thể. Và với mỗi chức
danh cụ thể, Pháp lệnh quy định rõ hình thức, mức xử phạt và những biện
pháp cưỡng chế khác mà chủ thể đó được áp dụng trong khi xử phạt vi phạm
hành chính. Cách quy định này có ưu điểm là nó rất rõ ràng và dễ áp dụng
cũng phần nào thể hiện được sự phân cấp quản lý trong bộ máy nhà nước ta
nói chung, và trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước nói riêng. Cấu trúc
nhà nước ta là nhà nước đơn nhất, có sự thống nhất và phân cấp quản lý nhà
nước từ trung ương tới địa phương.Tuy nhiên nó còn chưa linh hoạt để có thể
theo kịp với những thay đổi về tổ chức trong các cơ quan quản lý cũng như
thực tiễn của công tác đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính.
Ví dụ: Điều 28, quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của
chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, điều 29 quy định về thẩm quyền xử phạt vi
phạm hành chính của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện và liệt kê các ra các
quy định thuộc thẩm quyền của chủ tịch ủy ban nhân dân huyện, và chủ tịch
ủy ban nhân dân tỉnh. Chỉ khá c là thẩm quyền của chủ tịch UBND huyện bao
hàm cả thẩm quyền của chủ tịch UBND xã, và thẩm quyền của chủ tịch
UBND huyện có phần mở rộng hơn so với ông chủ tịch ủy ban nhân dân xã
mà thôi. Ví dụ như trong hình thức phạt tiền thì chủ tịch UBND cấp xã có
là mức phạt cho một hành vi vi phạm hành chính và mỗi chủ thể nhất định
không được phạt quá mức tiền mà pháp luật quy định đó. Việc quy định như
vậy cũng là một điểm mới và tiến bộ hơn của pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính 2002, sửa đổi, bổ sung 2007, 2008 so với các phạm lệnh xử lý vi phạm
hành chính trước đó. Vì các pháp lệnh xử lý vi phạm hành trước đó không quy
định rõ ràng mức phạt tiền quy định trong pháp lệnh cho những người có thẩm
4
quyền xử phạt là mức phạt cho một hành vi vi phạm hành chính. Trong thực tế
đã xảy ra những tranh luận xung quanh trường hợp, tổ chức, cá nhân thực hiện
đồng thời nhiều vi phạm hành chính một lúc và mức phạt tiền tổng hợp đối với
các tổ chức, cá nhân này vượt quá mức mà pháp luật quy định cho thẩm quyền
của người xử phạt. Về nguyên tắc nếu các tất cả các vi phạm đó đều thuộc
thẩm quyền xử phạt của người có thẩm quyền thì dù mức phạt tổng hợp có lớn
hơn mức quy định cho thẩm quyền của người xử phạt, vụ việc đó vẫn thuộc
thẩm quyền xử phạt của người đó. Tuy nhiên trong thực tế vẫn có rất nhiều cán
bộ, quan chức lợi dụng điều đó để phạt tiền đối với người vi phạm, thậm chí
vượt quá thẩm quyền của mình để nhằm mục đích chuộc lợi.
Hay việc quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các
chiến sĩ bộ đội biên phòng còn nhiều hạn chế. Có lẽ vì vậy mà trong khi tuần
tra, nếu có phát hiện vi phạm thì họ chỉ lập biên bản vụ việc rồi chuyển đến
đồn trưởng đồn biên phòng để ra quyết định xử phạt. Cùng với những trở ngại
do địa hình đi lại khó khăn, các quy định này của pha pháp luật là nguyên
nhân cản trở hoạt động xử phạt của lực lượng bộ đội biên phòng.
Thứ hai là nếu xem xét thẩm quyền trong mối quan hệ với thủ tục xử
phạt thì các quy định của pháp luật hiện hành cũng không thống nhất. Điều 54
Pháp lệnh năm 2002 đã được sửa đổi theo Pháp lệnh 04/2008/UBTVQH12
năm 2008 quy định: “Trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ
10.000 đồng đến 200.000 đồng thì người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt
hành chính gây ra phải được khắc phục kịp thời”, Pháp lệnh đã trao cho Chính
phủ thẩm quyền quy định các biện pháp khắc phục hậu quả khác mà trong
Pháp lệnh chưa quy định. Việc trao cho Chính phủ thẩm quyền này là rất đúng
đắn, tuy nhiên vẫn tồn tại bất cập ở chỗ Pháp lệnh chỉ trao cho Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh mới có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả
được quy định mới trong các Nghị định của Chính phủ, Điều này đã dẫn đến
việc “vô hiệu hoá” thẩm quyền xử phạt của hầu hết các chức danh khi hành vi
vi phạm trong Nghị định của Chính phủ được quy định thêm các biện pháp
khắc phục hậu quả khác với pháp lệnh, và đương nhiên, tình trạng “vượt rào”
quy định các chức danh khác ngoài Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cũng
6
có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả loại này diễn ra trong
một số Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính của Chính phủ cũng là điều
dễ hiểu, do những đòi hỏi bức xúc từ thực tiễn quản lý.
2.Đánh giá tính hợp lý của pháp luật về thủ tục xử phạt vi phạm hành
chính:
2.1. Vấn đề trong thủ tục đơn giản:
Cho đến nay, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính vẫn duy trì hai loại
thủ tục xử phạt: thủ tục đơn giản và thủ tục có lập biên bản; tuy nhiên mức tiền
xử phạt theo thủ tục đơn giản đã được nâng từ 20.000 đồng (Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính năm 1995) lên 200.000 đồng (Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung
năm 2008). Việc nâng mức tiền phạt theo thủ tục đơn giản là cần thiết để khắc
phục tình trạng vụ việc vi phạm phải dồn lên cấp trên giải quyết. Tuy nhiên,
mức tiền được xử phạt là 200.000 đồng vẫn còn thấp, nhiều vụ vi phạm chưa
thể xử phạt theo thủ tục này. Theo quy định tại Điều 54 Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008), thủ tục đơn
giản là trường hợp xử phạt mà người có thẩm quyền xử phạt không lập biên
bản mà ra quyết định xử phạt tại chỗ. Những trường hợp được tiến hành xử
khoản 1 Điều 55 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung năm 2008 được sửa đổi, bổ sung
như sau: “người có thẩm quyền đang thi hành công vụ có trách nhiệm lập biên
bản đối với vi phạm mà mình phát hiện. Trong trường hợp vi phạm hành chính
không thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì phải chuyển tới
ngay người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt”. Pháp lệnh sửa đổi,
bổ sung năm 2008 cũng bổ sung trường hợp người vi phạm cố tình trốn tránh
hoặc vì lý do khách quan mà không có mặt tại địa điểm xảy ra vi phạm thì
biên bản được lập xong phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy
ra vi phạm hoặc của hai người làm chứng.
2.2.2. Về nội dung của biên bản:
Điều 55 Pháp lệnh năm 2002 quy định nội dung của biên bản đã thể
hiện rõ tính khoa học, chặt chẽ và phù hợp với thực tế. Tuy nhiên, một số quy
định của Nghị định số 134/2003/NĐ-CP (hướng dẫn thi hành Pháp lệnh xử lý
8
vi phạm hành chính năm 2002) và mẫu biên bản để xử phạt (ban hành kèm
theo Nghị định) lại quá dài, mất nhiều thời gian ảnh hưởng đến kết quả xử lý
vi phạm. Trong nhiều trường hợp, người có trách nhiệm xử lý đã chuyển vụ
việc về giải quyết theo thủ tục đơn giản với mức phạt thấp hơn nhiều để tránh
thủ tục lập biên bản, dẫn đến lọt nhiều hành vi vi phạm không được xử lý thoả
đáng. Qua thực tiễn thi hành pháp luật xử phạt vi phạm hành chính, nhiều Bộ,
ngành, địa phương cho rằng, các mẫu quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện
vi phạm, mẫu quyết định xử phạt, mẫu biên bản đều rườm rà, chưa phù hợp
với thực tế; biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, theo
quy định phải có hai người làm chứng, trên thực tế áp dụng rất khó, đề nghị
chỉ nên quy định một người làm chứng. Mẫu biên bản vi phạm hành chính
chưa hợp lý, vừa thừa, vừa thiếu, cụ thể: phần nội dung về điều, khoản quy
định hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân chỉ in một dòng nên khi có hai hành
vi vi phạm thì phải lập hai biên bản.
phương tiện vi phạm có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên thì người quyết định
tịch thu phải giao cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh để bán đấu giá
theo quy định của pháp luật. Quy định này đảm bảo tính công khai, khách
quan và chính xác trong khi xử lý tang vật, phương tiện vi phạm bị tịch thu.
Tuy nhiên, quy định này cũng còn có điểm hạn chế: Thứ nhất, làm thế nào xác
định được giá trị tang vật, phương tiện vi phạm để chuyển cho cơ quan tài
chính cấp huyện hoặc Trung tâm bán đấu giá cấp tỉnh. Thứ hai, trong một số
trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm bị tịch thu khó vận chuyển lên cấp
tỉnh, nơi có trung tâm bán đấu giá để bán đấu giá (như trường hợp tang vật là
gỗ bị tịch thu). Để giải quyết vướng mắc thứ nhất, Điều 31 Nghị định số
134/2003/NĐ-CP quy định: sau khi tiến hành tạm giữ tang vật, phương tiện vi
phạm hành chính, xét thấy cần tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm mà
không xác định rõ giá trị tang vật, phương tiện đó thì người đã ra quyết định
tạm giữ phải mời đại diện cơ quan tài chính cùng cấp xem xét, đánh giá tang
vật, phương tiện vi phạm. Trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm thuộc
loại khó xác định hoặc chưa có ý kiến thống nhất giữa người có thẩm quyền
tịch thu và đại diện cơ quan tài chính thì người có thẩm quyền quyết định tịch
10
thu lập Hội đồng định giá tang vật, phương tiện vi phạm với sự tham gia của
đại diện Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh và đại diện cơ quan có liên
quan để định giá. Nếu trị giá tang vật, phương tiện vi phạm thuộc thẩm quyền
của người đã ra quyết định tạm giữ thì người đó tiến hành tịch thu theo quy
định; nếu trị giá tang vật, phương tiện vi phạm vượt quá thẩm quyền tịch thu
của người đó thì phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt. Trị
giá tang vật, phương tiện bị tịch thu đã được xác định là căn cứ để xem xét,
quyết định việc chuyển giao tang vật, phương tiện cho Trung tâm bán đấu giá
tài sản cấp tỉnh hoặc chuyển cho cơ quan tài chính cấp huyện bán đấu giá. Về
cơ bản, quy định này đảm bảo tính chặt chẽ về mặt pháp lý, tuy nhiên tính khả
Khó khăn khác trong việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế là cơ quan có
thẩm quyền xử phạt không có lực lượng chuyên trách để thi hành các quyết xử
phạt vi phạm hành chính vì theo quy định tại Điều 67 Pháp lệnh xử lý vi phạm
hành chính năm 2002 và Nghị định số 37/2005/NĐ-CP thì những người có
thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế và có nhiệm vụ tổ chức việc
cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm của mình và của cấp dưới, các
cơ quan chức năng của UBND có trách nhiệm thi hành quyết định cưỡng chế
của Chủ tịch UBND cùng cấp theo sự phân công của Chủ tịch, lực lượng cảnh
sát nhân dân chỉ có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn trong quá trình thi
hành quyết định cưỡng chế của Chủ tịch UBND cùng cấp hoặc quyết định
cưỡng chế của cơ quan khác của Nhà nước khi được các cơ quan đó yêu cầu.
Tuy nhiên, quy định này khó khả thi vì cơ quan xử phạt, cơ quan chuyên môn
thuộc UBND không đủ lực lượng để tổ chức cưỡng chế. Việc ban hành quyết
định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực
thuế khi đã áp dụng hết các biện pháp xử phạt như nộp chậm, tạm đình chỉ sử
dụng hoá đơn lại gặp rất nhiều khó khăn trong thực hiện cưỡng chế như:
không có một cơ quan chuyên trách chịu trách nhiệm cưỡng chế thu hồi tiền
cho ngân sách nhà nước.
12
C. KẾT LUẬN
Như vậy, qua những quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền và
thủ tục xử phạt vi phạm hành chính cũng có những hợp lý, đúng đắn nhất định.
Tuy nhiên ta thấy rằng việc bổ sung một số nội dung vào Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính năm 2002 là rất cần thiết để việc xử phạt được tiến hành
chính quy hơn, góp phần giảm bớt sai sót, qua đó quyền, lợi ích hợp pháp của
cá nhân, tổ chức được bảo đảm.