A.ĐẶT VẤN ĐỀ.
Thực tế hiện nay cho thấy tồn tại ngày càng nhiều những vi phạm trong lĩnh vực hành chính nhà
nước, từ mức đọ nguy hiểm không đáng kể cho xã hội đến những vi phạm hành chính có mức độ
nguy hiểm lớn. Để xử lý những vi phạm hành chính đó, pháp luật đã đặt ra những quy định về các
hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính
gây ra. Việc “ Đánh giá tính hợp lý của những hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các
biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra” sẽ giúp chũng ta có cái nhìn khái
quát hơn về những ưu điểm cũng như những điểm còn tồn tại để tìm ra phương hướng hoàn thiện
những quy định đó.
B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. Lý luận chung về xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả.
1. Hình thức xử phạt vi phạm hành chính.
1.1. Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính:
Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động cưỡng chế hành chính mang tính quyền lực nhà
nước do các cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước có thẩm quyền tiến hành áp dụng các biện pháp
chế tài hành chính nhằm mục đích trừng phạt đối với cá nhân tổ chức vi phạm hành chính theo
trình tự thủ tục do pháp luật quy định.
Để thực hiện hoạt động xử phạt vi phạm hành chính, nhà nước đã quy định về các hình thức
để xử phạt vi phạm hành chính bao gồm: hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung.
Hình thức xử phạt chính được áp dụng 1 cách độc lập, nghĩa là đối với mỗi vi phạm hành chính
chỉ được áp dụng 1 hình thức xử phạt chính, có thể kèm theo hình thức xử phạt bổ sung khác.
1.2. Cơ sở pháp lý.
Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính được quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm
hành chính 2002 ( PLXLVP hành chính), được sửa đổi bổ sung 2008, Nghị định 150/2005/NĐCP, Nghị định 128/2008/NĐ-CP và Thông tư 30/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định 150,
1.3. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính.
Hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:
- Hình thức xử phat chính: cảnh cáo và phạt tiền
- Hình thức xử phạt bổ sung: tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề và tịch thu
tang vật được sử dụng để vi phạm hành chính.
- Hình thức trục xuất vừa được coi là hình thức xử phạt chính vừa được coi là hình thức xử phạt
bổ sung.
không tiếp tục thực hiện những hành vi vi phạm.
* Đối tượng áp dụng: Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân tổ chức gây ra vi phạm hành
chính nhỏ, vi phạm lần đầu có tình tiết giảm nhẹ hoặc đối với mọi vi phạm hành chính do người
chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện.
* Điều kiện áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo.
Chỉ có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với cá nhân có đủ 16 tuổi trở lên hoặc tổ
chức vi phạm hành chính khi có đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất: Hành vi vi phạm mà tổ chức cá nhân thực hiện được văn bản pháp luật quy định
là có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo. Nếu loại vi phạm mà cá nhân, tổ chức đó thực
hiện mà pháp luật quy định chỉ bị áp dụng hình thức phạt tiền thì không được pháp áp dụng hình
thức xử phạt cảnh cáo.
2
Thứ hai: Việc áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành
chính chỉ được thực hiện khi đó là vi phạm lần đầu và có tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại
Điều 8 PLXLVP hành chính 2002( được sửa đổi bổ sung 2008).
Ví dụ: Người có hành vi gây tiếng động lớn làm ồn huyên náo trong khoảng từ 22h đến 5h
sáng hôm sau; hoặc người có hành vi không thực hiện các quy định về giữ yên tĩnh của bênh
viện, trường học hoặc ở những nơi khác có quy định phải giữ yên tĩnh chung. Theo quy định tại
Khoản 1 Điều 8 nghị định 150/2005/NĐ- CP thì hành vi trên bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền
từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Như vậy hành vi này chỉ có thể bị xử phạt cảnh cáo với
điều kiện họ thực hiện vi phạm đó lần đầu và có tình tiết giảm nhẹ hoặc là người chưa đủ 16
tuổi.
Nghị định 150/2005/NĐ-CP đã dành 8 Điều quy định về các hành vi vi phạm có thể bị
phạt cảnh cáo.
* Thẩm quyền ra quyết định và thủ tục trong hình thức xử phạt cảnh cáo: Do tính chất của
phạt cảnh cáo là áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có vi phạm hành chính nhỏ, tính nguy hiểm
không cao. Vì vậy, người có thẩm quyền xử phạt cảnh cáo có thể áp dụng thủ tục đơn giản ra
quyết định xử phạt tại chỗ.
2.Phạt tiền.
2.1.Cơ sở lý luận:
* Cơ sở pháp lý: Đây là hình thức xử phạt chính được quy định tại Điều 14 PLXLVP
hành chính 2002( sửa đổi bổ sung 2008 )- là việc tước bỏ ở người có hành vi vi phạm 1
khoản tiền thuộc sở hữu của họ. Mức phạt tiền tương ứng với sự đánh giá của nhà nước về hành
vi vi phạm hành chính là có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hay thấp. Phạt tiền tác động trực
tiếp đến lợi ích kinh tế của chủ thể vi phạm hoặc người có trách nhiệm nộp phạt. PLXLVP hành
chính 2002( sửa đổi bổ sung 2008) quy định mức phạt tiền trong vi phạm hành chính là từ
10.000 đồng đến 500.000.000 đồng.
* Đối tượng áp dụng: Phạt tiền là hình thức xử phạt hành chính được áp dụng với các cá
nhân tổ chức, các nhân có đủ 16 tuổi trở lên.
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính chỉ bị phạt cảnh cáo không bị
phạt tiền.
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính thì có thể áp dụng hình thức xử
phạt vi phạm hành chính được quy định tại Điều 12 của PLXLVP hành chính 2002( sửa đổi bổ
sung 2008), khi phạt tiền đối với họ thì mức phạt tiền không quá ½ mức phạt đối với người
thành niên. Trong trường hợp họ không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải
nộp phạt thay.
* Điều kiện áp dụng hình thức xử phạt hành chính: phạt tiền.
-Phạt tiền tối đa đến 30.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính
trong các lĩnh vực: an ninh, trật tự an toàn xã hội, quản lý và bảo vệ công
trình giao thông...
-Phạt tiền tối đa đến 40.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính
trong các lĩnh vực: giao thông đường bộ, giao thông đường thủy nội địa, văn hóa thông tin, du
lịch, phòng chống tệ nạn xã hội...
-Phạt tiền tối đa đến 70.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính
trong các lĩnh vực: thương mại, phí, lệ phí hải quan, giao thông đường sắt,
4
thức cảnh cáo. Trong hệ thống các hình thức xử phạt vi phạm hành chính hiện nay thì hình thức
phạt tiền được coi là hình thức xử phạt cao nhất, do đó vi phạm hành chính nào nguy hiểm dưới
mức tội phạm được xem là điều kiện cao nhất áp dụng hình thức phạt tiền.
Điểm hợp lý của hình thức phạt tiền là nó tác động đến tài sản nên mang tính trừng phạt cao
hơn, do đó khiến người vi phạm có ý thức hơn.
5
2.3. Hướng hoàn thiện các quy định về hình thức xử phạt phạt tiền.
Thứ nhất: quy định về mức tối thiểu phạt tiền là 10.000 đồng có lẽ vẫn còn hơi ít so với điều
kiện hiện nay. Chính vì việc quy định mức tiền phạt tối thiểu thấp nên cơ quan, cán bộ có thảm
quyền thường ít áp dụng hình thức cảnh cáo mà luôn mong muốn áp dụng hình thức phạt tiền.
Trong phần đóng góp cho dự thảo sửa đổi bổ sung có ý kiến cho rằng nên tăng mức phạt tiền tối
thiểu lên 20.000 đồng áp dụng tại khu vực nông thôn và 50.000 đồng áp dụng tại khu vực thành
phố.
Thứ hai: càn phải quy định mức phạt tiền cụ thể hơn nữa hay nói cách khác là chia nhỏ mức
phạt tiền để áp dụng đối với các loại vi phạm hành chính khác nhau. Việc chia nhỏ mức phạt tiền
đảm bảo cho việc áp dụng hình thức phạt tiền chính xác hơn.
3. Trục xuất.
Ngoài 2 hình thức xử phạt chính được quy định tại PLXLVP hành chính 2002( sửa đổi
bổ sung 2008) thì còn có hình thức xử phạt trục xuất, vừa được coi là hình thức xử phạt
chính, vừa được coi là hình thức xử phạt bổ sung.
3.1.Cơ sở lý luận:
* Đối tượng áp dụng: chỉ áp dụng hình thức xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài
mang 1 quốc tịch khác ngoài Việt nam mà không thể áp dụng đối với người không quốc tịch
thường trú trên lãnh thổ VN vì không có địa chỉ trục xuất.
* Điều kiện áp dụng: tùy từng trường hợp cụ thể mà trục xuất có thể được áp dụng như hình
thức xử phạt chính.
Ví dụ: Người nước ngoài vi phạm pháp luật VN mà không bị phạt cảnh cáo hay
phạt tiền mà bị buộc phải trục xuất thì trường hợp này trục xuất được coi là hình thức xử
hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền. Tuy là hình thức xử phạt bổ sung nhưng tước
quyền sử dụng giấy phép là biện pháp nghiêm khắc, do đó nó không thể áp dụng với hình thức xử
phạt cảnh cáo (vì hình thức cảnh cáo theo Pháp lệnh quy định được áp dụng đối với vi phạm nhỏ,
lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ, mức độ nguy hiểm cho xã hội không đáng kể).
Để đánh giá tính hợp lý của hình thức này cũng cần chú ý, việc quy định tước quyền sử dụng
giấy phép có 2 mức độ khác hẳn nhau: tich thu có thời hạn và tich thu không thời hạn các loại giấy
phép mà trước đó Nhà nước đã cấp cho người vi phạm sẽ giúp cho việc đánh giá tính chất mức độ
vi phạm đúng đắn và dễ dàng hơn. Tước quyền sử dụng giấy phép có thể được coi là phương tiện
cuối cùng để đấu tranh với vi phạm hành chính khi việc áp dụng các hình thức xử phạt chính chưa
hẳn có khả năng phòng ngừa vi phạm từ phía người vi phạm. Hình thức tước quyền sử dụng giấy
phép được áp dụng đối với đối tượng vi phạm để lại hậu quả nặng nề cho họ. ví dụ: Người bị tước
quyền kinh doanh sẽ mất đi nguồn thu nhập hoặc có khi phải chuyển làm nghề khác. Cũng chính vì
lý do này mà đây có thể được coi là tính hợp lý khi quy định đây là 1 hình thức xử phạt trong Pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 (sửa đổi bổ sung 2008).
4.3. Hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về hình thức xử phạt tước quyền sử
dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
Khi áp dụng hình thức này cần lưu ý: trong mọi trường hợp, việc tước quyền sử dụng giấy
phép phải được xem xét trong mối quan hệ giữa vi phạm đã được thực hiện với nội dung của
giấy phép được cấp. Về nguyên tắc, giấy phép chỉ bị tịch thu khi vi phạm có lien quan tới quy
tắc, chế độ sử dụng giấy phép. Ví dụ: tước bằng lái xa của người vi phạm được áp dụng khi
người đó vi phạm Luật lệ giao thông ở mức độ đáng kể. Tước quyền sử dụng giấy phép là chế
7
tài phạt do vậy không được nhầm lẫn với biện pháp tạm giữ giấy phép (khi có vi phạm) là biện
pháp tố tụng), hoặc không được nhầm lẫn với việc thu hồi giấy phép do cấp không đúng thẩm
quyền, trái với pháp luật…
5. Hình thức xử phạt tịch thu tang vật được sử dụng để vi phạm hành chính.
5.1. Cơ sở lý luận.
Đây cũng là một hình thức xử phạt bổ sung được quy định cụ thể tại Điều 17 Pháp lệnh
để hư hỏng, thất lạ, mất mát. Thậm chí chiếm đoạt phương tiện, tang vật bị tich thu.
Đánh giá tính hợp lý của các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính
gây ra.
1. Cơ sở lý luận.
Các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính bao gồm:
1.1. Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc
buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép.(Điều 18 Pháp lệnh XLVPHC 2002 sửa đổi bổ sung
2008).
Cá nhân, tổ chức phải khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị tháy đổi do vi phạm hành chính
của mình gây ra hoặc phải tháo dỡ công trình xây dựng trái phép; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm
không tự nguyện thực hiện thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Cá nhân, tổ chức vi phạm
phải chịu mọi chi phí cho việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế.
1.2. Buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành
chính gây ra.( Điều 19 Pháp lệnh XLVPHC 2002 sửa đổi bổ sung 2008).
Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải đình chỉ ngay các hành vi vi phạm gây ô nhiễm
môi trường, lây lan dich bệnh và phải thực hiện các biện pháp để khắc phục; nếu cá nhân, tổ
chức vi phạm không tự nguyện thực hiện thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Cá nhân, tổ
chức vi phạm phải chịu mọi chi phí cho việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế.
1.3. Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương
tiện.( Điều 20 Pháp lệnh XLVPHC 2002 sửa đổi bổ sung 2008).
Hàng hóa, vật phẩm được đưa vào Việt nam, nhập khẩu trái với quy định của pháp luật hoặc
hang tạm nhập tái xuất nhưng không được tái xuất theo đúng quy định của pháp luật thì buộc
đưa ra khỏi lãnh thổ Việt nam hoặc buộc tái xuất. . Cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu mọi chi
phí để thực hiện biện pháp này.
1.4. Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng, văn hóa
phẩm đọc hại.(Điều 21 Pháp lệnh XPVPHC 2002 sửa đổi bổ sung 2008).
Vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng, văn hóa phẩm độc hại là
tang vật vi phạm hành chính phải bị tiêu hủy. Nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện
- Nguyên tắc áp dụng: áp dụng kèm với hình thức xử phạt trong quyết định xử phạt hoặc áp
dụng độc lập trong một quyết định hành chính khi:
+ Trường hợp đã hết thời hiệu xử phạt hành chính quy định tại điều 10 của pháp lệnh.
+ Khi hết thời hạn ban hành quyết định xử phạt hành chính quy định tại khoản 1 điều 56 Pháp
lệnh XPVPHC 2002 sửa đổi bổ sung 2008.
+ Khi đã hết thời hạn thi hành quyết định xử phạt hành chính mà quyết định xử phạt đó có áp
dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.
+ Khi hết thời hạn chấp hành xử phạt hành chính
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ.
Qua việc đánh giá tính hợp lý của những hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp
khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra đã giúp chũng ta có cái nhìn khái quát hơn về
những ưu điểm cũng như những điểm còn tồn tại để tìm ra phương hướng hoàn thiện những quy
định đó. Cùng với sự nâng cao ý thức pháp luật của người dân và việc sửa đổi bổ sung những
vướng mắc còn tồn tại trong những quy định trên , hứa hẹn chắc chắn sẽ hoàn thiện hơn trong tương
lai, chúng ta có quyền tin tưởng rằng vi phạm trong lĩnh vực hành chính nói riêng và vi phạm pháp
luật nói chung sẽ giảm đi đáng kể.
10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình luật hành chính Việt Nam, trường ĐH Luật Hà nội, NXB CAND.
2. Giáo trình Luật hành chính Việt nam, ĐH QGHN. Khoa Luật, PGS.TS Nguyễn Cửu Việt,
NXB ĐHQGHN.
3. Giáo trình luật hành chính và tài phán hành chính Việt nam, Học viện hành chính quốc
gia, NXB Giáo dục.
4. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 ( sửa đổi, bổ sung 2008)
5. Nghị định số 128/2008/NĐ- CP quy định chi tiết thi hành 1 số điều của pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính năm 2002, sửa đổi bổ sung 2007, 2008.
6. “Hoàn thiện quy định pháp luật về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính”. Luận án
tiến sĩ Luật học. Nguyến Thu Hòa.