Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh - Pdf 47

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỒNG QUANG

CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TÂY NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỒNG QUANG

CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TÂY NINH

Chuyên ngành:. Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số:.60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

trừ trách nhiệm hình sự ............................................................................... 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 73


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

:

Bộ luật hình sự

CHLB

:

Cộng hòa Liên bang

CHND

:

Cộng hòa nhân dân

CTTP

:

Cấu thành tội phạm


Xã hội chủ nghĩa

:


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với người thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm bằng việc buộc người đó phải chịu
một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế do luật hình sự quy định. Tuy nhiên, trên
thực tế có nhiều hành vi của các chủ thể khác nhau, tuy hành vi giống nhau
nhưng được thực hiện trong các điều kiện, hoàn cảnh, mục đích khác nhau
nên tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội được nhà làm luật nhìn nhận,
đánh giá có sự khác nhau. Cùng một hành vi có dấu hiệu của một tội phạm cụ
thể được quy định trong luật hình sự nhưng có hành vi bị truy cứu trách
nhiệm hình sự nhưng lại có hành vi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Chính vì có sự khác nhau đó nên khoa học luật hình sự cần có sự nghiên cứu
phân hóa, phân loại các hành vi của các chủ thể của luật hình sự để có chính
sách hình sự cho phù hợp. Đối với các hành vi tuy có dấu hiệu của một tội
phạm cụ thể nhưng nó lại được thực hiện trong các trường hợp cụ thể nhất
định làm mất đi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó nên người thực
hiện hành vi đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Khoa học luật hình sự
gọi những trường hợp đó là những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.
Chế định những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình
sự Việt Nam hiện hành có sự kế thừa, bổ sung và phát triển so với luật hình
sự Việt Nam các giai đoạn trước. Có thể nói đây là một trong những chế định
hết sức quan trọng cả trong lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự.
Chế định này thể hiện chính sách nhân đạo trong chính sách hình sự của nhà

thực tiễn nêu trên, bản thân tôi đã lựa chọn đề tài “Những trường hợp loại trừ
trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tây
Ninh” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.

2


2.Tình hình nghiên cứu
Chế định “các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự” trong luật hình
sự Việt Nam là một trong những chế định có vai trò và ý nghĩa hết sức quan
trọng về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự.
Chính vì vậy, trong nhiều năm qua, chế định này đã được nhiều nhà khoa học
và nhiều nhà hoạt động thực tiễn quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu dưới nhiều
góc độ, khía cạnh khác nhau.
Hầu hết trong các Giáo trình Luật hình sự - Phần chung của các cơ sở
đào tạo đại học đều có nội dung trình bày những kiến thức cơ bản về chế định
này cũng như về nội dung của các điều luật trong BLHS quy định về chế định
này. Tuy nhiên, đây chỉ là những kiến thức cơ bản nhất, tạo điều kiện cho việc
nghiên cứu về lý luận cũng như thực tiễn của các đối tượng là sinh viên mới
ban đầu tiếp cận học tập, nghiên cứu về pháp luật hình sự.
Ngoài ra, có thể kể đến các công trình nghiên cứu khác về vấn đề mà tác
giả luận văn nghiên cứu bao gồm các luận án, luận văn, các sách và các bài
báo. Các công trình này có thể được chia thành các nhóm sau:
- Nhóm nghiên cứu về nhiều vấn đề của Luật hình sự trong đó có nội
dung về chế định mà tác giả luận văn nghiên cứu. Ví dụ: Lê Văn Cảm, Những
vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Sách chuyên khảo
Sau đại học, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội (2005); Nguyễn Ngọc Hòa, Tội
phạm và cấu thành tội phạm, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội (2010); Trịnh
Tiến Việt, Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb. Lao động, Hà Nội (2013);
- Nhóm nghiên cứu “các trường hợp (tình tiết) loại trừ trách nhiệm hình

vệ chính đáng và những vướng mắc trong thực tiễn xét xử, Tạp chí Tòa án
nhân dân, số 17 (2009); Nguyễn Hương Giang, Tình thế cấp thiết trong luật
hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia
Hà Nội (2011); Nguyễn Sơn, Phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn
phòng vệ chính đáng theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học,

4


Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2014); v.v… Các công trình này đều
nghiên cứu từng điều luật trong BLHS mà không gắn kết các điều luật này với
nội dung của chế định chung “các tình tiết loại TNHS”.
- Nhóm nghiên cứu “các tình tiết loại trừ TNHS” theo nghĩa như cách
hiểu trong luận văn của tác giả. Ví dụ: Hoàng Văn Hùng, Các tình tiết loại trừ
tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi trong luật hình sự Việt Nam, Luận
văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội (1999); Trần Thị Thanh
Thủy, Các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật Trường Đại học quốc gia Hà Nội
(2015)… Các công trình công trình nghiên cứu này tuy đã làm rõ hơn cơ sở lí
luận về các tình tiết loại trừ TNHS nhưng mới chỉ tập trung vào hai tình tiết
đã được quy định trong BLHS.
Tóm lại, các công trình đã được công bố đã góp phần làm rõ cơ sở lý
luận cũng như những vướng mắc trong thực tiễn của chế định các tình tiết loại
trừ TNHS. Tuy nhiên, trước đòi hỏi của thực tiễn pháp lý, vẫn còn một số vấn
đề yêu cầu cần được làm rõ hơn như: làm rõ hơn bản chất của các trường hợp
được loại trừ TNHS; mối quan hệ giữa chế định này với các trường hợp
không có TNHS và miễn TNHS; cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định
các tình tiết loại trừ TNHS, cũng như làm rõ nội dung của các quy định mới
được bổ sung trong BLHS năm 2015 cũng như vấn đề loại trừ trách nhiệm
hình sự đối với chủ thể là pháp nhân.

những hiểu biết về các tình tiết không phải là tội phạm đó, họ sẽ bảo vệ được
mình và bảo vệ được sự tôn nghiêm của pháp luật; tránh được những lo lắng,
sự mất tự tin khi thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép trong khi họ
tưởng rằng đó là tội phạm. Quy định một cách chính thức và rõ ràng, đầy đủ
các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự cũng là thể hiện tính nhân đạo,
công bằng trong luật hình sự của Nhà nước ta, giúp cho nhân dân thực sự tin
tưởng vào pháp luật.

6


Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, các
vấn đề được trình bày trong luận văn góp phần làm sáng tỏ các vấn đề về các
trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, giúp cho họ thận trọng, khách quan
hơn khi gặp phải các tình tiết tương tự, đó cũng là tiếng nói góp phần làm
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho sự nghiêm minh của pháp
luật, tránh tình trạng chủ quan duy ý chí, bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô
tội.
Đối với BLHS của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luận văn
với các nghiên cứu và phân tích làm sáng tỏ các trường hợp loại trừ trách
nhiệm hình sự cùng với các phương hướng hoàn thiện sẽ góp phần hoàn thiện
các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự xứng đáng với tầm quan trọng
của các tình tiết này đồng thời góp một phần nhỏ bé vào tiến trình hoàn thiện
BLHS nói chung trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra, luận văn này cũng là một tài liệu tốt để cho các bạn sinh viên
ngành luật tham khảo khi nghiên cứu các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình
sự. Đồng thời, việc nghiên cứu và phổ biến rộng rãi các trường hợp loại trừ
trách nhiệm hình sự góp phần vào công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao
kiến thức pháp luật cho cán bộ và quần chúng nhân dân.
7.Kết cấu của luận văn

cho ta thấy những hành vi đó lại có một số tình tiết nhất định làm mất tính
nguy hiểm cho xã hội của hành vi và hành vi ấy không bị coi là tội phạm. Hay
nói cách khác, hành vi ấy thực tế gây thiệt hại cho Nhà nước, cho tổ chức
hoặc cá nhân nào đó, nhưng nhìn từ góc độ lợi ích xã hội, lợi ích công cộng
và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm…thì thiệt hại đó là không đáng
kể so với lợi ích mà các hành vi đó mang lại.
Như vậy, khái niệm về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự ta
có thể hiểu: Loại trừ trách nhiệm hình sự là trường hợp một người có hành vi

8


gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội, nhưng theo pháp luật họ
không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. [25, tr. 6].
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
Dựa vào khái niệm những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự và
trên cơ sở các quy định pháp luật hình sự liên quan đến vấn đề loại trừ trách
nhiệm hình sự ta có thể đưa ra một số đặc điểm về loại trừ trách nhiệm hình
sự sau đây:
Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự phải được điều chỉnh
bằng các quy phạm của pháp luật hình sự chứ không thể bằng các quy định
của các ngành luật khác. Bởi lẽ, một hành vi nguy hiểm cho xã hội đến mức
độ nào đi chăng nữa mà không được quy định trong luật hình sự là tội phạm
thì hành vi đó sẽ không bị coi là tội phạm và vấn đề trách nhiệm hình sự cũng
không đặt ra với người đó. Như vậy, để xem xét hành vi gây thiệt hại có bị
truy cứu trách nhiệm hình sự hay không thì chúng ta phải căn cứ vào chính
quy định của pháp luật hình sự. Từ đó, xem xét người có hành vi gây thiệt hại
trong trường hợp đó có bị coi là tội phạm hay không, có được loại trừ trách
nhiệm hình sự hay không, chứ chúng ta không thể căn cứ vào các quy định
các ngành luật phi hình sự khác (dân sự, hành chính…) rồi lại kết luận rằng

hoặc cho Nhà nước bằng hành vi hợp lý và hợp pháp; vì mục đích nhân đạo.
Tính chất tội phạm của hành vi gây thiệt hại được thực hiện trong trường
hợp tương ứng cụ thể bị loại trừ do căn cứ nhất định được điều chỉnh bằng
pháp luật hình sự, tức thiếu một trong các dấu hiệu của tội phạm đã được
phân tích ở phần khái quát chung về tội phạm. Việc gây thiệt hại do thiếu một
trong các dấu hiệu của tội phạm – thiếu tính có lỗi của hành vi, vì trong
trường hợp này – sự kiện bất ngờ – mặc dù về hình thức gây thiệt hại, về mặt
pháp lý có dấu hiệu của hành vi nào đó được quy định trong Phần các tội
phạm BLHS, nhưng người phạm tội hoàn toàn không có lỗi. Cũng tương tự
như vậy, việc gây thiệt hại được loại trừ do thiếu một trong các dấu hiệu của

10


tội phạm – hành vi được thực hiện bởi người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm
hình sự hoặc hành vi được thực hiện bởi người không có năng lực trách nhiệm
hình sự. Có ba trường hợp mà hành vi gây thiệt hại được loại trừ do thiếu một
trong dấu hiệu của tội phạm – thiếu tính trái pháp luật hình sự của hành vi, vì
trong ba trường hợp này – tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể,
phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết – mặc dù về hình thức gây thiệt hại, về
mặt pháp lý hình sự có dấu hiệu của hành vi nào đó được quy định trong
phần các tội phạm BLHS, nhưng nó đều không trái pháp luật hình sự (không
bị nhà làm luật coi là tội phạm).
1.1.3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu về những trường hợp loại trừ trách
nhiệm hình sự
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở
Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về những trường
hợp loại trừ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa quan trọng trên một số bình diện sau:
Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự là một trong những chế
định cơ bản thể hiện nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam hiện nay.

không còn nguy hiểm cho xã hội nữa hoặc trước khi hành vi phạm tội bị phát
giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc
phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả
của tội phạm. Ngoài ra, khi có quyết định đại xá, người phạm tội cũng có thể
được miễn trách nhiệm hình sự (Điều 25 BLHS hiện hành).
Như vậy, miễn trách nhiệm hình sự là trường hợp người thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội và người này đã phạm tội và lẽ ra phải bị truy cứu
trách nhiệm hình sự, nhưng trong những điều kiện nhất định, có sự hiện diện
của những tình tiết cụ thể, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án xét
thấy không cần áp dụng biện pháp cưỡng chế và cho họ được miễn trách
nhiệm hình sự. Còn loại trừ trách nhiệm hình sự là trường hợp người thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng người này không phạm tội và theo

12


quy định của pháp luật là thì họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Như
vậy, loại trừ trách nhiệm là hành vi không bị coi là tội phạm còn miễn trách
nhiệm hình sự là hành vi bị coi là tội phạm nhưng được miễn và hai trường
hợp này có tính nguy hiểm cho xã hội là khác nhau. [25, tr. 6-7].
Ví dụ:
Phan Hoàng H phạm tội huỷ hoại tài sản (Điều 143 BLHS hiện hành)
gây thiệt hại 3 triệu đồng, nhưng trong quá trình điều tra vụ án H đã chủ
động tích cực bồi thường cho bị hại năm triệu đồng. Vì vậy, mặc dù H có tội
nhưng Viện kiểm sát ra quyết định miễn trách nhiệm hình sự cho H.
1.1.4.2. Phân biệt trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự với không có sự
việc phạm tội
Loại trừ trách nhiệm hình sự không hề đồng nghĩa với không có sự việc
phạm tội. Không có sự việc phạm tội là không có hành vi gây thiệt hại hoặc
đe doạ gây thiệt hại cho xã hội, nhưng do những yếu tố khách quan hoặc chủ

người phạm tội. Nhưng, loại trừ trách nhiệm hình sự là trường hợp chủ thể đó
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng họ không phạm tội và theo quy
định của pháp luật thì họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, còn không có
sự việc phạm tội xảy ra là trường hợp chủ thể không thực hiện bất kỳ hành vi
nào nguy hiểm nào cho xã hội nhưng do yếu tố khách quan hoặc chủ quan nên
các cơ quan tiến hành tố tụng đã truy cứu trách nhiệm hình sự oan cho họ.
1.2. Lịch sử lập pháp về loại trừ trách nhiệm hình sự đến khi ban hành
Bộ luật hình sự 1999
1.2.1. Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình
sự Việt Nam trước khi ban hành BLHS 1985
Trong thời kỳ phong kiến, pháp luật hình sự Việt Nam được hình thành
qua các triều đại khác nhau và pháp luật là công cụ có hiệu quả trong công
cuộc bảo vệ và thống nhất đất nước. Pháp luật hình sự phản ánh xã hội ở mỗi

14


giai đoạn khác nhau tuỳ vào từng thời kỳ mà có những quy định phù hợp với
xã hội đó.
Thời Lê Sơ, vua Lê Thánh Tông đã cho ra đời Quốc triều hình luật hay
còn gọi là Bộ luật Hồng Đức năm 1483. Bộ luật Hồng Đức được chia làm 6
quyển với 13 chương và 722 điều. Chế định về những trường hợp loại trách
nhiệm hình sự đã được ghi nhận thông qua các quy phạm sau: 1) “Kẻ ban
đêm xông vào nhà người, không phải định ăn trộm, là định thông gian, quyết
khép vào tội đồ. Nếu chủ nhà đánh tại chỗ, không phải tội” (Điều 303 Hồng
Đức thiện chính thư); 2) “Bắt gian phu trong đêm tối, nếu chưa phân phải
trái mà lỡ đánh chết ngay tại chỗ, thì không phải tội” (Điều 410 Bộ luật
Hồng Đức).
Thời kỳ nhà Nguyễn, năm 1802, sau khi đánh bại hoàn toàn lực lượng
của triều đại Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long đã cho

Sau, Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân ngày 1010-1945 đã ban hành sắc lệnh số 47-SL cho tạm thời giữ luật lệ cũ, trong đó
có Bộ “Luật hình An Nam”, Bộ “Hoàng Việt luật lệ”, Bộ “Hình luật pháp tu
chính” với điều kiện không trái với nguyên tắc độc lập của Việt Nam và chính
thể dân chủ cộng hoà.
Sau năm 1954, các văn bản quy phạm pháp luật hình sự thời kỳ này chưa
có định nghĩa pháp lý của khái niệm phòng vệ chính đáng, nhưng đã có quy
định về phòng vệ chính đáng trong các trường hợp được sử dụng vũ khí trong
khi thi hành nhiệm vụ. Nghị định số 301-TTg ngày 10-7-1957 của Thủ tướng
chính phủ quy định chi tiết Luật số 103-SL ngày 20- 5-1957 bảo đảm quyền
tự do thân thể: “Nếu trong khi tiến hành việc bắt, tạm giữ, tạm giam, khám
người, khám nhà ở gặp những trường hợp cần thiết sau đây, người thi hành
nhiệm vụ có thể dùng vũ khí: a) Khi thi hành việc bắt, giữ, khám mà gặp sức
kháng cự của kẻ phạm pháp, cần phải bảo vệ tính mệnh của mình hoặc của
người khác đang đe doạ nghiêm trọng; b) Khi cần phải ngăn chặn những

16


người phạm tội chính trị hoặc hình sự quan trọng có hành động trốn tránh
pháp luật; c) Khi người bị tạm giam đang vượt trại giam hoặc khi can phạm
quan trọng chạy trốn trong lúc đang bị dẫn giải. Trong cả ba trường hợp
trên, người thi hành nhiệm vụ chỉ được dùng vũ khí đã cảnh báo, đã ra lệnh
hoặc giơ tay lên mà kẻ phạm pháp không tuân theo hoặc vẫn cố tình chống cự lại”.
Đại thắng mùa xuân năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng,
nước nhà được thống nhất nhưng trên thực tế, Việt Nam tạm thời tồn tại hai
Nhà nước: Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Nhà nước cộng hoà miền
Nam Việt Nam. Mỗi Nhà nước có pháp luật riêng, trong đó Nhà nước cộng
hoà miền Nam Việt Nam chủ yếu ban hành một số văn bản quy phạm hình sự
nhằm phục vụ thực hiện một trong những nhiệm vụ quan trọng cấp bách là
trấn áp bọn phản cách mạng và tội phạm khác bảo vệ vững chắc an ninh

được quy định Khoản 4 Điều 8.
Quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự trước đây trong BLHS năm
1985 tại Điều 58 được quy định trong Chương VII – Những quy định đối với
người chưa thành niên phạm tội, nay được quy định tại Điều 12 Chương III –
Tội phạm cho hợp lý hơn bởi tuổi chịu trách nhiệm hình sự là một dấu hiệu
thuộc chủ thể tội phạm và vì vậy nó phải được quy định liền với các dấu hiệu
khác của tội phạm thuộc chương “Tội phạm”.
Về sự kiện bất ngờ: theo quy định tại Điều 11 BLHS năm 1985: “Người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trong
trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả
của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự” là không hợp lý, vì
bản chất của sự kiện bất ngờ là gây nguy hại cho xã hội mà không có lỗi. Vì
vậy, Điều 11 BLHS năm 1999 đã sửa đổi lại thành: “Người thực hiện hành vi
gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp
không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi
đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”.

18


Về phòng vệ chính đáng: Điều 13 BLHS năm 1985 quy định: “Phòng vệ
chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể,
bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại
một cách tương xứng người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên”.
Thực tiễn thi hành BLHS năm 1985 cho thấy sự “tương xứng” ở đây cũng chỉ
thể hiện sự đánh giá của người ngoài cuộc mà không xuất phát từ sự nhận
định đánh giá của người trong cuộc. Từ những quy định hạn chế đó làm cho
quần chúng nhân dân ngại tham gia tấn công lại những hành vi nguy hiểm
cho xã hội, họ né tránh, bỏ mặc vì sợ liên lụy không khéo sẽ bị đánh giá là
chống trả không tương xứng thì phải bị xử lý, tạo tâm lý tiêu cực làm giảm tác

1.3.1. Loại trừ trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự của nước Anh:
Về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự thì pháp luật hình
sự thực định nước Anh không có quy định nhưng trong hoạt động xét xử, các
thẩm phán thường dựa vào quy tắc Mak – Naten vốn được nêu từ năm 1843.
Theo quy tắc này thì chừng nào bồi thẩm đoàn chưa chứng minh một cách
đáng tin cậy theo cách khác thì mỗi một con người đều được suy đoán là khoẻ
mạnh về tinh thần và có mức độ trí tuệ tương đối để có thể chịu trách nhiệm
về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Như vậy, có thể nói một người
không bị truy cứu trách nhiệm về hành vi của mình thì cần xác định được
rằng: Tại thời điểm thực hiện hành vi trái pháp luật, người bị buộc tội bị tác
động bởi căn bệnh thần kinh hoặc khiếm khuyết thần kinh đã không làm chủ
được bản thân hoặc làm chủ bản thân song không nhận thức được tính trái đạo
đức của hành vi mà mình đã thực hiện.
Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, ở nước Anh người dưới 10 tuổi sẽ
không phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình đã gây ra.
Trường hợp phạm tội do sự cưỡng bức:
-

Nếu bị cưỡng bức về thân thể thì người phạm tội sẽ không phải chịu

trách nhiệm hình sự trừ tội giết người;

20


-

Nếu bị cưỡng bức về tinh thần mà phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm

hình sự trừ trường hợp cưỡng bức liên quan đến tính mạng hoặc sức khoẻ.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status