ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VIỆT NGA
NHỮNG TRƢỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VIỆT NGA
NHỮNG TRƢỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Trịnh Tiến Việt
Hà Nội - 2020
1.2. Khái quát lịch sử lập pháp Việt Nam về những trường hợp loại trừ
TNHS từ sau Cách mạng tháng 8/1945 đến trước khi ban hành BLHS năm
2015.. ............................................................................................................ 21
1.2.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8/1945 đến trước pháp điển hoá
lần thứ nhất (BLHS năm 1985) ................................................................. 21
1.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1985 đến trước khi ban hành
BLHS năm 2015 ......................................................................................... 23
1.3. Quy định tương tự của BLHS một số nước trên thế giới về những
trường hợp loại trừ TNHS ............................................................................ 26
1.3.1. BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ............................................ 26
1.3.2. BLHS Liên bang Nga ....................................................................... 30
1.3.3. BLHS Cộng hòa Liên bang Đức ...................................................... 32
CHƢƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ
NHỮNG TRƢỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG ............................................................................... 35
2.1. Phân loại những trường hợp loại trừ TNHS theo quy định của BLHS
năm 2015 ...................................................................................................... 35
2.2. Quy định của BLHS năm 2015 về những trường hợp loại trừ TNHS 36
2.2.1. Sự kiện bất ngờ ................................................................................ 36
2.2.2. Tình trạng không có năng lực TNHS .............................................. 39
2.2.3. Phòng vệ chính đáng ....................................................................... 42
2.2.4. Tình thế cấp thiết ............................................................................. 48
2.2.5. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội .............................. 52
2.2.6. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ
thuật và công nghệ..................................................................................... 55
2.2.7. Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên ............. 57
2.3. Thực tiễn áp dụng quy định của BLHS năm 2015 về những trường
hợp loại trừ TNHS ........................................................................................ 61
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
BLHS
: Bộ luật Hình sự
BLHS năm 1999
: BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
BLHS năm 2015
: BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
BLTTHS
: Bộ luật Tố tụng hình sự
CHND
: Cộng hòa nhân dân
CHLB
: Cộng hòa liên bang
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1.
Phân biệt sự kiện bất ngờ với lỗi vô ý vì cẩu
thả………...
Bảng 2.2.
37
Thống kê xét xử tội danh quy định tại Điều 126 và
Điều 136 BLHS của Tòa án nhân dân các cấp trong giai
đoạn
03
năm
(2017
-
2019)
………………………………….
Bảng 2.3.
(2017
-
2019)
63
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Chiến lược Quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2025 và
định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 623/QĐ-TTg ngày 14/4/2016
của Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh: “Phòng, chống tội phạm là một
trong những nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách, thường xuyên, liên tục và lâu dài
nhằm thực hiện Hiến pháp, pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành, góp
phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân…”. Để đạt
được hiệu quả cao trong công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm,
việc hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự đồng bộ, nhất quán, phù hợp với
tình hình thực tiễn của Việt Nam và xu hướng chung của các quốc gia trên thế
giới, cũng như tiến hành nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện các vấn đề
liên quan đến tội phạm trong luật hình sự là hết sức cần thiết. Đặc biệt, việc
nghiên cứu, làm rõ những trường hợp loại trừ TNHS giúp chúng ta nhận thức
sâu sắc hơn về tội phạm, tạo cơ sở để các nhà làm luật xây dựng các chế định
có liên quan trong Phần chung và cấu thành tội phạm cụ thể trong Phần các
tội phạm của BLHS.
BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định về cơ sở của
TNHS đối với người phạm tội như sau: “Chỉ người nào phạm một tội đã được
Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu TNHS” (khoản 1 Điều 2). Như vậy,
bản chất của loại trừ TNHS; các căn cứ pháp lý của những trường hợp loại trừ
mới chỉ mang tính chất định tính, cần định lượng rõ ràng, cụ thể hơn; cần có
những giải thích, hướng dẫn cụ thể với từng trường hợp loại trừ TNHS để
thuận tiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi vận dụng quy định của
BLHS, tránh xảy ra nhiều cách hiểu khác nhau, áp dụng không thống nhất;
cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện nội dung các điều luật quy định về từng trường
2
hợp loại trừ TNHS; cần tiếp tục cập nhật một số trường hợp loại trừ TNHS
khác trong thời gian tới…
Ngoài ra, thực tế cho thấy không phải lúc nào chúng ta cũng hiểu đúng
về bản chất của những trường hợp loại trừ TNHS. Trong thực tiễn tư pháp
hình sự, cũng vẫn còn có những cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan tiến
hành tố tụng về việc áp dụng những trường hợp loại trừ TNHS nên có thể dẫn
đến việc vận dụng xử lý trong một số trường hợp là khác nhau, còn lúng túng
trong việc xác định một hành vi cụ thể là tội phạm hay không phải là tội
phạm. Điều này có thể dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người
không có tội.
Từ những vấn đề nêu trên, để góp phần làm rõ hơn những nội dung cả
về mặt lý luận và thực tiễn, cũng như đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục
hoàn thiện quy định của BLHS năm 2015 và các giải pháp bảo đảm áp dụng
quy định của BLHS về chế định này, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài
“Những trƣờng hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt
Nam” cho luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Loại trừ TNHS là một trong những chế định có vai trò và ý nghĩa hết
sức quan trọng về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn áp dụng pháp luật
học Quốc gia, Luật học, tập 29, số 4, 2013; PGS.TS.Trịnh Tiến Việt, Đánh
giá những trường hợp loại trừ TNHS trong BLHS năm 2015 và kiến nghị
hoàn thiện theo hướng bảo vệ quyền con người, quyền công dân, Tạp chí
Pháp luật về quyền con người, số 2 - 2018.
Các công trình đã được công bố đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận cũng
như những vướng mắc trong thực tiễn của chế định loại trừ TNHS. Tuy nhiên,
4
hầu hết các công trình nêu trên được thực hiện trước thời điểm BLHS năm
2015 được ban hành và chủ yếu nghiên cứu về những trường hợp loại trừ
TNHS theo quy định của BLHS năm 1999.
Bên cạnh đó, mặc dù BLHS năm 2015 có nhiều điểm mới, nhưng cũng
còn một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu cho đầy đủ, khoa học và hợp lý
hơn nhằm tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự cũng như việc
đảm bảo thi hành trong thực tiễn đối với chế định loại trừ TNHS.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sâu sắc hơn một số vấn đề
chung, quy định của BLHS của BLHS năm 2015 và thực tiễn áp dụng những
trường hợp loại trừ TNHS. Từ đó nhận xét, đánh giá và đề xuất giải pháp,
kiến nghị nhằm bảo đảm áp dụng quy định của BLHS về những trường hợp
này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể đặt ra trong
luận văn gồm có:
- Làm rõ khái niệm, các đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định loại trừ
TNHS trong luật hình sự Việt Nam.
- Nghiên cứu quy định tương tự của BLHS một số nước trên thế giới về
đến 2019; số liệu tại Phụ lục luận văn là thống kê từ năm 2015 (từ khi TAND
cấp cao được thành lập) đến 2018 (riêng năm 2019 đến thời điểm luận văn
hoàn thành chưa có số liệu chính thức).
5. Phƣơng pháp luận và các phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa MácLênin (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các
6
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nhà nước và pháp luật, về nhà nước
pháp quyền XHCN.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Chương 1: Phương pháp thu thập tài liệu, tổng hợp, lịch sử, so sánh.
- Chương 2: Phương pháp thống kê, phân tích, đối chiếu, suy luận
logic.
- Chương 3: Phương pháp phân tích, tổng hợp.
6. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Đây là luận văn thạc sĩ luật học đầu tiên nghiên cứu về những trường
hợp loại trừ TNHS từ khi BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu
lực thi hành (từ 01/01/2018). Do vậy, luận văn đã làm sáng tỏ khái niệm, các
đặc điểm của loại trừ TNHS và so sánh với quy định tương tự của BLHS một
số nước trên thế giới, cũng như đánh giá nội dung, điều kiện áp dụng của từng
trường hợp loại trừ TNHS trong BLHS năm 2015 và thực tiễn áp dụng những
trường hợp này. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những kiến nghị cụ thể để tiếp
tục hoàn thiện các quy định của BLHS năm 2015 và các giải pháp bảo đảm áp
dụng.
Từ đó, tác giả mong muốn luận văn có giá trị và ý nghĩa tham khảo
trong nhiều lĩnh vực và với nhiều chủ thể khác nhau như: Với người dân, đặc
Khái niệm, các đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định loại trừ
TNHS trong luật hình sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm loại trừ TNHS trong luật hình sự Việt Nam
Tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực nhất, có tính lịch sử và tính giai
cấp. Việc quy định một hành vi nào đó là tội phạm hay không phải là tội
phạm phụ thuộc vào ý chí của giai cấp thống trị xã hội, phụ thuộc vào hoàn
cảnh, điều kiện kinh tế, xã hội trong từng giai đoạn nhất định.
Từ trước đến nay, quan điểm của các nhà khoa học về khái niệm, dấu
hiệu (đặc điểm) của tội phạm, cũng như sự ghi nhận khái niệm tội phạm trong
luật hình sự của mỗi quốc gia không hoàn toàn thống nhất với nhau. Việc
nghiên cứu khái niệm tội phạm và định nghĩa khái niệm tội phạm luôn được
các nhà nghiên cứu luật học cũng như nhà lập pháp hình sự quan tâm; đồng
thời “một loạt những vấn đề liên quan đến TNHS (như: TNHS của một công
dân được đặt ra khi nào, tại sao một công dân lại phải chịu TNHS, trình tự xác
định TNHS đối với một công dân ra sao, từ thời điểm nào TNHS bắt đầu
được thực hiện, việc thực hiện TNHS trải qua mấy giai đoạn, hậu quả pháp lý
của người đã bị truy cứu TNHS là gì, khi một người thực hiện hành vi tuy có
dấu hiệu của tội phạm nhưng trong những trường hợp nào thì không có
TNHS, v.v…) vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến và cách hiểu khác nhau, mà vẫn
chưa có một quan điểm chính thống” [4, tr.602-603].
Tác giả luận văn đồng tình với quan điểm khoa học về khái niệm tội
phạm mà trong đó phản ánh được tổng thể, đầy đủ bản chất của khái niệm
trên ba bình diện - gồm bình diện khách quan (nội dung), bình diện pháp lý
(hình thức) và bình diện chủ quan:“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã
9
- Người đó có năng lực TNHS, tức là khi thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình (3).
- Người đó đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của BLHS (4).
- Người đó có lỗi (cố ý hoặc vô ý theo quy định của BLHS) trong việc
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đó (5).
Như vậy, những điều kiện của TNHS tương ứng với những đặc điểm
(dấu hiệu) cơ bản của tội phạm. Năm đặc điểm cơ bản của tội phạm có mối
quan hệ biện chứng và thống nhất với nhau, tương tự như vậy, năm điều kiện
nêu trên của TNHS cũng có mối quan hệ biện chứng và thống nhất với nhau
mà chỉ khi nào có tổng hợp tất cả chúng thì một người mới phải chịu TNHS
về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình đã thực hiện.
Tuy nhiên, trong đời sống xã hội, chúng ta gặp không ít trường hợp mà
về hình thức, một hành vi của con người có các dấu hiệu cấu thành tội phạm,
nhưng trong hành vi đó lại chứa đựng một số tình tiết đặc biệt nhất định, nên
hành vi ấy không bị coi là tội phạm, thậm chí còn được coi là những hành vi
tích cực, có ích cho xã hội. Hay nói cách khác, hành vi ấy thực tế gây thiệt hại
cho Nhà nước, cho tổ chức hoặc cá nhân nào đó, nhưng nhìn từ góc độ lợi ích
xã hội, công cộng và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm…thì thiệt hại
đó là không đáng kể so với lợi ích mà các hành vi đó mang lại. Đó là những
trường hợp loại trừ TNHS.
Dưới góc độ khoa học luật hình sự, từ trước đến nay trên một số sách
báo pháp lý, chuyên khảo luật hình sự, các nhà khoa học, chuyên gia pháp lý
đã có những nghiên cứu về chế định loại trừ TNHS ở các mức độ và khía
cạnh khác nhau, bước đầu đã tập trung kiến giải làm rõ những đặc điểm của
loại trừ TNHS. Tuy nhiên, trong các công trình khoa học này, các nhà khoa
học, chuyên gia pháp lý nêu ra những thuật ngữ khác nhau đối với tên gọi,
11
- Quan điểm thứ hai, cho rằng các trường hợp này là “những tình tiết
loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi” như trong Giáo trình
Luật hình sự Việt Nam (tập I) của trường Đại học Luật Hà Nội năm 2013;
Sách chuyên khảo Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của tác giả Phạm Văn
Beo năm 2009. Sở dĩ tên gọi này được lựa chọn vì các tác giả cho rằng “hành
vi đã thực hiện, xét về khách quan đã gây ra thiệt hại nhưng xét về chủ quan
thì chủ thể thực hiện không có lỗi vì đã lựa chọn cách xử sự phù hợp với đòi
hỏi của xã hội… Do không có lỗi nên hành vi gây thiệt hại không bị coi là có
tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm” [48, tr.201]. Do vậy, các tác giả cho
rằng tính chất nguy hiểm cho xã hội đã bị loại trừ vì “xét về chủ quan thì chủ
thể thực hiện không có lỗi vì đã lựa chọn cách xử sự phù hợp với đòi hỏi của
xã hội”. Từ đó, các tác giả đưa ra định nghĩa về những tình tiết loại trừ tính
chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi là “những tình tiết làm mất đi tính
nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại nên được quy định trong luật
hình sự để xác định những trường hợp bình thường là tội phạm nhưng không
bị coi là tội phạm khi được thực hiện trong những điều kiện kèm theo tình tiết
đó” [48, tr.202]. Với định nghĩa này, có thể thấy các tác giả dựa trên đặc điểm
(dấu hiệu) về nội dung (vật chất) - là tính nguy hiểm cho xã hội - để đặt tên
gọi riêng cho nhóm các trường hợp này.
- Quan điểm thứ ba, đặt tên cho các trường hợp này là “những trường
hợp không phải là tội phạm” như trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
(Phần chung) của trường Đại học Cảnh sát nhân dân năm 2005; Sách chuyên
khảo Tội phạm và TNHS của PGS.TS.Trịnh Tiến Việt năm 2013; Giáo trình
Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của PGS.TS.Cao Thị Oanh năm 2010.
Theo quan điểm này, có tác giả lý giải việc sử dụng tên gọi này là để “dưới
góc độ thực tiễn và phục vụ công tác giảng dạy… cho đơn giản, ngắn gọn và
dễ hiểu, đồng thời để phân biệt ranh giới giữa trường hợp không phải là tội
13
hành vi gây thiệt hại hoặc đe doạ gây ra thiệt hại cho xã hội, nhưng theo
pháp luật họ không bị truy cứu TNHS” [34, tr.8].
Trong đó, có tác giả xác định 6 trường hợp không phải chịu TNHS
được quy định trong BLHS thuộc chế định loại trừ TNHS, bao gồm: Hành vi
có tính chất nguy hiểm chưa đáng kể; sự kiện bất ngờ; chưa đủ tuổi chịu
TNHS; tình trạng không có năng lực TNHS, phòng vệ chính đáng, tình thế
cấp thiết [23, tr.41]. Bên cạnh đó, có tác giả còn xác định trường hợp miễn
TNHS và hết thời hiệu truy cứu TNHS cũng được coi là trường hợp loại trừ
TNHS [30].
- Quan điểm thứ năm, gọi tên các trường hợp loại trừ TNHS là “các
căn cứ hợp pháp của hành vi gây thiệt hại” và bao gồm 02 trường hợp là
phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết [16, tr.44].
Như vậy, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, đến nay giữa các nhà
hình sự học còn có các ý kiến chưa thống nhất về tên gọi, khái niệm, cách
hiểu về loại trừ TNHS. Mỗi nhóm quan điểm đều có lý lẽ, lập luận khoa học
và góc độ nhìn nhận hợp lý của riêng mình. Tuy nhiên, khi phân tích và lý
giải, mặc dù các tác giả sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau như vậy nhưng về
bản chất của chúng giống nhau ở chỗ các trường hợp (hay tình tiết, yếu tố) đó
đều loại trừ tính chất tội phạm của hành vi. Theo quy định về cơ sở của TNHS
tại Điều 2 BLHS năm 2015, chỉ một người phạm một tội do BLHS quy định
mới phải chịu TNHS, hành vi của họ phải đáp ứng đầy đủ những dấu hiệu của
tội phạm, hay đáp ứng đầy đủ cơ sở và những điều kiện của TNHS. Do đó,
nếu trong hành vi của một người khi thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã
hội mà không thoả mãn ít nhất một trong các dấu hiệu cơ bản của tội phạm,
thì tính chất tội phạm của hành vi đó được loại trừ, và logic tương ứng, người
thực hiện hành vi đó không phải chịu TNHS hay được loại trừ TNHS.
15
ở nước ta” [30, tr.9] và “ở nước ta khi nói đến TNHS là mọi người đều hiểu
ngay rằng đó là hậu quả pháp lý mà người đó phải chịu khi thực hiện một
hành vi phạm tội và nếu đối lập với TNHS là không có TNHS hay loại trừ
TNHS. Vì vậy, chúng ta gọi các trường hợp loại trừ TNHS là phù hợp với
Việt Nam và mọi người dễ hiểu hơn” [34, tr.11].
Từ sự nghiên cứu, tiếp thu các quan điểm khác nhau trong khoa học
luật hình sự được khái quát trên đây, cũng như trên cơ sở định nghĩa pháp lý
của một số khái niệm riêng biệt trong pháp luật hình sự Việt Nam (như phòng
vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ…), tác giả luận văn cho
rằng: Loại trừ TNHS là trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại cho xã
hội, nhưng theo quy định của BLHS hiện hành thì họ không phải chịu TNHS
do có một trong những căn cứ được loại trừ TNHS.
1.1.2. Các đặc điểm của loại trừ TNHS trong luật hình sự Việt Nam
Dựa vào khái niệm loại trừ TNHS, có thể đưa ra các đặc điểm của loại
trừ TNHS như sau:
Thứ nhất, loại trừ TNHS phải được quy định trong luật hình sự. Bởi lẽ
một hành vi nguy hiểm cho xã hội đến mức độ nào đi chăng nữa mà không
được quy định trong luật hình sự là tội phạm thì hành vi đó sẽ không bị coi là
tội phạm và vấn đề TNHS cũng không đặt ra với người đó. Như vậy, để xem
xét hành vi gây thiệt hại có bị truy cứu TNHS hay không thì chúng ta phải căn
cứ vào chính quy định của pháp luật hình sự. Từ đó, xem xét người có hành vi
gây thiệt hại trong trường hợp đó có bị coi là tội phạm hay không, có được
loại trừ TNHS hay không, chứ chúng ta không thể căn cứ vào các quy định
các ngành luật phi hình sự khác (dân sự, hành chính…) rồi lại kết luận rằng
người đó được loại trừ TNHS hay bị truy cứu TNHS.
17