TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA 2006-2010
Đề tài:
TỘI ĐE DỌA GIẾT NGƯỜI TRONG BỘ
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Ts. PHẠM VĂN BEO
TRẦN THỊ NHƯ
MSSV: 5062273
LỚP TƯ PHÁP 1
Cần Thơ, 03/2010
Nhận xét của giảng viên:
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................1
2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu .........................................................................2
3. Phương pháp nghiên cứu .....................................................................................2
4. Bố cục đề tài .......................................................................................................2
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI ĐE DỌA GIẾT NGƯỜI
4
1.1 Khái niệm và những quy định chung về các tội xâm phạm đến tính mạng
25
2.1 Khái quát chung về cấu thành tội phạm ...........................................................25
2.2 Các dấu hiệu cấu thành nên tội đe dọa giết người ............................................26
2.2.1 Các dấu hiệu về mặt khách thể của tội phạm ..............................................26
2.2.2 Các dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm ..........................................28
2.2.3 Các dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm ..............................................32
2.2.4 Các dấu hiệu về mặt chủ thể của tội phạm ................................................33
2.3 Những quy định về hình phạt đối với tội đe dọa giết người trong Bộ luật
hình sự Việt Nam hiện hành .................................................................................33
2.3.1 Các trường hợp phạm tội được quy định trong khoản 1 Điều 103 Bộ
luật hình sự Việt Nam hiện hành ...........................................................................33
2.3.2 Các trường hợp phạm tội được quy định trong khoản 2 Điều 103 Bộ
luật hình sự Việt Nam hiện hành ..........................................................................35
2.3.2.1 Đe dọa giết nhiều người (điểm a khoản 2 Điều 103) ...........................35
2.3.2.2 Đe dọa giết người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn
nhân (điểm b khoản 2 Điều 103) .............................................................................36
2.3.2.3 Đe dọa giết trẻ em (điểm c khoản 2 Điều 103) ....................................37
2.3.2.4 Đe dọa giết người để che giấu việc bị xử lý về một tội phạm khác
(điểm d khoản 2 Điều 103) ....................................................................................38
2.3.2.5 Đe dọa giết người để trốn tránh việc xử lý về một tội phạm khác
(điểm d khoản 2 Điều 103) ...................................................................................39
2.4 Điểm khác nhau cơ bản giữa tội đe dọa giết người và một số tội khác được
quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành ..............................................40
2.4.1 So với tội giết người (Điều 93 Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành) .........40
2.4.2 So với tội hiếp dâm (Điều 111 Bộ luật hình Việt Nam hiện hành) .............43
2.4.3 So với tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135 Bộ luật hình sự Việt Nam hiện
hành .......................................................................................................................45
Tội đe dọa giết người
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền được thông qua theo Nghị quyết Số
217A ngày 10/12/1948 của Đại hội đồng liên hợp quốc có ghi nhận “Mọi người
đều có quyền sống, quyền tự do và quyền an toàn cá nhân”1. Ở Việt Nam, trong
các bản Hiến pháp từ Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 thì “Quyền sống,
quyền bất khả xâm phạm về tính mạng sức khỏe được xem là thiêng liêng và quan
trọng nhất trong tất cả các quyền cơ bản của con người”. Chính vì vậy mà hành vi
đe dọa đến tính mạng sức khỏe con người được xem là hành vi của tội ác và cần
phải loại bỏ trong xã hội. Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, trước sự chuyển biến
mau lẹ của nền kinh tế xã hội. Chúng ta dần tiến tới xây dựng nền kinh tế bền vững,
nhất là khi nước ta đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại
WTO thì con người và quyền con người càng phải được bảo vệ và tôn trọng hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi thì mặt trái của cơ chế thị trường hội nhập
quốc tế cũng đặt ra nhiều trở ngại và thách thức, nhất là các vấn đề về bảo vệ an
ninh trật tự, an toàn xã hội nói chung và bảo vệ tính mạng sức khỏe con người nói
riêng. Nhưng tình hình tội phạm xâm phạm đến tính mạng sức khỏe con người có
xu hướng không giảm mà diễn biến ngày càng phức tạp và nguy hiểm hơn. Trong
đó tội đe dọa giết người là loại tội phạm nguy hiểm đáng kể, không những tước đi
quyền tự do của con người mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, gây
tâm lý hoang mang lo sợ đối với người khác. Gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình
hình trật tự an toàn xã hội nói chung. Trước tình hình đó, mặc dù những kết quả đạt
được trong công tác đấu tranh phòng chống các loại tội phạm nói chung và tội đe
dọa giết người nói riêng của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong những năm qua là
đáng ghi nhận. Tuy nhiên, tình hình tội phạm xảy ra trong giai đoạn hiện nay là rất
Đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ tình hình tội đe dọa giết người xảy ra trong giai
đoạn hiện nay. Tìm ra những nguyên nhân, điều kiện và phân tích đánh giá những
yếu tố cấu thành nên tội phạm. Từ đó rút ra biện pháp cụ thể trong công tác đấu
tranh phòng chống loại tội phạm này.
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài.
Luận văn được xây dựng và hoàn thành dựa trên kiến thức chuyên ngành đã
được tiếp thu. Kết hợp với các biện pháp thu thập và tổng hợp tài liệu có liên quan
cùng với các vụ án trong thực tế nhằm để chứng minh và làm rõ các vấn đề nghiên
cứu.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác:
- Phương pháp thu nhập tài liệu.
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
4. Bố cục đề tài.
Ngoài phần mục lục và phần kết luận luận văn được chia ra làm 3 chương như
sau:
- Chương I: Những vấn đề chung về tội đe dọa giết người:
Trong nội dung Chương I tiến hành phân tích một cách khái quát nhất về các tội
xâm phạm đến tính mạng sức khỏe được quy định trong Bộ luật hình sự hiện hành.
Từ đó tiến hành phân tích sơ lược về tội đe dọa giết người được quy định trong Bộ
SVTH: Trần Thị Như
MSSV: 5062273
2
Tội đe dọa giết người
MSSV: 5062273
3
Tội đe dọa giết người
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI ĐE DỌA GIẾT NGƯỜI
Như đã biết tính mạng và sức khỏe là hai thứ quí giá nhất của con người, con
người nếu muốn tồn tại thì trước hết phải sống và khỏe mạnh. Chính vì vậy, Bộ luật
hình sự Việt Nam đã quy định các điều luật nhằm bảo vệ tính mạng sức khỏe của
người dân. Tội đe dọa giết người là một trong các điều luật đó. Trước khi tiến hành
phân tích sâu về tội đe dọa giết người, cần tiến hành nghiên cứu sơ lược về các tội
xâm phạm đến tính mạng sức khỏe như sau:
1.1 Khái niệm và những quy định chung về các tội xâm phạm đến tính
mạng sức khỏe.
Con người là vốn quý của xã hội, là đối tượng hàng đầu được pháp luật nói
chung và luật hình sự nói riêng bảo vệ đặc biệt. C.Mác đã viết: “Bản chất của con
người không phải là cái trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt, trong tính hiện
thực của nó, bản chất con người là tổng hòa của những quan hệ xã hội”2. Bảo vệ
con người trước hết là bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tự do
của họ, vì đó là những vấn đề có ý nghĩa hàng đầu đối với bất kỳ một con người
nào. Còn theo Điều 71 Hiến pháp 1992 thì “Công dân có quyền bất khả xâm phạm
về thân thể danh dự và nhân phẩm. Không ai có thể bị bắt, nếu không có quyết định
của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường
hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật. Nghiêm
con người bao gồm có bốn nội dung cơ bản: Mặt khách thể của tội phạm, mặt
khách quan của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm và cuối cùng là mặt chủ thể
của tội phạm. Để làm rõ hơn về các dấu hiệu pháp lý chung của tội phạm chúng ta
tiến hành nghiên cứu sơ lược như sau:
1.1.2.1 Khách thể của các tội xâm phạm đến tính mạng sức khỏe
con người.
Các tội được quy định trong Chương XII Bộ luật hình sự năm 1999 ngoài
những tội quy định về xâm phạm đến nhân phẩm danh dự con người thì những tội
còn lại đều quy định về sự xâm phạm đến quyền sống, quyền được bảo vệ về tính
mạng sức khỏe con người. Khách thể của nhóm tội phạm này là một trong những
khách thể quan trọng nhất trong số các tội phạm thuộc nhóm này được Luật hình sự
bảo vệ. Đó là quyền sống, quyền được bảo vệ và tôn trọng về tính mạng, sức khỏe.
Tong đó, quyền sống là quyền được bảo vệ bằng sự an toàn trong cuộc sống của
mỗi con người. Cuộc sống của con người được tính từ khi lọt lòng Mẹ cất tiếng
khóc chào đời và có khả năng độc lập tiếp nhận những yếu tố vật chất cho đến khi
người đó chết theo qui luật của tự nhiên.
Như vậy, pháp luật hình sự chỉ bảo vệ người đang còn sống. Tức là con người
đó có khả năng độc lập tiếp nhận các yếu tố đảm bảo cuộc sống cho dù tình trạng
sống hay khả năng tiếp nhận những yếu tố, các mức có thể là tối thiểu.
Ví dụ: Cá nhân có bị bệnh tâm thần, bị bệnh liệt giường hay bệnh hiểm nghèo ở
giai đoạn cuối đi nữa thì quyền sống, quyền được bảo vệ về sức khỏe của họ vẫn
được pháp luật hình sự bảo vệ một cách tuyệt đối nhất cho đến khi trái tim họ
không còn đập nữa. Đối tượng của nhóm này là những chủ thể có quyền được tôn
trọng và bảo vệ tính mạng. Đó là những người đang sống, đang tồn tại độc lập
trong thế giới khách quan với tư cách là một con người, một thực thể của tự nhiên
và xã hội. Như vậy bào thai và xác chết không phải là đối tượng được bảo vệ.
Ngoài quyền sống của con người được bảo vệ bằng pháp luật thì sức khỏe của
con người cũng được pháp luật hình sự bảo vệ một cách tương tự.Tuy nhiên, có
một số điểm khác nhau giữa quyền sống và sức khỏe của con người. Ở đây sức
những hành vi tiêu cực của chủ thể phạm tội thông qua đối tượng tác động là con
người, được hiểu ở những dạng khác nhau như: Đâm, chém, đánh bắn… Riêng đối
với các hành vi xâm phạm đến tính mạng con người thì hành vi khách quan của tội
này tuy khác nhau ở hình thức thể hiện cụ thể, nhưng có cùng tính chất là đều có
thể trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra thiệt hại về tính mạng hoặc đe dọa gây ra thiệt
hại đó như “Tội đe dọa giết người”4. Trong những hành vi của nhóm tội phạm này
có những hành vi có thể thực hiện bằng hình thức hành động và không hành động
như Điều 93, 94, 98. Có những hành vi chỉ thể hiện được hình thức bằng hành động
như Điều 96, 97, 100, 101, 103 và có những hành vi chỉ thể hiện bằng hình thức
không hành động như Điều 1025.
Ngoài ra, một số tội về xâm phạm đến tính mạng sức khỏe có hành vi được thể
hiện dưới dạng không hành động. Hành vi không hành động của chủ thể phạm tội
4
5
Điều 103, Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
Bộ luật hình sự Việt Nam, năm 1999.
SVTH: Trần Thị Như
MSSV: 5062273
6
Tội đe dọa giết người
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
đã đi ngược hoặc không đáp ứng yêu cầu của phần quy định trong vi phạm pháp
luật buộc mọi người phải thực hiện trong những điều kiện nhất định.
có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định đều có khả
năng trở thành chủ thể của tội phạm thuộc nhóm này.
SVTH: Trần Thị Như
MSSV: 5062273
7
Tội đe dọa giết người
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
1.1.3 Những quy định cụ thể về các tội xâm phạm đến tính mạng sức
khỏe trong Bộ luật hình sự năm 1999.
Bộ luật hình sự năm 1999 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xây
dựng một chương riêng biệt nhằm quy định về những hành vi xâm phạm đến tính
mạng sức khỏe danh dự nhân phẩm con người. Trên cơ sở kế thừa những quy định
của Bộ luật hình sự năm 1985, có sự phát triển về kỹ thuật lập pháp và tổng hợp
thực tiễn đấu tranh chống các tội về nhân thân, bóc tách những hành vi phạm tội
trong Bộ luật hình sự năm 1985 quy định gộp nhiều dạng hành vi trong cùng một
điều luật thành từng điều luật cụ thể. Ví dụ: Tội giết người trong Điều 101 Bộ luật
hình sự 1985 thành Điều 93, 94, 95 Bộ luật hình sự năm 1999. Các tội này được
xây dựng với dấu hiệu đặc trưng rõ ràng. Bộ luật hình sự năm 1999 xây dựng các
điều khoản cụ thể phù hợp với cách phân loại tội phạm và tương ứng là mức và loại
hình phạt thích đáng khi có sự xâm phạm đến quyền sống, quyền được bảo vệ sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân.
Cụ thể như sau: Các tội xâm phạm đến tính mạng sức khỏe được quy định trong
Chương XII của Bộ luật hình sự năm 1999 nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, bao gồm 17 tội:
Điều 107. Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người
khác trong khi thi hành công vụ.
Điều 108. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác.
Điều 109. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người
khác do hành vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính.
1.2 Khái niệm về tội đe dọa giết người.
Như đã nói ở phần trên “Con người là vốn quý của xã hội, là đối tượng hàng
đầu được pháp luật nói chung và luật hình sự nói riêng bảo vệ đặc biệt. Bảo vệ con
người trước hết là bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tự do của
họ, vì đó là những vấn đề có ý nghĩa hàng đầu đối với bất kỳ một con người nào”.
Vì vậy bất kỳ hành vi nào xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe con người đều được
xem là hành vi phạm tội. Ngay cả hành vi đe dọa tước đoạt tính mạng của người
khác mặc dù hậu quả chưa thật sự xảy ra nhưng vẫn được xem là hành vi vi phạm
pháp luật. Đây là hành vi đe dọa giết người được quy định tại Điều 103 Bộ luật
hình sự năm 1999. Như vậy thế nào là đe dọa giết người: “Đe dọa giết người được
hiểu là hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp làm cho người bị đe dọa biết được khả
năng tính mạng của mình bị đe dọa một cách chắc chắn, gây ảnh hưởng đến tinh
thần, sức khỏe, làm đảo lộn cuộc sống bình thường một cách trầm trọng. Người bị
đe dọa lo sợ rằng tính mạng của mình sẽ bị xâm phạm”. Hay nói một cách khác đe
dọa giết người là “Hành vi của một người bằng lời nói hành động hoặc những thủ
đoạn khác làm cho người bị đe dọa lo lắng rằng mình sẽ bị giết chết”.
1.3 Đặc điểm tội đe dọa giết người.
Như đã biết Luật hình sự Việt Nam từ trước đến nay đã thừa nhận nguyên tắc
hành vi. Chỉ bằng hành vi thì con người mới có thể phạm tội được. Tức là, chỉ có
thể thông qua hành vi con người mới có thể đe dọa gây ra những sự nguy hiểm
SVTH: Trần Thị Như
MSSV: 5062273
đặc điểm nói trên như sau:
Tính nguy hiểm cho xã hội.
Nguy hiểm cho xã hội là đe dọa gây ra thiệt hại cho quan hệ xã hội được pháp
luật hình sự bảo vệ. Đó là những quan hệ xã hội gắn liền với lợi ích nhà nước, lợi
ích công dân và xã hội có tính tương đối quan trọng và một khi có sự xâm hại có
thể gây ra thiệt hại hoặc ảnh hưởng đáng kể cho điều kiện tồn tại và phát triển của
xã hội. Điều 8 Bộ luật hình sự Việt Nam xác định những quan hệ xã hội đó là độc
lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ
kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, tính mạng sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã
hội chủ nghĩa. Hành vi bị đe dọa giết người được coi là tội phạm theo luật hình sự
Việt Nam phải là hành vi xâm phạm đến các quan hệ xã hội được xác định này.
Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đe dọa giết người hoàn toàn có tính
khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của cơ quan lập pháp cũng như
cơ quan giải thích và áp dụng pháp luật. Tính nguy hiểm cho xã hội là căn cứ phân
biệt hành vi phạm tội đe dọa giết người với các hành vi phạm tội khác và cũng là
cơ sở đánh giá mức độ nghiêm trọng nhiều hay ít của hành vi phạm tội khi xác định
trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi phạm tội. Với ý nghĩa là đặc điểm
khách quan của tội phạm, tính nguy hiểm cho xã hội hoàn toàn có thể nhận thức
được và nhận thức đúng. Do vậy, khi khẳng định một hành vi đe dọa giết người là
nguy hiểm cho xã hội thì đó không phải là sự áp đặt chủ quan của con người mà chỉ
SVTH: Trần Thị Như
MSSV: 5062273
10
Tội đe dọa giết người
- Mục đích, động cơ của người có hành vi phạm tội: mục đích, động cơ của
hành vi đe dọa giết người cũng là yếu tố ảnh hưởng lớn đến tính nguy hiểm cho xã
hội của hành vi đe dọa đó. Động cơ, mục đích của hành vi đe dọa càng đê hèn, xấu
xa thì tính nguy hiểm của hành vi càng cao.
- Hoàn cảnh chính trị xã hội lúc và nơi hành vi phạm tội xảy ra: điều kiện
khách quan hoặc chủ quan khi thực hiện hành vi đe dọa giết người càng dễ dàng thì
SVTH: Trần Thị Như
MSSV: 5062273
11
Tội đe dọa giết người
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
tính nguy hiểm của hành vi đe dọa đó càng cao. Bởi vì trong những điều kiện ấy
thiệt hại sẽ dễ dàng đạt đến mức tối đa.
- Nhân thân của người có hành vi phạm tội: hành vi của con người luôn có
mối quan hệ biện chứng với nhau. Chính vì vậy, tính nguy hiểm của hành vi đe dọa
giết người phụ thuộc một phần vào đặc tính xã hội của người thực hiện hành vi.
Cùng một hành vi đe dọa nhưng có thể ở người này là biểu hiện nhất thời, đột xuất
nhưng ở người kia là kết quả của một quá trình nhận thức và tính toán sâu sắc. Điều
này có ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi
đe dọa cũng như quyết tâm thực hiện hành vi đe dọa đó đến cùng. Nhân thân càng
xấu thì tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đe dọa đó càng cao. Chẳng hạn hành
vi đe dọa giết người của một người có trình độ học vấn lớp 3 sẽ nguy hiểm hơn
nhiều so với một người có trình độ học vấn Đại học. Vì vậy phải đánh giá đúng đắn
nhân thân khi xử lý thì việc áp dụng hình phạt mới đạt hiệu quả cao.
- Các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các tình tiết tăng nặng
khách quan và chủ quan của các hành vi phạm tội, xác định độ tuổi của người thực
hiện hành vi đó. Các dấu hiệu được mô tả phải cho phép phân biệt giữa loại tội
phạm này với loại tội phạm khác cũng như cho phép phân biệt giữa trường hợp là
tội phạm với trường hợp chưa là tội phạm mà chỉ là vi phạm đáng kể do chưa có
tính nguy hiểm đáng kể.
Đặc điểm trái pháp luật hình sự có nghĩa: Các hành vi đe dọa giết người chỉ có
thể là hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể được quy định
trong Bộ luật hình sự. Các dấu hiệu cấu thành tội phạm là những dấu hiệu có tính
đặc trưng, điển hình, vừa phản ánh đầy đủ bản chất xã hội của hành vi phạm tội. Do
vậy, hành vi phạm tội khi đã thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm thì
cũng có nghĩa hành vi đó có tính nguy hiểm và tính có lỗi của tội phạm. Tính trái
pháp luật hình sự của hành vi phạm tội là đặc điểm về hình thức, phản ánh tính
nguy hiểm cho xã hội và tính có lỗi là đặc điểm về nội dung của tội phạm nhưng
đặc điểm này vẫn có tính độc lập tương đối và có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là
đối với cơ quan áp dụng pháp luật.
Các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, khi xác định hành vi đe dọa giết người có
phải là tội phạm hay không đều bắt đầu từ khâu kiểm tra tính trái pháp luật hay nói
cách khác là kiểm tra xem hành vi đó có thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm
hay chưa. Như vậy tính trái pháp luật hình sự là đồng nhất với sự thỏa mãn các dấu
hiệu của cấu thành tội phạm. Từ đó có thể hiểu rằng cấu thành tội phạm là cơ sở
pháp lý của trách nhiệm hình sự, sự thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm
là điều kiện cần và đủ để khẳng định hành vi đe dọa giết người đó có phải là hành
vi phạm tội hay không. Trong một hành vi đe dọa giết người thì tính nguy hiểm cho
xã hội và tính trái pháp luật hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tính nguy
hiểm cho xã hội là thuộc tính khách quan biểu hiện bản chất chính trị xã hội. Tính
trái pháp luật hình sự là dấu hiệu kèm theo của tính nguy hiểm cho xã hội của hành
vi đe dọa.
Tính có lỗi
Lỗi là thái độ chủ quan của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của
mình và đối với hậu quả của hành vi đó thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý. Như
thành nên tội phạm. Tuy tính chịu hình phạt không phải là dấu hiệu bên trong của
tội phạm nhưng nó là hậu quả tất yếu của hành vi phạm tội, chỉ có tội phạm mới
phải chịu hình phạt và ngược lại. Tóm lại, hình phạt là dấu hiệu của tội phạm bởi
nó là thuộc tính khách quan của hành vi phạm tội, hình phạt luôn gắn liền với hành
vi phạm tội và chỉ có thể áp dụng hình phạt khi có hành vi phạm tội xảy ra.
1.4 Nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội đe dọa giết người.
Nguyên nhân và điều kiện là hai yếu tố cấu thành góp phần rất lớn cho hành vi
tội phạm được thực hiện. Nếu không có nguyên nhân và điều kiện để tội phạm phát
sinh, thì tình hình tội phạm nói chung và tội đe dọa giết người nói riêng sẽ không
xảy ra.
Nguyên nhân là những yếu tố trực tiếp làm phát sinh tội phạm. Điều kiện là
những yếu tố tuy không trực tiếp làm phát sinh tội phạm nhưng lại tạo điều kiện
cho tội phạm xảy ra một cách thuận lợi.
Tội phạm học liệt kê nhiều nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội nhưng
nguyên nhân lớn nhất dẫn đến hành vi phạm tội nói chung và tội đe dọa giết người
nói riêng là bắt nguồn từ môi trường xã hội, sự giáo dục tư cách và gia đình. Như
không khí gia đình không bình thường, giáo dục gia đình sai trái, trong gia đình có
SVTH: Trần Thị Như
MSSV: 5062273
14
Tội đe dọa giết người
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
tư tưởng tham lam, ích kỷ… Trong trường học thì kỷ luật không nghiêm, dạy chữ
và dạy đạo đức tách rời nhau, không quan tâm đến vấn đề giáo dục công dân,
chung và vấn đề tội phạm nói riêng. Tâm lý tư hữu, thói tham lam ích kỷ, vô tổ
chức coi thường pháp luật vốn là bạn đồng hành của nền sản xuất nhỏ. Nhưng hiện
SVTH: Trần Thị Như
MSSV: 5062273
15
Tội đe dọa giết người
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
nay, khi bước chân vào nền kinh tế thị trường chúng ta lại càng có nhiều điều kiện
phát triển. Bản chất của nền kinh tế thị trường là cạnh tranh và tìm kiếm lợi nhuận.
Cùng với những kích thích của lợi nhuận thì tâm lý làm giàu ngày càng ngự trị
trong đời sống xã hội. Có nhiều người làm giàu bằng con đường chính đáng, tuân
thủ pháp luật, nhưng cũng có những người tìm cách làm giàu bằng mọi giá bất chấp
pháp luật. Sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để có tiền tiêu sài mà không cần thiết đến
tính mạng sức khỏe của cá nhân khác. Vì vậy con đường dẫn đến tội phạm nói
chung và tội đe dọa giết người nói riêng là một tất yếu. Có 70% số đối tượng phạm
tội: phạm tội với mục đích kiếm tiền tiêu sài bản thân, xung đột mâu thuẫn cá nhân.
Vì vậy, theo tiếng gọi của đồng tiền người phạm tội sẵn sàng làm mọi việc bất chấp
đạo lý pháp luật để mưu cầu lợi ích cho bản thân.
Hành vi dẫn đến phạm tội nói chung và tội đe dọa giết người nói riêng là một
hiện tượng xã hội, nó bị tác động rất lớn bởi ý thức đạo đức. Ý thức đạo đức là sự
thể hiện những nguyên tắc, những chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh đánh giá các
hành vi ứng xử giữa con người với con người, con người với xã hội. Khác với ý
thức pháp quyền ý thức đạo đức xã hội điều chỉnh hành vi của con người bằng sức
mạnh của dư luận xã hội. Nhằm hướng hoạt động của con người vào những nguyên
tắc chuẩn mực đã được hình thành trong xã hội theo chiều hướng tích cực. Ý thức
phát từ sự ích kỉ ghen tuông mà bị cáo phải sa vào vòng lao lý. Anh Trần Anh Vũ
kết hôn cùng với chị Vũ Kim Oanh vào năm 2007 cuộc hôn nhân hạnh phúc kéo
dài được 2 năm thì gia đình chị Oanh và anh Vũ nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân
là trong thời gian chị Oanh mang thai thì anh Vũ có quan hệ qua lại bất chính với
người tình cũ là Nguyễn Kim Hoa. Do không chấp nhận được chuyện bị anh Vũ
phản bội hai người đã ra tòa ly dị. Chị Oanh dành quyền nuôi con, anh Vũ có quyền
thăm con và chu cấp số tiền nuôi con hàng tháng. Anh Vũ về chung sống với người
yêu cũ là Nguyễn Kim Hoa. Vì thương con nên anh Vũ thường xuyên lui tới nhà
chị Oanh hàng tuần, chính điều này đã làm cho Nguyễn Kim Hoa nghi ngờ ghen
tuông bệnh hoạn. Nguyễn Kim Hoa nổi điên vì biết anh Vũ rất thương con nhưng
không thể ngăn cấm bèn trút giận vào chị Oanh. Sau mỗi lần anh Vũ về thăm con
thì chị Oanh nhận được rất nhiều tin nhắn từ Kim Hoa với nội dung chửi rủa, hăm
dọa giết chết nếu còn lấy con ra để dụ dỗ anh Vũ. Nuyễn Kim Hoa còn đe dọa sẽ
giết chết con của chị Oanh nếu còn tiếp cận anh Vũ, cho người tạt sơn vào cửa nhà
chị Oanh với mục đích hù dọa. Chị Oanh rất lo lắng cho tính mạng của mình và
con, chị không dám bước ra khỏi nhà vì sợ sẽ bị giết thật. Chị Oanh biết Kim Hoa
có quan hệ với một số tay anh chị, chính vì điều này mà lúc trước anh Vũ không
dám bỏ cô ta. Sau đó vì sự an toàn của con, chị Oanh đã đến trình báo toàn bộ sự
việc với công an. Với những chứng cứ không thể chối cãi Nguyễn Kim Hoa đã thừa
nhận hành vi phạm tội của mình và sẽ bị truy tố theo Điều 103 Bộ luật hình sự.
Như vậy chỉ vì một phút ghen tuông mù quáng mà Nguyễn Kim Hoa phải trả một
giá đắt cho hành vi của mình. Đây cũng là một bài học cho cho những người như
anh Vũ, cần phải trân trọng hạnh phúc đã có để không phải hối tiếc về một gia đình
bị đổ vỡ, người tình phải sa vào vòng lao lý.
Môi trường hoàn cảnh xã hội và các điều kiện khác tác động lên làm sai lệch
nhân cách cá nhân, chuẩn mực của từng chủ thể cụ thể. Xã hội hiện nay phát triển
nóng và đa dạng nên sẽ kéo theo nhiều mầm móng tội phạm phát sinh. Ở đây hành
vi phạm tội cũng giống như các hành vi khác của con người suy cho cùng cũng là
sự tác động giữa cá nhân và hoàn cảnh sống bên ngoài. Thêm vào đó là sự phát
triển của kinh tế, diện mạo đô thị khởi sắc phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt.
6/3/2006 cường liên lạc với chị Lụa ra giá phải nộp cho hắn 10 triệu đồng nếu
không sẽ bị giết chết. Sau đó nhiều lần tên Cường chặn đường chị Lụa với tay lăm
le dao đe dọa sẽ giết chết nếu không nghe lời Cường. Thêm vào đó giờ giấc sinh
hoạt hàng ngày của chị Lụa tên Cường điều biết rất rõ. Chính điều này đã làm cho
chị Lụa vô cùng sợ hãi. Đến ngày 10/3 trong lúc nhận tiền từ tay chị Lụa tên Cường
đã bị bắt. Như vậy với hành vi đe dọa giết người của mình tên Cường đã thật sự
gây hoang mang lo sợ thật sự ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần và năng xuất
làm việc của chị Lụa, gây hoang mang trong cộng đồng dư luận. Mà nguyên nhân ở
đây lại xuất phát từ những điều rất nhỏ trong cuộc sống hằng ngày như mâu thuẩn,
tranh cãi…và thêm vào đó chính là sức mạnh của đồng tiền đã lôi cuốn người khác
phạm tội.
Trong quá trình khủng hoảng kinh tế không chỉ làm suy giảm tốc độ phát triển
của nền kinh tế mà kèm theo đó là sự phá sản của các doanh nghiệp dẫn tới đời
sống của công nhân khốn đốn, trụ cột của gia đình mất công việc dẫn đến gia đình
lục đục con cái không được chăm sóc, cuộc sống lâm vào túng quẫn dẫn đến hành
vi phạm tội phát sinh.
SVTH: Trần Thị Như
MSSV: 5062273
18
Tội đe dọa giết người
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
Ngoài ra nguyên nhân dẫn đến phạm tội đe dọa giết người thường bột phát. Bản
chất của bột phát là sự biến dạng trong quan điểm của cá nhân. Đôi khi nó được
hình thành do yếu tố tiêu cực trong môi trường sống hoặc hoàn cảnh giao tiếp cụ
hiếp dâm. Như vậy nguyên nhân của hành vi phạm tội có thể xuất phát từ nhiều
SVTH: Trần Thị Như
MSSV: 5062273
19
Tội đe dọa giết người
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
phía khác nhau làm phai mờ các giá trị đạo đức truyền thống, hành vi phạm tội của
Phan Văn Quí cũng vậy xuất phát từ sự sai lệch các giá trị chuẩn mực, vì lợi ích
của bản thân, vì đồng tiền hắn sẳn sàng ra tay vời một người đáng tuổi mẹ, chị của
mình, ở đây nguyên nhân phạm tội được hình thành từ sự dạy dỗ giáo dục của gia
đình người phạm tội không được chu đáo gián tiếp ảnh hưởng đến hành vi phạm tội
đe dọa giết người của bị cáo.
Hiện nay có nhiều quan điểm coi đặc điểm sinh học, quan hệ tâm sinh lý là yếu
tố quyết định đến tính chất nội dung của người phạm tội.
Tội phạm nói chung và tội đe dọa giết người nói riêng là một hiện tượng xã hội
mang tính chất hình sự pháp lý, bởi thế nó chịu sự tác động sâu sắc của ý thức pháp
quyền. Ý thức pháp quyền thể hiện ý chí của giai cấp thống trị xã hội, được thể
hiện bằng pháp luật nhằm điều chỉnh hành vi của cá nhân. Trong cộng đồng xã hội
nhất định sự điều chỉnh đó luôn mang tính cưỡng chế thông qua hệ thống pháp luật
của nhà nước. Trong một xã hội nếu có một hệ thống pháp luật đầy đủ, pháp luật
được thực hiện nghiêm minh mọi công dân đều có ý thức tuân thủ pháp luật thì sẽ
hạn chế được các hành vi phạm tội nói chung và tội đe dọa giết người nói riêng.
Ngược lại, pháp luật không đầy đủ thiếu đồng bộ, không được người dân tôn trọng
và thực hiện không nghiêm minh thì sẽ có nguy cơ làm tăng tình hình tội phạm.
Tội phạm là một hiện tượng xã hội có nguồn gốc từ xã hội, bởi thế nó chịu ảnh