TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011-2015)
ĐỀ TÀI:
TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC TRONG BỘ LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
TS. Phạm Văn Beo
Lâm Thị Trinh Nhân
MSSV: 5115915
Lớp: Luật tư pháp 2 – Khóa 37
CẦN THƠ - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong gần bốn năm đại học, mang bên mình những tình cảm gia đình, người thân
và bên cạnh đó là những tình yêu thương của quý Thầy Cô và bạn bè, đó là nghị lực giúp
em vượt qua những khó khăn trong thời gian hoàn thành khóa học.
Quan trọng hơn hết, trong khoảng thời gian học tập ở dưới mái trường Đại học
Cần Thơ và dưới ngôi nhà chung Khoa Luật em đã có những kiến thức vô cùng quý giá
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
……………………………………………………
Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2014
Giảng viên hướng dẫn
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
CQĐT: Cơ quan điều tra
CSĐT: Cảnh sát điều tra
CTTP: Cấu thành tội phạm
TAND: Tòa án nhân dân
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU.................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài................................................................................. 1
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài .................................................................................. 2
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.............................................................. 2
5. Bố cục của luận văn ........................................................................................................... 2
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI
KHÁC.............................................................................................................................. 3
1.1 Khái quát chung về tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người .................. 3
1.1.1 Khái niệm chung về tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của người khác ..... 3
1.1.1.1 Khái niệm về nhân phẩm, danh dự............................................................... 3
1.1.1.2 Khái niệm về tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm của con người ................ 5
1.1.1.3 Đặc điểm của tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người ...................... 6
1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm người khác ... 9
1.1.2.1 Mặt khách thể của các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm người khác…..9
1.1.2.2 Mặt khách quan của các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm người khác.... 9
1.1.2.3 Mặt chủ quan của các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm người khác ..... 10
1.1.2.4 Mặt chủ thể của các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm người khác ........ 11
1.2 Khái chung về tội làm nhục người khác ...................................................................... 13
1.2.1 Khái niệm về tội làm nhục người khác trong luật hình sự Việt Nam hiện
hành ........................................................................................................................... 13
1.2.1.1 Khái niệm hành vi làm nhục người khác.................................................... 13
2.3.2 So sánh tội làm nhục người khác với tội hành hạ người khác..................... 46
2.3.3 So sánh tội làm nhục người khác với tội bức tử............................................ 48
2.3.4 So sánh tội làm nhục người khác với các tội: tội làm nhục người chỉ huy
hoặc cấp trên, tội làm nhục cấp dưới và tội làm nhục đồng đội............................. 49
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI
LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC………………………………………………………………..51
3.1 Tình hình tội làm nhục người khác ở Việt Nam ................................................. 51
3.2 Bất cập trong việc xử lý tội làm nhục người khác .............................................. 55
3.2.1 Bất cập từ quy định của pháp luật hình sự..................................................... 55
3.2.2 Bất cập từ việc áp dụng pháp luật hình sự ..................................................... 57
3.2.3 Những bất cập khác ......................................................................................... 62
3.2.3.1 Bất cập về tâm lý xã hội, giáo dục đạo đức................................................ 62
3.2.3.2 Bất cập về công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ................ 63
3.2.3.3 Bất cập về công tác hoà giải ở cơ sở .......................................................... 65
3.2.3.4 Bất cập từ các cơ quan bảo vệ pháp luật .................................................... 65
3.3 Các giải pháp đấu tranh phòng, chống tội làm nhục người khác ..................... 66
3.3.1 Giải pháp về pháp luật hình sự ....................................................................... 66
3.3.2 Giải pháp áp dụng luật hình sự....................................................................... 69
3.3.3 Các giải pháp khác........................................................................................... 70
3.3.3.1 Đẩy mạnh việc nâng cao dân trí, giáo dục đạo đức, văn hóa, xây dựng lối
sống mới, tôn trọng nhân phẩm, danh dự của con người ....................................... 70
3.3.3.2 Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con
người và tội làm nhục người khác ......................................................................... 72
3.3.3.3 Nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở ............................................. 73
3.3.3.4 Nâng cao hiệu quả hoạt động của Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa
án về tội làm nhục người khác................................................................................ 74
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 79
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nội dung của đề tài là về mặt lý luận của tội làm nhục người khác là một trong
các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác. Người viết
chọn đề tài này với mục tiêu là nhằm hiểu sâu hơn về tội làm nhục người khác, từ đó
giúp ta tìm ra những bất cập và đóng góp xây dựng những bất cập đó. Đề ra những giải
pháp nhằm đấu tranh có hiệu quả trên thực tế và những giải pháp hoàn thiện hơn quy
định của pháp luật.
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
1
SVTH: Lâm Thị Trinh Nhân
Luận văn tốt nghiệp: Tội làm nhục người khác trong Bộ luật hình sự Việt Nam
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài ở hai góc độ là những quy định của pháp luật hình
sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng những quy định của tội làm nhục người
khác.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và pháp luật đấu tranh phòng
chống tội phạm nói chung và tội làm nhục người khác nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu như chứng minh vận dụng để đối chiếu với các quy
định của pháp luật có liên quan. Cùng với các phương pháp phân tích luật viết, so sánh,
tổng hợp, thống kê để trình bày các vấn đề hệ thống hơn và chính xác dễ hiểu.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần muc lục, lời mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, người viết đã chia
nhân dẫn đến tội phạm và con đường mà loại tội phạm này phát triển cũng như lịch sử
từ khi được pháp luật điều chỉnh đến ngày nay.
1.1 Khái quát chung về tội phạm xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người
1.1.1 Khái niệm chung về tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của người khác
1.1.1.1 Khái niệm về nhân phẩm, danh dự
Nhân cách, đạo đức, danh dự của một con người gọi chung là “nhân phẩm”.
Nhân phẩm là toàn bộ những phẩm chất mà mỗi con người có được. Nói cách khác,
nhân phẩm là giá trị làm người của mỗi con người, còn được gọi là phẩm giá. Người
có nhân phẩm là người có lương tâm, có nhu cầu vật chất và tinh thần lành mạnh, luôn
thực hiện tốt các nghĩa vụ đạo đức đối với xã hội và người khác, biết tôn trọng các quy
tắc, chuẩn mực đạo đức tiến bộ. Người có nhân phẩm được mọi người đánh giá cao và
được kính trọng. Người thiếu nhân phẩm hoặc tự đánh mất nhân phẩm sẽ bị xã hội đánh
giá thấp, bị coi thường và khinh rẻ, bị tố cáo và lên án.
Mỗi con người chúng ta luôn có những phẩm chất nhất định. Những phẩm chất
này làm nên giá trị của cá nhân. Đó là nhân phẩm. Một tự điển định nghĩa nhân phẩm là
“phẩm chất và giá trị con người”. Vì vậy, nhân phẩm bao hàm cách chúng ta nghĩ về
mình và cách người khác đối xử với chúng ta. Có nhiều nhân tố có thể ảnh hưởng đến
cảm nghĩ của chúng ta về bản thân. Trong đó, cách người khác suy nghĩ hoặc đối xử
với chúng ta tác động lớn đến cảm nhận của chúng ta về giá trị của mình trong đời sống
hằng ngày.
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
3
SVTH: Lâm Thị Trinh Nhân
Luận văn tốt nghiệp: Tội làm nhục người khác trong Bộ luật hình sự Việt Nam
Trong cuộc sống, đa số mọi người đều ý thức quan tâm, giữ gìn nhân phẩm của
lại có từ khi con người mới sinh ra. Danh dự có thể của một cá nhân hay tổ chức, nhưng
nhân phẩm chỉ là một khái niệm được áp dụng đối với cá nhân. Mặc dù danh dự của
một con người được hình thành từ những hành vi và cách cư xử, từ công lao và thành
tích của người đó có được qua nhiều năm tháng của cuộc đời và được thừa nhận, nhưng
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
4
SVTH: Lâm Thị Trinh Nhân
Luận văn tốt nghiệp: Tội làm nhục người khác trong Bộ luật hình sự Việt Nam
mọi người dân đều có quyền được bảo vệ danh dự và nhân phẩm như nhau không phân
biệt vào công lao, công tác và những đặc điểm riêng của người có quyền; những người
không có năng lực hành vi dân sự, những người mất năng lực hành vi dân sự cũng có
quyền bảo vệ danh dự và nhân phẩm như mọi cá nhân khác. Khi biết giữ gìn danh dự
của mình, các cá nhân có được sức mạnh tinh thần để làm điều tốt và không làm điều
xấu. Đó chính là ý nghĩa quan trọng của danh dự.1
Cũng giống như những quyền khác của con người, quyền được bảo vệ danh dự
và nhân phẩm của cá nhân chấm dứt khi cá nhân đó chết. Tuy nhiên, cũng có trường
hợp vì lợi ích của xã hội đòi hỏi phải phục hồi danh dự và nhân phẩm cho một cá nhân
mặc dù cá nhân đó đã chết.
Xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm thường thể hiện bằng cách: Dùng những
lời lẽ hoặc hành động có tính chất thóa mạ, khinh bỉ để làm nhục người khác hoặc gán
một sự kiện xấu xa cho người khác làm cho xã hội đánh giá sai hoặc hình dung sai về
người đó. Sự đánh giá sai sự thật không phụ thuộc vào việc người đưa ra những tin tức
đó vô tình hay cố ý. Tiêu chuẩn để đánh giá những sự việc nêu ra là xấu xa hay không
xấu xa là những nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, tính chất nghiêm
trọng của những tin tức đưa ra có thể khác nhau tùy theo nhân thân của người bị hại. Và
xã hội cũng như pháp luật cần có những biện pháp để bảo vệ nhân phẩm và danh dự
xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm;
không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm
phạm thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm”.3 Để thể chế hóa quy định của Hiến
pháp, Bộ luật hình sự năm 1999 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã xây
dựng một chương quy định những hành vi phạm tội cụ thể trên cơ sở kế thừa những
quy định của Bộ luật hình sự năm 1985, có sự phát triển về mặt kỹ thuật lập pháp và
tổng kết thực tiễn đấu tranh chống các tội phạm. Các quy định của tội phạm được xây
dựng với các dấu hiệu pháp lý đặc trưng, rõ ràng, các điều kiện cụ thể phù hợp với cách
phân loại tội phạm và tương ứng với mức và loại hình phạt thích đáng khi có sự xâm
phạm đến quyền được sống, quyền được bảo vệ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của
công dân.
Như vậy có thể hiểu, các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm của con người là
những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, do người có năng lực trách nhiệm hình sự
thực hiện một cách cố ý gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến quyền được tôn
trọng về nhân phẩm, danh dự của con người.
1.1.1.3 Đặc điểm của tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người
Cũng như những nhóm tội khác, nhóm tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm của
con người cũng có những đặc điểm của tội phạm như:
- Tính nguy hiểm cho xã hội
Tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất quyết định những
dấu hiệu khác của tội phạm.
Nguy hiểm cho xã hội với nội dung đầy đủ còn có nghĩa người có hành vi gây
thiệt hại hoặc đe doa gây thiệt hại cho danh dự, nhân phẩm của công dân phải có lỗi.
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội xâm phạm danh dự nhân phẩm của con người không
những là căn cứ để phân biệt hành vi là tội phạm với những hành vi vi phạm khác mà
còn là cơ sở để đánh gía mức độ nghiêm trọng nhiều hay ít của hành vi phạm tội và qua
đó giúp cho việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự được chính xác.
-
2
- Tính trái pháp luật hình sự
Việc quy định tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu của tội phạm không những
là cơ sở đảm bảo cho đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm được thống nhất, đảm
bảo quyền dân chủ của công dân khỏi bị xâm phạm bởi hành vi xử lý tùy tiện mà còn là
dộng lực thúc đẩy cơ quan lập pháp kịp thời bổ sung, sửa đổi luật theo sát sự thay đổi
của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội. Tính trái pháp luật hình sự tuy chỉ là dấu hiệu về
mặt hình thức pháp lí nhưng vẫn có tính độc lập tương đối và có ý nghĩa quan trọng.
Nếu bỏ qua tính trái pháp luật hình sự vì chỉ coi trọng tính nguy hiểm cho xã hội sẽ dẫn
đến việc tùy tiện trong việc định danh tội phạm. Nhưng nếu quá coi trọng tính trái pháp
luật hình sự sẽ dẫn đến tình trạng xác định tội phạm một cách hình thức, máy móc. Hai
dấu hiệu, tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự có mối quan hệ biện
chứng của mối quan hệ giữa nội dung và hình thức. Kết hợp tính nguy hiểm cho xã hội
và tính trái pháp luật hình sự mới có thể nhận thức được tính trái pháp luật hình sự một
cách đầy đủ.
- Tính phải chịu hình phạt
Tính chịu hình phạt được coi là dấu hiệu của tội phạm vì nó được xác định bởi
chính những thuộc tính khách quan bên trong tội phạm. Chỉ có hành vi phạm tội mới
4
TS, Phạm Văn Beo, Luật hình sự Việt Nam quyển 1 (phần chung), Nxb Chính chị quốc gia, Hà Nội, 2009,
tr.121.
5
Nguyễn Ngọc Hòa, Tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, NXb CAND, Hà Nội, 1991, tr.12
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
7
SVTH: Lâm Thị Trinh Nhân
-
Tội giao cấu với trẻ em;
-
Tội dâm ô đối với trẻ em;
-
Tội lây truyền HIV cho người khác;
-
Tội cố ý truyền HIV cho người khác;
-
Tội mua bán phụ nữ;
-
Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em;
-
Tội làm nhục người khác;
-
nhất từ 5 năm đến 20 năm.
1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm người khác
1.1.2.1 Mặt khách thể của các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm người khác
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội
phạm xâm hại. Theo luật hình sự Việt Nam, những quan hệ xã hội được coi là khách
thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội đã được xác định trong điều 8
BLHS. Tội phạm xâm phạm danh dự, nhân phẩm của con người đều gây thiệt hại hoặc
đe dọa gây thiệt hại đến danh dự và nhân phẩm người khác nhưng nội dung của sự gây
thiệt hại này hoàn toàn không giống nhau.7
Khách thể của nhóm tội này là một trong những khách thể quan trọng nhất trong
số các nhóm khách thể được luật hình sự bảo vệ. Đó là quyền được bảo vệ và tôn trọng
về danh dự, nhân phẩm. Mà đối tượng tác động ở đây là con người (đang sống). Có
nghĩa là con người đã bắt đầu sự sống: là thời điểm đứa trẻ được sinh ra và tồn tại độc
lập với người mẹ tiếp nhận những yếu tố vật chất (oxi, thức ăn…); thời điểm kết thúc
sự sống là thời điểm xảy ra cái chết về mặt sinh học (tắt thở, tim ngừng đập). Như vậy,
thai nhi và tử thi không phải là đối tượng tác động. Thai nhi gắn với sức khỏe của người
mẹ còn tử thi thì gắn với trật tự công cộng. Nếu đối tượng là người đã chết thì bị can, bị
cáo có thể phạm tội chưa đạt. Một số điều luật thì nhà làm luật còn mô tả độ tuổi đối
tượng tác động.
Ví dụ: giao cấu với tử thi không phải là tội hiếp dâm mà là tội xâm phạm trật tự
công cộng.
1.1.2.2 Mặt khách quan của các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm người khác
Bất cứ tội phạm nào kể cả tội phạm xâm phạm danh dự nhân phẩm con người
cũng đều có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài mà con người có thể trực
7
Nguyễn Ngọc Hòa, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, NXB CAND, Hà Nội, 2003, tr.62.
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
này không phải là dấu hiệu bắt buộc của tất cả các cấu thành tội phạm của nhóm tội này
nên không bắt buộc hậu quả xảy ra.
Các dấu hiệu khác như công cụ, phương tiện phạm tội, thời gian, địa điểm không
là dấu hiệu bắt buộc trong các cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm danh dự, nhân
phẩm, các dấu hiệu này thường được xác định làm dấu hiệu định khung tăng nặng của
những tội phạm cụ thể.
1.1.2.3 Mặt chủ quan của các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm người khác
Lỗi của cấu thành tội phạm của tất cả các cấu thành tội phạm của nhóm tội này
đều là lỗi cố ý (trực tiếp). Lỗi cố ý là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
10
SVTH: Lâm Thị Trinh Nhân
Luận văn tốt nghiệp: Tội làm nhục người khác trong Bộ luật hình sự Việt Nam
nguy hiểm của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra (Điều 9 BLHS). Từ định
nghĩa này có thể rút ra những dấu hiệu sau của lỗi cố ý trực tiếp:
- Về lí trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành
vi của mình và thấy trước hậu quả của hành vi đó.
- Về ý chí: người phạm tội mong muốn hậu quả phát sinh.
Ở các nhóm tội khác có cấu thành tội phạm vật chất, hậu quả của tội phạm là dấu
hiệu bắt buộc cho nên người cố ý trực tiếp phạm tội không những nhận thức được tính
chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình mà ngay khi thực hiện hành vi cũng đã
thấy trước hậu quả của nó. Việc kiểm tra ý chí của người phạm tội đối với hậu quả đã
thấy trước là điều cần thiết để cá thể khẳng định được có cố ý trực tiếp hay không.
Ở nhóm tội xâm phạm danh dự nhân phẩm thuộc nhóm tội có cấu thành tội
SVTH: Lâm Thị Trinh Nhân
Luận văn tốt nghiệp: Tội làm nhục người khác trong Bộ luật hình sự Việt Nam
Người có đủ điều kiện để có lỗi, để có thể trở thành của thể của tội phạm phải là
người có năng lực trách nhiệm hình sự. Đó là năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội
của hành vi theo đòi hỏi tất yếu của xã hội.
Chủ thể của tội xâm phạm danh dự nhân phẩm công dân là người có năng lực
trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội xúc phạm
danh dự nhân phẩm công dân.
- Năng lực trách nhiệm hình sự
Người có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam là người đã
đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12 BLHS) và không thuộc trường hợp ở
trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 13 BLHS).
Nhưng vấn đề năng lực trách nhiệm hình sự trong tình trạng say rượu hoặc chất
kích thích mạnh khác thì pháp luật hình sự quy định: “Người phạm tội trong tình trạng
say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình
sự”. Như vậy, ta có thể thấy được tính nghiêm minh của pháp luật, người phạm tội
không thể lợi dụng tình trạng say mà xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác để
không phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Con người không phải bẩm sinh đã có năng lực trách nhiệm hình sự. Năng lực
trách nhiệm hình sự là năng lực của tự ý thức được hình thành trong quá trình phát triển
của cá thể về mặt tự nhiên và xã hội. “Chỉ trong tự ý thức, con người mới tách mình và
tự độc lập với thế giới xung quanh, xác định vị trí của mình trong quan hệ tự nhiên và
xã hội. Từ đó hình thành nên những cá nhân, chịu trách nhiệm về hành vi của mình”.9
Ở Việt Nam, căn cứ vào thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm và trên cơ sở
tham khảo kinh nghiệm của các nước khác, Nhà nước ta đã xác định trong BLHS tuổi
14 là tuổi bắt đầu có năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi 16 là tuổi năng lực trách
người khác vì hành vi đó xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự của nạn nhân. Nếu chỉ là
những lời lẽ hành động có tính chất thiếu văn hóa như chửi rủa nhau ở đám đông, đổ
nước bẩn vào nhau hoặc trong quán nhậu cãi nhau rồi hắt bia, rượu vào mặt nhau thì
không phải là tội phạm, mà tùy trường hợp có thể bị xử phạt hành chính. Nhưng hành
vi đó còn phát triển mạnh hơn, làm xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm danh dự
của đối phương thì có thể sẽ trở thành tội phạm của tội làm nhục người khác.
Như vậy, làm nhục người khác là hành vi xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân
phẩm của người khác bằng lời nói, bằng hành động, sức mạnh, uy quyền.
1.2.1.2 Khái niệm tội làm nhục người khác
Tội làm nhục người khác có mối quan hệ chặt chẽ với danh dự, nhân phẩm con
người. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, con người là vốn quý nhất. Đối với con người,
chẳng những tính mạng, sức khỏe là vô giá mà danh dự, nhân phẩm cũng không kém
phần quan trọng. Quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con
người đều rất thân thiết đối với con người và là những quyền quan trọng nhất trong các
quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận và bảo hộ. Điều 20 Hiến pháp
năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp
luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức,
nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm.” “Danh dự là phạm trù đạo đức chỉ lòng tôn trọng của con người trong mọi
cử chỉ, hành vi của mình”.10 Nhân phẩm là giá trị của mỗi con người. Đây là thuộc tính
chung của tất cả các cá nhân trong cộng đồng nhân loại, không dựa trên bất kỳ sự phân
biệt hay khác biệt nào về địa vị xã hội, kinh tế, chính trị, chủng tộc, tôn giáo, dân tộc,
giới tính… Nhân phẩm và danh dự của con người chính là những cái làm nên sự khác
biệt và cũng là bước tiến vượt bậc của con người với phần còn lại của giới tự nhiên. Vì
10
Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển
bách khoa, 2011, tr.647.
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
nhóm tội xâm phạm danh dự và nhân phẩm của con người. Các tội xâm phạm danh dự
nhân phẩm là hành vi cố ý xâm phạm đến quyền được tôn trọng về nhân phẩm, danh
dự. Những tội này được quy định từ Điều 93 đến Điều 122 thuộc chương XII, BLHS
năm 1999. Trong đó tội làm nhục người khác được quy định tại Điều 121. Ngoài những
đặc điểm chung như tính nguy hiểm cho xã hội, tính trái pháp luật hình sự, tính có lỗi
và tính chịu hình phạt thì tội làm nhục người khác có những đặc điểm riêng sau:
- Hành vi của tội làm nhục đều được thể hiện dưới dạng hành động hoặc cụ thể
hơn là qua hành vi bất kỳ có tính xúc phạm danh dự, nhân phẩm nghiêm trọng nhằm
11
Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội (2003), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần riêng), Nxb Đại học quốc
gia, Hà Nội.
12
Phạm Văn Beo, Luật hình sự Việt Nam, quyển 2- phần các tội phạm, Nxb Chính trị quốc gia- sự thật, Hà Nội,
2012, trang 174.
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
14
SVTH: Lâm Thị Trinh Nhân
Luận văn tốt nghiệp: Tội làm nhục người khác trong Bộ luật hình sự Việt Nam
nhục mạ người khác. Thế giới quan vật chất của chủ nghĩa Mác- Lênin khẳng định:
“Lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất”. C.Mác cũng từng
viết: “ngoài hành vi của mình ra tôi hoàn toàn không tồn tại đối với pháp luật, hoàn
toàn không phải là đối tượng của nó. Trên cơ sở đó, Luật hình sự Việt Nam từ trước
đến nay đã thừa nhận “nguyên tắc hành vi”. Chỉ bằng hành vi, con người mới có thể
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
15
SVTH: Lâm Thị Trinh Nhân
Luận văn tốt nghiệp: Tội làm nhục người khác trong Bộ luật hình sự Việt Nam
có tác dụng vận động nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh, phòng chống hành vi làm
nhục người khác trong tình hình hiện nay, góp phần chặn đứng và đẩy lùi hành vi này.
1.2.3 Nguyên nhân của tội làm nhục người khác
Việc làm nhục người khác đã xuất hiện và tồn tại rất lâu trong lịch sử. Qua các
giai đoạn của lịch sử, giai cấp bị trị thường là đối tượng của hành vi làm nhục người
khác, vì trong giai đoạn này pháp luật chủ yếu là bảo vệ giai cấp thống trị. Trong xã
hội, giá trị của những thường dân rất thấp. Họ thường bị làm nhục do giai cấp thống trị.
Quyền được bảo vệ về danh dự nhân phẩm của giai cấp bị trị gần như không có. Hiện
nay giá trị con người đang được nâng cao, giá trị nhân phẩm và danh dự con người
đang được quan tâm nhiều hơn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người có những hành vi làm
nhục người khác một cách tàn bạo và nhẫn tâm. Điều đó xuất phát từ nhiều nguyên
nhân khác nhau, có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.
Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, do ảnh hưởng từ tư tưởng của các giai đoạn lịch sử trước một số người
vẫn có suy nghĩ trả thù tinh thần người khác bằng những hành vi làm nhục như lột quần
áo, tung hình ảnh bêu xấu… là không phạm tội, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thứ hai, thêm vào đó là từ ý thức cái tôi của mỗi người trong cuộc sống hiện nay
là rất lớn. Khi có một yếu tố tác động đến ý thức và vật chất của họ thì cái tôi ấy lại trỗi
dậy vô cùng mạnh mẽ. Con người vô tình để cái tôi to lớn đó khống chế, có những hành
vi trả thù người khác trở nên lạnh lùng hơn. Không đến mức phạm tội giết người nhưng
họ muốn đối phương trở thành một người sống dở chết dở bởi hành vi bị làm nhục
trước đám đông. Người thực hiện hành vi làm nhục đó ngoài mục đích trả thù người
nhục.
Thứ hai, hành vi làm nhục người khác trong xã hội đang diễn ra ngày càng phức
tạp theo hướng tha hóa đạo đức, ảnh hưởng đến nét đẹp truyền thống trong văn hóa ứng
xử giữa người với người. Không ít ý kiến cho rằng, sự gia tăng tội phạm nói chung và
tội làm nhục người khác nói riêng do nguyên nhân xã hội là mặt trái của nền kinh tế thị
trường, con người chạy theo đồng tiền vật chất mà bỏ quên giá trị nhân phẩm danh dự
của mình cũng như của người khác. Cách nhìn nhận này dễ nảy sinh tâm lý chấp nhận ở
một mức độ nào đó những hiện tượng tiêu cực trong xã hội hiện nay và khó tìm được
giải pháp khả thi để khắc phục. Thật ra nền kinh tế thị trường không trực tiếp tạo ra tội
phạm, mà chính những người sống trong môi trường đó, khi không được rèn luyện để
có kỹ năng ứng phó hiệu quả với những tình huống phức tạp, dễ gây căng thẳng và nảy
sinh hành vi phạm tội.13
Ngoài ra áp lực của nền kinh tế thị trường cũng ảnh hưởng không nhỏ đến xã
hội. Một số người vì áp lực của sự thù hằn, giận dữ đã giải tỏa căng thẳng của mình
theo hướng tiêu cực như trả thù bằng cách lột quần áo kẻ đó giữa đám đông rồi chụp lại
ảnh, tung lên mạng xã hội nhằm bêu xấu.
Thứ ba, cùng với xu hướng hòa nhập quốc tế, các văn hóa phẩm có nội dung
xấu, các trò chơi bạo lực được du nhập vào nước ta bằng nhiều con đường khác nhau
nhưng chúng mang lại cùng một ảnh hưởng đối với người dân đó là tính bạo lực, thích
nhục mạ người khác, ý thức xem thường pháp luật tăng cao. Truyền thống nhân đạo
luôn là niềm tự hào dân tộc đang dần bị mai một bởi ý chí coi trọng giá trị vật chất hơn
giá trị tinh thần của một số bộ phận người hiện nay. Giới trẻ hiện nay đã và đang quay
lưng với những truyền thống văn hóa dân tộc tốt đẹp, đua đòi theo lối sống hiện đại
cũng là một nguyên nhân dẫn đến tội phạm gia tăng.
13
Lê Thanh Hương, Hành vi phạm tội nhìn từ nguyên nhân xã hội,
http://www.nhandan.org.vn/mobile/_mobile_ndct/_mobile_anninhxahoi/item/19655602.html [truy cập ngày
12/8/2014]