TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 32 (2006 – 2010)
TỘI LÀM LÂY LAN DỊCH BỆNH NGUY HIỂM CHO
NGƯỜI TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Giảng viên hướng dẫn:
TS. Phạm Văn Beo
Sinh viên thực hiện:
Trần Minh Muội
MSSV: 5062266
Lớp: Luật tư pháp- K32
Cần Thơ, tháng 11/2009
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
.............................................................................
................................................................................
................................................................................
................................................................................
................................................................................
................................................................................
MỤC LỤC
Trang
PHẦN GIỚI THIỆU
LỜI NÓI ĐẦU............................................................................................... 1
1 . Tình thế cấp thiết.............................................................................................1
2 . Mục tiêu và phạm vi nghên cứu .......................................................................2
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài.........................................................................2
4. Bố cục luận văn ................................................................................................2
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1................................................................................................... 4
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI LÀM LÂY LAN DỊCH BỆNH
NGUY HIỂM CHO NGƯỜI ..............................................................................4
1.1. Khái quát chung tội phạm về môi trường ........................................................4
1.1.1. Khái niệm tội phạm môi trường ................................................................5
1.1.2. Các quy định về tội phạm môi trường trong luật hình sự Việt Nam...........5
1.1.2.1. Trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985 ...............................................5
1.1.2.2. Trong Bộ luật hình sự năm 1985 ..........................................................8
1.1.2.2. Trong Bộ luật hình sự năm 1999 ........................................................10
1.1.2.3. Cơ sở khoa học và pháp lý để hình thành chương tội phạm môi
trường ....................................................................................................................12
1.1.3. Pháp luật hình sự của một số nước đối với tội phạm môi trường ..............14
1.1.3.1. Quy định của Singpore.......................................................................14
1.1.3.2. Quy định của Liên bang Nga..............................................................18
1.2. Khái quát về tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người ........................21
1.2.1. Khái niệm về tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người .................21
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
2.4.1. Hình phạt bổ sung.................................................................................42
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
SVTH: Trần Minh Muội
Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành
CHƯƠNG 3................................................................................................. 44
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA TỘI LÀM LÂY LAN DỊCH
BỆNH NGUY HIỂM CHO NGƯỜI ...............................................................44
3.1. Tình hình tội phạm môi trường và tội làm lây lan dịch bệnh nguy biểm cho
người trong phạm vi cả nước ............................................................................44
3.2. Tình hình tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người ở một số địa
phương ..............................................................................................................45
3.3. Những bất cập và nguyên nhân trong hướng xử lý tội phạm làm lây lan
dịch bệnh nguy hiểm cho người..........................................................................46
3.4. Các giải pháp nhằm phòng chống tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho
người..................................................................................................................49
KẾT LUẬN CHUNG .............................................................................. 54
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
SVTH: Trần Minh Muội
Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành
1
SVTH: Trần Minh Muội
Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành
2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu.
Nội dung của đề tài luận văn mang tính nghiên cứu những vấn đề về tội làm lây
lan dịch bệnh nguy hiểm cho người được quy định tại Điều 186 Bộ luật hình sự Việt
Nam năm 1999 và có tham khảo Bộ luật hình năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm
2009 trong khoảng thời gian từ tháng tám đến đầu tháng 11, nguyên nhân dẫn đến tình
trạng trên quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội làm lây lan dịch
bệnh nguy hiểm cho người cũng như thực trạng tình hình tội phạm này xãy ra ở nước ta
trong những năm qua. Từ đó thấy được những hạn chế và bất cập trong việc xử lý cũng
như đấu tranh phòng chống tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người,đưa ra
những giải pháp thiết thực nhằm phòng ngừa, hạn chế tình trạng tội làm lây lan dịch
bệnh nguy hiểm cho người.
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài.
Để hoàn thành được nội dung của luận văn này, người viết đã sử dụng các
phương pháp sau:
Phương pháp phân tích luật viết được dung để tìm hiểu các quy định của pháp
luật Việt Nam hiện hành.
Phương pháp so sánh để đối chiếu với các quy định của pháp luật có liên quan.
Xin chân thành cảm ơn!
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
3
SVTH: Trần Minh Muội
Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI LÀM LÂY LAN DỊCH
BỆNH NGUY HIỂM CHO NGƯỜI.
1.1. Khái quát chung về tội phạm môi trường.
Kể từ những năm 90 của thế kỷ XX, mặc dù chiến tranh lạnh và xu thế đối đầu
trên thế giới đã chấm dứt, nhưng cộng đồng quốc tế lại phải đối mặt với một thách thức
mới - sự hủy hoại nghiêm trọng đến mức báo động an toàn sinh thái trên trái đất, mà
hậu quả khủng khiếp của nó không kém phần nguy hiểm hơn chiến tranh hạt nhân và
thậm chí, cho đến nay, vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu nào có thể ngăn chặn được.
Chẳng hạn, chúng ta có thể ngăn chặn chiến tranh, giải quyết các cuộc xung đột vũ
trang khu vực hoặc quốc tế bằng con đường đàm phán về chính trị, ngoại giao…nhưng
thảm họa về môi trường - mặt trái của quá trình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và
công nghệ, thì khó có khả năng ngăn chặn. Chính vì vậy, năm 1992 tác giả Sarôn
Bergli trong một bài viết đăng trên tạp chí “Nuixuic” đã cảnh báo cho chúng ta biết
trước về thảm họa nghiêm trọng của sự hủy diệt môi trườn rằng:” Hằng ngày trên thế
giới có 42 triệu acre ( 1acre =0,4047 ha ) rừng bị hủy diệt, và sau 47 năm nữa thì rừng
trên trái đất sẽ không còn….Tới năm 2020 các nguồn dự trữ khoáng sản có ích và các
nhiên liệu khác sẽ giảm đến mức chỉ còn đủ dùng trong 30 năm…vào khoảng năm
2100 thì thế giới sẽ bị hủy diệt.
hình sự bảo vệ.
Ở đây, cần lưu ý rằng: không phải tất cả các cấu thành tội phạm có khách thể bị
xâm hại là các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể và cần phải đưa vào nhóm các tội
phạm về môi trường. Chỉ coi là tội phạm môi trường khi tội phạm đó xâm phạm đến
yếu tố tự nhiên nằm trong mối quan hệ không thể tách rời với môi trường tự nhiên bao
quanh. Ở ý nghĩa đó không coi là tội phạm về môi trường các hành vi (cấu thành) như
mua bán, trao đổi những bộ da, bộ lông của những con thú có bộ lông, bộ da quý, hành
vi đối xử tàn ác với các động vật nuôi trong nhà…
1.1.2. Các quy định về tội phạm môi trường trong luật hình sự Việt Nam.
1.1.2.1. Trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985.
Trong giai đoạn này, do đặc điểm hoàn cảnh lịch sử vừa trải qua chiến tranh,
mới giành được độc lập dân tộc, nên những quy định của pháp luật về bảo vệ môi
trường chưa được chú trọng nhiều. Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước,
chúng ta lại tập trung vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế-xã hội
1
TS.Phạm Văn Lợi – Tội phạm về môi trường một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Trang 95.
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
5
SVTH: Trần Minh Muội
Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành
để thoát ra khỏi sự khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng, vì vấn đề môi trường chưa
6
SVTH: Trần Minh Muội
Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành
hoạt…như các hành vi đốt, làm cháy phá hoại nhà máy, hầm lò, nguồn nứơc.v.v…đều
có thể áp dụng các quy định trên. Các hành vi đó một mặt xâm hại đến tài sản xã hội
chủ nghĩa, mặt khác xâm hại đến môi trường sản xuất và sinh hoạt.
Ngày 06-9-1972, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh quy định việc
bảo vệ rừng. Theo Pháp lệnh này thì tất cả các hành vi gây thiệt hại đến rừng đều bị
nghiêm cấm và chịu hình phạt nghiêm khắc. Cụ thể tại chương II - Những biện pháp
bảo vệ rừng, Pháp lệnh quy định: Cấm phá rừng. Những rừng tự nhiên và rừng trồng
đều phải được bảo vệ nghiêm ngặt (Điều 3); Cấm mọi hành vi chặt cây rừng trái với
các quy định của nhà nước (Điều 4). Chính phủ quy định những khu rừng cấm nhằm
bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ di tích lịch sử, bảo vệ sức khỏe, nghiên cứu khoa học hoặc
phục vụ các lợi ích đặc biệt khác. Ở những khu rừng này, cấm chặt cây, trừ trường hợp
để dọn rừng và tu bổ rừng, cấm săn bắn chim muông, thú rừng (Điều 5); Cấm phát
rừng, đốt rừng để làm nương rẫy (Điều 6)…
Để nghiêm trị những hành vi kể trên, Pháp lệnh quy định các hình phạt khá
nghiêm khắc. Điều 21 Pháp lệnh quy định người nào vi phạm một trong những điều
trên hoặc tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản mà không gây thiệt hại lớn
đến tài nguyên rừng thì bị cảnh cáo hoặc bị phạt tiền từ 1 đồng đến 200 đồng. Cơ quan
kiểm lâm nhân dân huyện có quyền cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 100 đồng.
Điều 22 pháp lệnh quy định nếu người nào vi phạm một trong những điều trên
hoặc tàn trữ, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản, gây thiệt hại lớn đến tài nguyên
rừng hoặc đã bị xử phạt mà còn vi phạm thì bị tuy tố trước tòa án nhân dân và có thể bị
phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm và phạt tiền từ 200 đồng đến 2.000 đồng, hoặc một trong
hai hình phạt đó.
người đã phải trả giá bằng những trận bảo, lũ tàn khóc, khí hậu có nhiều biến đổi thất
thường trên toàn thế giới.
Bảo vệ môi trường trở thành một nhiệm vụ chiến lược để bảo đảm cho sự ổn
định, phát triển bền vững của đất nước. Trên cơ sở hiến định, Nhà nước ta đã quy định
vấn đề bảo vệ môi trường trong Bộ luật hình sự năm 1985. Bộ luật hình sự năm 1985
đã coi một số hành vi xâm hại đến các yếu tố của môi trường gây hậu quả nghiêm
trọng là tội phạm và cá nhân vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.Việc nhà nước
đã hình sự hóa những hành vi nguy hiểm xâm hại đến môi trường thể hiện nhận thức
đúng đắn của Đảng, Nhà nước về những hậu quả do việc môi trường bị suy thoái, ô
nhiễm gây ra, thể hiện thái độ kiên quyết của Nhà nước trong việc đấu tranh với các
hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, gây ra hậu quả nghiêm trọng sẽ chịu
trách nhiệm hình sự - trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất của Nhà nước, tương ứng
với những hành vi nguy hiểm đã gây ra. Trong Bộ luật này, lần đầu tiên các quy định
về tội phạm môi trường được ghi nhận khá tổng quát.
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
8
SVTH: Trần Minh Muội
Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành
Chương VIII “Các tội xâm phạm an toàn, trât tự công cộng và trật tự quản lý
hành chính” và chương VII “các tội phạm về kinh tế” đã ghi nhận một số tội phạm cụ
thể về môi trường, cụ thể là2:
Điều 180: Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai;
Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985.
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
9
SVTH: Trần Minh Muội
Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành
Hình phạt được quy định với nhiều mức khác nhau tùy vào tính chất, mức độ
nguy hiểm của hành vi và hậu quả do hành vi nguy hiểm gây ra, có thể là phạt cảnh
cáo, cải tạo không giam giữ, phạt tù đến 10 năm.
Trong một thời gian dài ( 1985 -1999), các quy định này cùng với các quy định
trong các lĩnh vực chuyên ngành pháp luật về đất đai, tài nguyên thiên nhiên, về quản
lý và bảo vệ các thành tố khác của môi trường…đã góp phần đáng kể trong việc răn đe
và trừng trị các tội xâm hại môi trường nói chung, đấu tranh phòng chống tội phạm về
môi trường nói riêng.
Tuy nhiên, các điều luật quy định về tội phạm môi trường trong Bộ luật hình sự
năm 1985 do những hạn chế về mặt lập pháp và do sự thay đổi nhanh chóng của điều
kiện kinh tế - xã hội cũng như những đòi hỏi, yêu cầu mới của việc bảo vệ môi trường
nên đã bộc lộ một số nhược điểm nhất định, cần phải được thay thế bằng những điều
luật mới, phù hợp hơn.
1.1.2.3. Trong Bộ luật hình sự năm 1999.
Ngày nay, vấn đề bảo vệ môi trường ngày càng được quan tâm. Môi trường với
các yếu tố tạo thành (bao gồm: không khí, nước, đất, âm thanh…) được nhận thức là
các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh
hành chính về bảo vệ môi trường;
Thông tư số 2433/TT-KCM ngày 03-10-1996 của Bộ khoa học - công nghệ và
Môi trường hướng dẫn thi hành nghị định số 26/CP
Trước những yêu cầu mới và để phù hợp với quy định về bảo vệ môi trường trong
các lĩnh vực chuyên ngành nêu trên, việc bảo vệ môi trường trong pháp luật hình sự đã
được đặc biệt coi trọng và ghi nhận tại Chương XVII của Bộ luật hình sự năm 1999 với
10 điều luật quy định khá cụ thể và chi tiết các hành vi xâm hại đến môi trường. Cụ thể
là:
Tội gây ô nhiễm không khí ( Điều 182)
Tội gây ô nhiễm nguồn nước (Điều 183)
Tội gây ô nhiễm đất (Điều 184)
Tội nhập khẩu công nghệ, máy móc thếit bị, phế thải không bảo đảm tiêu chụẩn
bảo vệ môi trường (Điều 185)
Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người (Điều 186)
Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật (Điều 187)
thế cơ bản các quy định về các tội phạm môi trường trong Bộ luật hình sự năm 1985.
Đồng thời, bổ sung thêm một số tội danh mới xuất hiện trong thời gian gần đây, thể
hiện sự quan tâm đúng mức của Đảng và Nhà nước trước thực trạng môi trường tiếp
tục bị suy thoái, ô nhiễm tới mức độ cao; thể hiện thái độ kiên quyết, xử lý kịp thời,
nghiêm khắc đối với các hành vi làm suy thoái, ô nhiễm môi trường, xâm hại đến các
yếu tố của môi trường thiên nhiên. Qua đó, có thể thấy rằng chế định tôi phạm về môi
trường đã được cũng cố thêm một bước góp phần vào cuộc đấu tranh phòng ngừa, ngăn
chặn và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi
trường.
1.1.2.4. Cơ sở khoa học pháp lý để hình thành chương tội phạm môi trường.
Cơ sở khoa học môi trường:
Chương các tội phạm về môi trường đã được xây dựng dựa trên những cơ sở
khoa học môi trường sau:
Hoạt động của con người là tác nhân chính gây ô nhiễm và suy thoái môi
trường, nhưng chính con người cũng có thể ngăn chặn hoặc làm giảm mức độ tai hại do
sự ô nhiễm và suy thoái đó gây ra.
Môi trường là một tổng thể thống nhất cho nên một hành vi có thể đồng thời gây
nguy hại cho nhiều thành phần môi trường .VD: Thả chất thải độc hại, trái phép vào
môi trường có thể cùng lúc gây ô nhiễm cho đất nước và không khí.
Môi trường không có biên giới cho nên hành vi gây hại cho môi trường là rất
khó kiểm soát. Chính vì vậy mà lấy phương châm phòng ngừa là chính, đồng thời xử lý
nghiêm những trường hợp đã bị phát hiện được.
Hậu quả của ô nhiễm và suy thoái môi trường là rất nghiêm trọng và lâu dài.
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
12
Về yếu tố định tội: Xuất phát từ quan điểm coi phòng ngừa là chính và việc truy
cứu trách nhiệm hình sự chỉ là biện pháp cuối cùng cho nên hầu hết các Điều luật trong
chương đều quy định chỉ coi những hành vi kể trên là tội phạm nếu gây hậu quả
nghiêm trọng hoặc sau khi đã bị xử phạt hành chính mà còn cố tình không áp dụng
những biện pháp khắc phục quyết định của cơ quan có thẩm quyền gây hậu quả nghiêm
trọng hoặc sau khi bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm. Điều này có nghĩa là, người
thực hiện hành vi đã bị xử phạt hành chính, chưa hết thời hạn 1 năm mà cố tình không
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
13
SVTH: Trần Minh Muội
Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành
thực hiện các biện pháp khắc phục như lắp đặt hệ thống chống ô nhiễm hoặc phá bỏ
nguồn gây ô nhiễm môi trường gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành
chính về hành vi đó chưa hết htời hạn 1 năm nói trên mà lại vi phạm lần nữa thì bị coi
là phạm tội. Quy định vậy là xuất phát từ thực tiễn của Việt Nam khi nhiều cơ sở sản
xuất kinh doanh vẫn phải sử dụng các dây chuyền công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm
nhưng lại chưa có điều kiện để thay đổi dây chuyền công nghệ mới hay lắp đặt hệ
thống xử lý chất thải nói chung và khí thải nói riêng. Đối với những cơ sở này cần phải
cho họ một thời gian nhất định.
Trong các yếu tố định tội, thì yếu tố gây hậu quả nghiêm trọng là đáng chú ý
nhất, hậu quả quy định trong các tội về môi trường có thể bao gồm: hậu quả gây cho
bản thân môi trường như gây ô nhiễm, suy thoái hoặc sự cố môi trường; hậu quả gây
cho sức khỏe, tính mạng của con người; hậu quả gây thiệt hại về tài sản, kể cả chi phí
khắc phục hậu quả mà hành vi phạm tội gây ra đối với môi trường.
Singapore, đó là: các đạo luật liên quan đến môi trường và các biện pháp thi hành các
chế tài dân sự, hành chính và tăng cường áp dụng các biện pháp hình sự đối với các vi
phạm pháp luật về môi trường.
1. Nhằm bảo đảm cho việc kiểm soát và bảo vệ môi trường ở Singapore, một loạt các
văn bản liên quan đến pháp luật về môi trường được ban hành, bao gồm:
Đạo luật về môi trường và sức khoẻ cộng đồng: Đạo luật này bao hàm các vấn đề về
tiếng ồn, vệ sinh công cộng, chất thải rắn, chất thải độc hại và việc kiểm soát kinh
doanh thực phẩm, chôn cất, hoả táng cũng như quản lý các bể bơi. Để thi hành Đạo luật
này có 14 văn bản hướng dẫn thi hành.
Đạo luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường: Đạo luật này điều chỉnh các vấn đề liên
quan đến việc kiểm soát ô nhiễm môi trường và các hoạt động có mục đích liên quan
đến việc kiểm soát ô nhiễm môi trường.
Đạo luật về hệ thống cống tiêu thoát nước: Đạo luật này được ban hành nhằm điều
chỉnh việc xây dựng, duy trì và cải tạo nâng cấp các hệ thống cống rãnh và hệ thống
tiêu thoát nước dưới mặt đất điều chỉnh việc xử lý nước thải thương mại cũng như các
vấn đề liên quan đến các hoạt động nêu trên.
Đạo luật về xuất nhập khẩu, quá cảnh chất thải nguy hiểm: Đạo luật này điều chỉnh
việc xuất nhập khẩu và quá cảnh chất thải nguy hiểm và các chất khí thải khác.
2. Để đảm bảo cho các đạo luật có hiệu lực thi hành trên thực tế, thì các biện pháp
cưỡng chế là không thể thiếu, do đó pháp luật về môi trường của Singapore cũng đã đặt
ra các biện pháp cưỡng chế khác nhau cho các mức vi phạm pháp luật về môi trường
như sau:
Biện pháp xử lý hình sự3
Pháp luật môi trường Singapore lấy chế tài hình sự là công cụ cơ bản để thực thi, biện
pháp này được áp dụng đối với người bị kết án phạt tiền, phạt tù, bắt bồi thường và đối
3
Pháp luật về bảo vệ môi trường của Singapore, Tạp chí dân chủ và pháp luật số 8 tháng 8/2008.
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
Đạo luật kiểm soát ô nhiễm thì những người vi phạm lần đầu bị buộc tội về hành vi đưa
chất thải hoặc các chất độc hại vào nguồn nước ngầm có thể bị phạt tù đến 12 tháng.
Đối với những người tái phạm thì có thể bị phạt tù với chế độ khắc nghiệt từ 1 đến 12
tháng.
+ Tạm giữ và tịch thu
GVHD: TS.Phạm Văn Beo
16
SVTH: Trần Minh Muội
Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành
Một số luật về môi trường quy định về việc tạm giữ và tịch thu các công cụ,
phương tiện được sử dụng vào việc phạm tội. Ngoài ra, nếu trường hợp thực phẩm
không phù hợp cho con người có thể bị tịch thu và tiêu huỷ theo Đạo luật về môi
trường và sức khoẻ cộng đồng và Đạo luật về mua bán thực phẩm.
+ Lao động cải tạo bắt buộc
Lao động cải tạo bắt buộc là biện pháp mà qua thực tiễn thực thi pháp luật về
môi trường ở Singapore cho thấy đây là một biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn các vi
phạm nhỏ, những người vi phạm đã bị áp dụng hình phạt lao động cải tạo bắt buộc ít
khi lặp lại hành vi đã vi phạm, đặc biệt rất ít người tái phạm. Cụ thể tại Mục 21A quy
định: “Người nào từ 16 tuổi trở lên bị kết án vì vi phạm một trong các quy định tại mục
18 hoặc 20, và nếu trước khi anh ta bị kết tội, toà án thấy rằng để cải tạo người vi
phạm và để bảo vệ môi trường cũng như sức khoẻ cộng đồng liên quan đến môi
trường, người vi phạm cần phải thực hiện công việc liên quan đến vệ sinh làm sạch các
vị trí nhất định mà không được trả thù lao thì thay cho các quyết định hoặc hình phạt
khác và trừ khi có những lý do đặc biệt. Toà án sẽ ra quyết định bắt buộc lao động cải
một số vấn đề nêu trên cho ta thấy sở dĩ môi trường Singapore trở nên sạch, đẹp và để
có được một Singapore là “thành phố của cây xanh” phải có rất nhiều yếu tố, nhưng
chính pháp luật về môi trường được quy định một cách toàn diện là công cụ hữu hiệu
nhất để đảm bảo sự sạch, đẹp cho môi trường Singapore.
1.1.3.2. Quy định của Liên bang Nga.
Bộ luật hình sự mới của Liên bang Nga (ban hành năm 1996) cũng dành một
chương riêng để quy định các tội phạm về môi trường. Đó là Chương 26 “các tội phạm
về sinh thái” trong BLHS năm 1996 (các Điều 246 đến Điều 262) cụ thể là4:
Điều 242: Tội vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường xung quanh trong khi
tiến hành sản xuất;
Điều 243: Tội vi phạm các quy định về sử dụng các chất và phế thải nguy hiểm;
Điều 244: Tội vi phạm các quy định về an toàn khi tiếp xúc với các độc tố vi
sinh hoặc độ tố sinh học khác;
Điều 245: Tội vi phạm các quy định về thú y và các quy định về chống bệnh tật
phá hoại cây cối;
Điều 246: Tội gây ô nhiễm nước;
Điều 247: Tội gây ô nhiễm không khí;
Điều 248: Tội gây ô nhiễm môi trường;
Điều 253: Tội vi phạm các quy định về bảo vệ nguồn cá dự trữ;
Điều 254: Tội săn bắt trái phép;
Điều 255: Tội phá hủy nơi trú ngụ của sinh vật được ghi trong sách đỏ của Liên
bang Nga đang ở tình trạng nguy hiểm;
Điều:256: Tội chặt trái phép cây gỗ và cây bụi;
Điều 257: Tội hủy hoại hay làm hư hại cây rừng;
Điều 258: Tội vi phạm các chế độ bảo vệ đặc biệt đối với khu thiên nhiên và các
công trình thiên nhiên;
Nhà làm luật Liên bang Nga tại Điều 17 điều luật của chương 26 BLHS năm 1996
đã xây dựng 22 cấu thành tội phạm (CTTP) và tất cả các CTTP này đều được xếp vào
ba loại đầu tiên (trong số 4 loại tội phạm theo sự phân loại trong phần chung BLHS) tội
phạm nghiêm trọng không lớn (18 CTTP cơ bản), và tội phạm nghiêm trọng trung bình
(3 CTTP cơ bản), và tội phạm nghiêm trọng (1 CTTP cơ bản), tức là các tội phạm do
cố ý và vô ý mà hình phạt tối đa do BLHS quy định đối với chúng là:
Không quá 2 năm tước tự do (đối với loại thứ nhất)