GVHD: Phạm Văn Beo
Luận văn tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP
**&**
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
(2005 - 2009)
Đề tài:
MỘT
VẤN
VỀ@HÌNH
PHẠT
TỬ và
HÌNH
Trung tâm Học
liệuSỐ
ĐH
CầnĐỀ
Thơ
Tài liệu
học tập
nghiên cứu
VÀ THI HÀNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Giảng viên hướng dẫn:
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Việc áp dụng và thi hành hình phạt tử hình trong thời gian qua đã có tác dụng trừng trị,
răn đe, phòng ngừa, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Song, so
với các nước trên thế giới, hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự Việt Nam vẫn còn
mở rộng đối với nhiều tội phạm, cơ chế tổ chức và thi hành từng bước được cải thiện
nhưng vẫn có những vướng mắc như: vấn đề tạm hoãn thi hành án, bản án tử hình
chậm thi hành, hình thức thi hành án tử hình…gây nhiều khó khăn cho việc giam giữ,
quản lý, hình thức thi hành án tử hình gây ra nhiều tranh luận trong dư luận và cả vấn
đề hiến xác cho y học…Tất cả những vấn đề đó là lý do người viết chọn đề tài này
nhằm có thể tìm hiểu những quy định của pháp luật hình sự về hình phạt tử hình, đưa
ra những quan điểm bổ sung để hoàn thiện cơ chế thi hành hình phạt tử hình trong giai
đoạn hiện nay.
SVTH: Nguyễn Xuân Linh
Trang 3
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Phạm Văn Beo
2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ sở lí luận chung về hình phạt tử hình, thi
hành án tử hình và các quy định của pháp luật liên quan đến hình phạt tử hình và thi
hành án tử hình trong pháp luật hình sự. Cụ thể là Điều 35 Bộ luật hình sự năm 1999,
Điều 258, Điều 259 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và các văn bản liên quan. Từ các
quy định đó, người viết nghiên cứu các quy định của pháp luật về tử hình được thực
thi trong thực tiễn tư pháp ở nước ta. Đó là các nội dụng nghiên cứu mà người viết làm
cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài nhằm tạo thuận lợi để làm rõ vấn đề tử hình trong quá
trình nghiên cứu.
rõ những vấn đề cơ bản về hình phạt tử hình và thi hành hình phạt tử hình.
5. Kết cấu đề tài
Đề tài được chia làm ba chương như sau:
Chương 1: Khái quát chung về hình phạt tử hình và thi hành hình phạt tử hình
trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt tử hình
và thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
SVTH: Nguyễn Xuân Linh
Trang 5
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Phạm Văn Beo
Chương 3: Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho việc áp dụng
hình phạt tử hình và thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
SVTH: Nguyễn Xuân Linh
Trang 5
GVHD: Phạm Văn Beo
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hình phạt tử hình tại Điều 35 như sau: “Tử
hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội nghiêm trọng. Không áp
dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội; đối với phụ nữ có thai
hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. Không
thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.
Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân. Trong trường
hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung
thân”.
Về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999
quy định: “….Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây hại đặc biệt lớn cho xã
hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm năm tù,
tù chung thân hoặc tử hình”. Để hiểu sâu hơn về hình phạt tử hình, cần nghiên cứu các
đặc điểm của hình phạt tử hình sau đây:
SVTH: Nguyễn Xuân Linh
Trang 6
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Phạm Văn Beo
Thứ nhất, tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất. Đây là một loại hình phạt
nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt của nước ta. Bởi vì, mục đích của hình
phạt này là tước bỏ quyền được sống của người phạm tội nhằm loại trừ họ ra khỏi đời
sống xã hội. Hình phạt tử hình chỉ có tác dụng trừng trị và phòng ngừa chung mà
không có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với tội phạm bị thi hành hình phạt tử hình. Tuy
nhiên, không phải hình phạt tử hình mâu thuẩn với nguyên tắc nhân đạo của pháp luật
Việt nam mà nó được thể hiện chung, nghĩa là nó sẽ phòng ngừa, răn đe đối với các tội
GVHD: Phạm Văn Beo
sang hình phạt khác nhẹ hơn và mang tính nhân đạo chung của pháp luật Xã hội Chủ
nghĩa. Nhiều quan điểm khác nhau cho rằng, người phụ nữ khi có thai và nuôi con, cần
phải được bảo vệ, người mẹ phạm tội chứ không phải là bào thai phạm tội nên không
thể áp dụng hình phạt tử hình đối với bào thai và người mẹ còn phải làm nhiệm vụ
thiêng liêng của một người phụ nữ. Bên cạnh đó, khi đứa trẻ mới sinh ra mà không có
mẹ, mà ta áp dụng hình phạt tử hình để cướp đi người mẹ của đứa trẻ là trái với
nguyên tắc nhân đạo, đạo đức xã hội, quyền cơ bản của con người. Vì vậy, luật hình sự
quy định thời hạn với phụ nữ đang nuôi con và chuyển hình phạt đối với phụ nữ có
thai, phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người chưa đầy đủ năng lực chủ thể…thì
không áp dụng hình phạt tử hình mà chuyển sang hình phạt khác (tù chung thân) là
một quy định tiến bộ, mang đậm tính nhân đạo của Nhà nước ta về con người.
Thứ hai, hình phạt tử hình được quy định trong Bộ luật hình sự. Hình phạt tử
hình nói riêng cũng như các hình phạt khác nói chung, chỉ được quy định trong Bộ luật
hình sự. Bởi vì, các hình phạt này thể hiện tính hợp pháp và tính pháp chế của các loại
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
hình phạt. Tại Điều 26 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Hình phạt được quy định
trong Bộ luật hình sự…”, còn hình phạt tử hình được quy định tại Điều 35 Bộ luật
hình sự năm 1999 và được quy định là hình phạt chính. Trong từng tội phạm cụ thể
được quy định áp dụng hình phạt tử hình, với Bộ luật hình sự năm 1999 quy định 29
Điều luật áp dụng hình phạt tử hình với các tội danh sau: Tội phản bội tổ quốc ( khoản
1 Điều 78), Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân ( khoản 1 Điều 79), Tội
gián điệp ( khoản 1 Điều 80), Tội bạo loạn ( khoản 1 Điều 82), Tội hoạt động phỉ
(khoản 1, Điều 83), Tội khũng bố (khoản 1, Điều 84), Tội phá hoại cơ sơ vật chất – kỹ
thuật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (khoản 1, Điều 85), Tội giết
người (khoản 1, Điều 93), Tội hiếp dâm (khoản 3, Điều 111), Tội hiếp dâm trẻ em
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nào có quyền áp dụng hình phạt tử hình. Đây là thẩm quyền đặc biệt của Tòa án nhằm
hạn chế sự phụ thuộc của các cơ quan khác khi tiến hành xét xử và tuyên án (theo Hiến
Pháp quy định năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, Luật tổ chức Tòa án năm 2001
quy định: “Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Thẩm quyền đặc biệt còn
thể hiện ở chổ, ngoài việc Chủ tịch nước xét ân giảm theo quy định của pháp luật thì
không cơ quan, tổ chức nào, cá nhân nào có thể miễm hình phạt tử hình do Tòa án
tuyên. Việc miễn đó hoàn toàn thuộc thẩm quyền đặc biệt của Tòa án và khi tiến hành
phải căn cứ vào các quy định của pháp luật.
Thứ tư, hình phạt tử hình chỉ có thể áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực
hiện tội phạm. Bên cạnh, thẩm quyền áp dụng hình phạt tử hình, chỉ áp dụng đối với
người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm. Căn cứ vào Điều 2 Bộ luật hình sự năm
1999 quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới
phải chịu trách nhiệm hình sự”. Tức là, hình phạt tử hình là hậu quả pháp lý của việc
thực hiện hành vi phạm tội, trong trường hợp khi người nào đó thực hiện một tội phạm
cụ thể do Bộ luật hình sự quy định là tử hình, thì Tòa án mới có thể quyết định hình
Trang 9
SVTH: Nguyễn Xuân Linh
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Phạm Văn Beo
phạt tử hình và hình phạt này chỉ áp dụng với người có lỗi trong việc thực hiện tội
phạm. Do vậy, hình phạt tử hình không thể được áp dụng đối với thanh viên trong gia
đình cũng như với những người thân khác của người phạm tội, ngay cả trường hợp
người phạm tội lẩn tránh hình phạt, thể hiện tính chịu hình phạt của cá nhân và tính
nhân đạo, tính chính xác của hình phạt tử hình.
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Phạm Văn Beo
1.1.2 Mục đích của hình phạt tử hình
Điều 27 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng
trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức
tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống Xã hội Chủ nghĩa, ngăn ngừa người
khác phạm tội. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật đấu tranh
phòng ngừa và chống tội phạm”. Nhiều ý kiến khác nhau cho rằng hình phạt nói
chung, hình phạt tử hình nói riêng là công cụ trả thù người phạm tội, là biện pháp
trừng phạt của Nhà nước đối người phạm tội, là công cụ vừa đấu tranh vừa phòng
ngừa tội phạm. Ở một khía cạnh nào đó, ta thấy hình phạt tử hình được chủ thể đặc
biệt là Nhà nước thực hiện nhưng suy cho cùng không phải Nhà nước dùng hình phạt
để trừng trị kẻ phạm tội mà vì mục địch bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích của xã hội nên
phải dùng hình phạt để răn đe tội phạm trong xã hội nhằm mục đích chung của quốc
gia.
Mục đích cuối cùng là làm cho người phạm tội phải khiếp sợ nhằm hạn chế sự
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
trả thù, trừng trị người phạm tội, thậm chí cả thân nhân gia đình người phạm tội. Do
đó, mục đích của hình phạt tử hình phản ánh rõ nét bản chất xã hội, bản chất của hình
phạt và của chế độ chính trị đã ban hành ra. Tuy nhiên, xét về thuộc tính xã hội, trừng
trị không phải là mục đích của hình phạt tử hình mà là bản chất, là thuộc tính tất yếu
của hình phạt tử hình. Như vậy, có thể nói rằng hình phạt tử hình được áp dụng nhằm
mục đích: ngăn ngừa người bị kết án phạm tội mới (phòng ngừa riêng), ngăn ngừa
người khác phạm tội ( phòng ngừa chung), để bảo vệ lợi ích của Nhà nước của nhân
Khái
quátliệu
chungĐH
về việc
thi hành
hìnhhọc
trongtập
luậtvà
tố tụng
hình sựcứu
Trung 1.2
tâm
Học
Cần
Thơhình
@ phạt
Tài tử
liệu
nghiên
1.2.1 Khái niệm và bản chất của việc thi hành hình phạt tử hình
Việc thi hành hình phạt tử hình là việc thi hành các bản án, các quyết định của
Tòa án không phải nó liên quan đến một hoặc một số cá nhân hay tổ chức mà nó liên
quan trực tiếp đến quyền lực Nhà nước, đến uy tín của của bộ máy Nhà nước, trật tự
pháp luật đến công lý, công bằng của xã hội…Theo quy định của Hiến pháp 1992 sửa
đổi, bổ sung năm 2001 quy định tại Điều 136: “Các bản án và quyết định của tòa án
nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng những người và
đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Nhằm khẳng định hiệu lực thi hành án
của tất cả các phán quyết của Tòa án. Do đó, việc thi hành án có ý nghĩa quan trọng
trên nhiều phương diện của Hiến pháp, bởi thi hành án tử hình cũng là một nội dung
án học
hình sự
là hoạt
của Nhà
Trung tâmThi
Học
Cần
@ thi
Tàihành
liệu
tập
và động
nghiên
cứu
nước, do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện, bảo đảm hiệu lực thực tế của
các bản án, quyết định của Tòa án bằng các biện pháp pháp luật quy định. Theo đó, thi
hành hình phạt tử hình là một biện pháp tư pháp đều xuất phát từ mục đích chung của
hình phạt tử hình mà quyết định nội dung, phương pháp, hình thức cũng như thời hạn
thi hành, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nó là một biện pháp cưỡng chế nghiêm
khắc nhất, vì nó tước đi quyền sống của người pham tội. Bởi vậy, pháp luật đã quy
định riêng biệt cho việc thi hành án tử hình các nguyên tắc, trình tự và thủ tục chặt chẽ
hơn các loại hình phạt khác. Việc thi hành án tử hình chỉ là một quá trình mà Hội đồng
thi hành án tử hình thực thi nhiệm vụ theo thủ tục, trình tự luật định nhằm thực hiện
nội dung bản án tử hình được Tòa án tuyên đã có hiệu lực pháp luật.
Thi hành án tử hình được tiến hành theo trật tự do pháp luật quy định và mang
tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ lien quan
đến việc thi hành án tử hình. Do đó, phải căn cứ vào nội dung cụ thể trong các phán
SVTH: Nguyễn Xuân Linh
SVTH: Nguyễn Xuân Linh
Trang 14
GVHD: Phạm Văn Beo
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 2
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ HÌNH
PHẠT TỬ HÌNH VÀ THI HÀNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1 Những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt tử hình
2.1.1 Trước năm 1945
Trong các hình phạt thì hình phạt tử hình ra đời ở nước ta rất sớm từ thế kỉ thứ
XI (thời Lý – Trần), được quy định trong Bộ hình thư, Bộ luật Gia long (1815), đều có
quy định hình phạt tử hình, cho đến thời Lê, thời Nguyễn đều có quy định hình phạt tử
hình, chủ yếu là chế độ hình phạt ngũ hình. Nhưng giai đoạn này chưa có quy định nào
cụ thể, dể gây ra án sai cho bị cáo trong thời kì này.
Trong giai đoạn phong kiến, chủ trương dùng hình phạt nặng được áp dụng rất
phổ biến, không ngần ngại áp dụng án tử hình với các mức độ khác nhau, đối với
những trường hợp phạm tội nghiêm trọng, gây hậu quả xấu cho xã hội. Những hình
Trung phạt
tâmtànHọc
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
khốc và dã man, hình phạt tử hình được thi hành chủ yếu bằng băm xác. Đối
với giai đoạn này áp dụng hình phạt tử hình là điều cần thiết, không chỉ nhằm loại bỏ
GVHD: Phạm Văn Beo
chiếm đoạt tài sản của công dân…Tử hình được xem là hình phạt có tính chất đặc biệt
nghiêm khắc được áp dụng đối với một số tội phạm có tính chất đặc biệt nghiêm trọng
trong một số trường hợp nhất định, không được áp dụng phổ biến.
2.1.3 Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1985
Các văn bản pháp luật hình sự trước đó là các văn bản riêng lẻ về từng vấn đề,
từng lĩnh vực cụ thể mà tất cả là các văn bản dưới luật, cao nhất chỉ có 5 Pháp lệnh của
UBTVQH ban hành từ năm 1967 đến 1970, cho đến Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời
đánh dấu bước phát triển của pháp luật hình sự nói riêng và hệ thống pháp luật Việt
Nam nói chung. Bộ luật này gồm 20 Chương và 280 Điều, trong đó hình phạt được
quy định tại Điều 21 Bộ luật hình sự năm 1985. Về hình phạt tử hình, Điều 27 Bộ luật
hình sự năm 1985 quy định: “ Tử hình là hình phạt đặc biệt được áp dụng đối với
người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Không áp dụng tử hình đối
với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai khi phạm tội hoặc khi bị
xử. Học
Tử hìnhliệu
đượcĐH
hoãnCần
thi hành
đối với
có thai,
phụ tập
nữ đang
con dưới
Trung xét
tâm
Thơ
@phụ
Tàinữliệu
năm 1985, Bộ luật hình sự năm 1999 tăng 4 Chương và 64 Điều, nhưng riêng quy định
về hình phạt tử hình lại giảm 15 Điều. Hiện tại, hình phạt tử hình chỉ còn được quy
định đối với 7/13 tội thuộc Chương XI như: các tội xâm phạm an ninh quốc gia gồm
tội phản quốc (khoản 1 Điều 78), tội hoạt động nhằm chống chính quyền nhân dân
(khoản 1 Điều 79), tội gián điệp (khoản 1 Điều 80), tội bạo loạn (khoản 1 Điều 82), tội
hoạt động phỉ (khoản 1 Điều 83), tội khủng bố (khoản 1 Điều 84), tội phá hoại cơ sở
vật chất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (khoản 1 Điều 85), 3/29 tội
thuộc Chương XVI như: các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế gồm tội buôn lậu
(Điều 153), tội sản xuất buôn bán hang giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh,
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
thuốc phòng bệnh (Điều 157), tội làm, tang trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân
phiếu giả, công trái giả (Điều 180), 3/10 tội thuộc Chương XVIII như: các tội về ma
túy gồm tội sản xuất trái phép chất ma túy (khoản 4 Điều 193), tội tang trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (khoản 4 Điều 194), tội sử
dụng trái phép chất ma túy (khoản 4 Điều 197); 2/55 tội thuộc Chương XIX như: các
tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng gồm tội chiếm đoạt máy bay, tàu
thủy (Điều 221), tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia
(Điều 231); 3/14 tội thuộc Chương XXI như: các tội phạm về chức vụ gồm tội tham ô
tài sản (khoản 4 Điều 278), tội nhận hối lộ (khoản 4 Điều 279), tội đưa hối lộ (khoản 4
Điều 289); 3/26 tội thuộc Chương XXIII như: các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm
của quân nhân gồm tội chống mệnh lệnh (khoản 3 Điều 322), tội hủy hoại vủ khí quân
dụng, phương tiện kĩ thuật quân sự (khoản 4 Điều 334); 3/4 tội thuộc Chương XXIV
như: các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh gồm tội phá
hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược (Điều 341), tội chống loài người (Điều 342),
tội phạm chiến tranh (Điều 343).
SVTH: Nguyễn Xuân Linh
Trang 17
“Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội nghiêm trọng.
Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội; đối với phụ
nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét
xử. Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36
tháng tuổi. Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân. Trong
thường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình chuyển thành
tù chung thân”. So sánh về hình phạt tử hình giữa Điều 35 Bộ luật hình sự năm 1999
Trang 18
SVTH: Nguyễn Xuân Linh
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Phạm Văn Beo
với Điều 27 Bộ luật hình sự năm 1985, về cơ bản có nhiều điểm giống nhau nhưng
cũng có những điểm khác nhau quan trọng. Tại Điều 35 Bộ luật hình sự năm 1999 quy
định đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình được quy định ở phạm vi rộng hơn rất
nhiều so với Bộ luật hình sự năm 1985. Việc thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử
hình thể hiện sâu sắc tính nhân đạo, dân chủ của Đảng và Nhà nước ta trong chính
sách xử lý hình sự. Theo quy định của Điều 35 Bộ luật hình sự năm 1999, thì hình phạt
tử hình chỉ áp dụng đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Nếu trong Bộ luật
hình sự năm 1985 quy định hình phạt tử hình không áp dụng đối với người chưa thành
niên phạm tội, phụ nữ có thai khi họ phạm tội hoặc khi xét xử, thì tại Điều 35 Bộ luật
hình sự năm 1999 quy định, ngoài những đối tượng trên còn loại trừ áp dụng hình phạt
này với phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử, dù tội
trạng đến mức độ nghiêm trọng.
Bên cạnh đó, tính nhân đạo của Bộ luật hình sự năm 1999 còn được ghi nhận ở
như Bộ luật hình sự năm 1985 quy định hình phạt tử hình chỉ được hoãn thi
Trung chổ,
hình sự năm 1985, không ít các tội danh đã được xóa bỏ hình phạt tử hình. Đó là: Tội
xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 81); Tội chống phá trại giam (Điều 90); Tội trộm
cắp tài sản (Điều 138); Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143); Tội
vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 154); Tội sản xuất, buôn
bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực
vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 158); Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng
trái phép chất ma túy (Điều 200); Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán
trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 230);
Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280); Tội làm môi giới hối
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
lộ (Điều 290); Tội tuyển mộ lính đánh thuê, tội làm lính đánh thuê (Điều 344).
Tóm lại, Bộ luật hình sự năm 1999 là một bước tiến quan trọng trong công tác
lập pháp ở nước ta, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh phòng và chống
tội phạm trong giai đoạn phát triển mới. So sánh với Bộ luật hình sự năm 1985 cho
thấy trong phần các tội phạm nói chung và các tội phạm có quy định hình phạt tử hình
nói riêng của Bộ luật hình sự năm 1999 đã có những thay đổi quan trọng cả về lập
pháp, quy định cấu thành tội phạm và đường lối xét xử.
2.1.5 Những quy định pháp luật hình sự về hình phạt tử hình ở một số nước trên
thế giới
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Ân xá Quốc tế (ngày 02/10/2007) có 133
quốc gia và vùng lãnh thổ xóa bỏ hình phạt tử hình khỏi hệ thống hình phạt, trong đó
có 90 quốc gia và vùng lãnh thổ xóa bỏ hình phạt tử hình đối với tất cả các loại tội
phạm, 11 quốc gia và vùng lãnh thổ xóa bỏ hình phạt tử hình đối với tất cả các tội
phạm, trừ tội phạm trong thời gian chiến tranh. Hiện nay, còn 64 quốc gia vẫn duy trì
hình phạt tử hình 1.
SVTH: Nguyễn Xuân Linh
Trang 20
cải tạo lao động để theo dõi thái độ của họ trong thời gian đó. Nếu trong thời gian đó
họ đã thực sự hối cải thì sau khi đủ 2 năm hình phạt tử hình có thể thay bằng tù chung
thân và thật sự có tiến bộ, có công lao thì sau 2 năm, hình phạt tử hình được chuyển
thành tù có thời hạn từ 15 đến 20 năm. Nếu trong thời hạn này mà vẫn tiếp tục ngoan
cố không chịu cải tạo thì theo quyết định hoặc phê chuẩn của Tòa án nhân dân tối cao,
bản án tử hình được thi hành” (Điều 50).
Theo Bộ luật hình sự Bungari năm 1968 quy định 11 loại hình phạt. Trong đó,
hình phạt tử hình được xem là biện pháp đặc biệt và tạm thời áp dụng đối với tội phạm
nghiêm trọng đe dọa nền tảng của nước Cộng hòa cũng như tội cố ý đặc biệt nghiêm
Trang 21
SVTH: Nguyễn Xuân Linh
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Phạm Văn Beo
trọng khác. Hình phạt tử hình được ghi nhận bằng hình thức bắn (Điều 37). Hình phạt
tử hình chỉ áp dụng chỉ được áp dụng đối với trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm
trọng và khi những mục đích được quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự này không
thể đạt được bằng việc áp dụng hình phạt nhẹ hơn. Tuy nhiên, không được áp dụng với
người vào thời điểm phạm tội chưa đủ 20 tuổi. Còn đối với quân nhân phục vụ trong
quân đội cũng giống như phạm tội trong thời gian chiến tranh, hình phạt tử hình
không được áp dụng đối với người vào thời điểm phạm tội chưa đủ 20 tuổi, không áp
dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. Đối với
với phụ nữ có thai được đổi thành hình phạt tù 20 năm. Vào thời điểm hiện nay, khi
Bungari gia nhập Liên minh châu Âu thì hình phạt tử hình không còn áp dụng nữa.
Liên Bang Nga xem: “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ có thể áp dụng đối với
các tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm tính mạng”. Trong Bộ luật hình sự Liên Bang
Nga chỉ quy định một điều luật tử hình, đó là “tội giết người”. Tử hình không áp dụng
luật phong kiến quy định: “Tội nhân chưa hết hi vọng để gở tội mà giết tội nhân thì
những người liên quan vào việc giết đều phải khép vào tội giết người”. Tuy nhiên, thủ
tục thi hành án tử hình chưa được quy định rõ ràng nên việc thi hành phụ thuộc vào
các quan lại xét xử, thường các quyết định sau khi được tuyên án được thi hành ngay.
Đây là nguyên nhân làm cho việc thi hành án quá tùy tiện và thiếu khách quan, làm
oan người vô tội. Việc thi hành án tử hình có nhiều hình thức khác nhau như: hỏa
thiêu, lăng trì, ngựa xé, chém đầu, chém ngang lưng, treo cổ…Pháp luật quy định tử
hình rất dã man, tàn khốc nên khi thi hành gây cho phạm nhân sự đau đớn về thể chất
và tinh thần.
Việc xét duyệt án tử hình cũng theo một thủ tục riêng và việc vận dụng cũng phải rất
thận trọng: “các bản án tử hình phải được Hội đồng thẩm phán của Tòa án nhân tối cao
duyệt lại trước khi thi hành”.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.2.2 Từ năm 1945 đến Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
Sau cách mạng tháng tám thành công, Nhà nước vẫn kế thừa từ thời pháp thuộc,
do việc xây dựng hệ thống pháp luật còn nhiều hạn chế. Việc thi hành hình phạt tử
hình đã loại bỏ hình thức dùng máy chém và chuyển sang xử bắn. Tuy nhiên, bản án tử
hình có thể được thi hành bằng nhiều cách khác nhau mà chủ yếu là dùng dao găm,
thuốc độc, mìn, cung tên…Cán bộ thi hành án cũng không được quy định cụ thể,
không giao cho một lực lượng nào chuyên trách mà từng trường hợp, tình huống cụ thể
để quyết định người thi hành và áp dụng các biện pháp thích hợp.
Trong giai đoạn này, các văn bản quy định thi hành hình phạt tử hình chủ yếu là
văn bản dưới luật như: Thông tri số 561/TA ngày 5/12/1970 của Tòa án quân sự
Trương ương hướng dẫn về việc thi hành án tử hình; Chỉ thị số 138-KC1 ngày
13/2/1974 của Bộ Công an về việc thi hành án tử hình…Chỉ thị số 07/TATC ngày
12/3/1974 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ của Tòa án nhân
dân trong việc thi hành án tử hình; Thông tư Liên Bộ số 03/TTLB ngày 6/12/1982 của
SVTH: Nguyễn Xuân Linh
hơn về thủ tục thi hành án tử hình. Tử hình được xem là hình phạt đặc biệt được áp
dụng với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên công tác thi hành hình phạt tử hình
được tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ với sự tham gia của nhiều ngành như:
Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan công an…
+ Tòa án nhân dân tối cao
Là cơ quan có thẩm quyền xét xử và tuyên án tử hình đối với người phạm tội
(Tòa án cấp tỉnh trở lên). Nếu bị cáo không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng
nghị thì bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo có đơn kháng cáo hoặc Viện kiểm sát
kháng nghị thì vụ án phải được xét xử theo thủ tục phúc thẩm và khi Tòa phúc thẩm
quyết định, bản án có hiệu lực thi hành. Theo quy định của pháp luật, sau khi bản án,
quyết định về hình sự của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì cơ quan thi hành phải ra
SVTH: Nguyễn Xuân Linh
Trang 24