nghiên cứu - trao đổi
24
Tạp chí luật học số 2/2004 PGS. TS. Trần Văn Độ *
1. t vn
Quyn lc nh nc v giỏm sỏt thc
hin quyn lc nh nc trong xõy dng nh
nc phỏp quyn xó hi ch ngha nc ta
hin nay ang l vn c nhiu ngi
quan tõm, trong ú cú cỏc nh khoa hc phỏp
lớ. Thc hin quyn lc nh nc nh th
no? giỏm sỏt vic to ỏn thc hin quyn
lc ú ra sao l nhng ni dung chớnh ca
vn cn nghiờn cu, gii quyt. Nu nh
vic t chc thc hin quyn lc nh nc
(trờn c s phõn cụng, phõn nhim rừ rng)
nhỡn chung ó c khng nh thỡ vic t
chc giỏm sỏt vic thc hin quyn lc nh
nc li cha c nghiờn cu v khng
nh mt cỏch thu ỏo v khoa hc, cha
c chng minh rừ rng v thc tin.
Nhng vn nh bn cht hot ng giỏm
sỏt quyn lc l gỡ? Ai l ngi thc hin
hnh quyn cụng t v kim sỏt vic tuõn
theo phỏp lut ca cỏc c quan, t chc v cỏ
nhõn, bo m cho phỏp lut c chp hnh
nghiờm chnh v thng nht. Trong thi kỡ
ny, chc nng kim sỏt hot ng t phỏp
c coi nh mt b phn ca kim sỏt vic
tuõn theo phỏp lut núi chung (kim sỏt
chung) nờn vic xỏc nh th no l hot
ng t phỏp v t ú th no l kim sỏt
* Tũa ỏn quõn s trung ng nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 2/2004
25
hoạt động tư pháp chưa được đặt ra một cách
cấp thiết. Thậm chí, trong một số công trình
nghiên cứu, một số tác giả cho rằng không
thể phân biệt rạch ròi chức năng thực hành
quyền công tố và chức năng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong hoạt động của viện
kiểm sát các cấp. Tuy nhiên, Hiến pháp năm
1992 (sửa đổi năm 2001) và các văn bản
pháp luật khác quy định chức năng của viện
kiểm sát đã có sự thay đổi căn bản. Theo quy
định của Hiến pháp và Luật tổ chức viện
kiểm sát nhân dân năm 2002 thì các viện
kiểm sát chỉ có hai chức năng độc lập là: 1)
Thực hành quyền công tố; 2) Kiểm sát các
quyết định và hoạt động của cơ quan nhà
nước và người có chức vụ, quyền hạn, giải
thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật, tham gia
vào quá trình hình thành đội ngũ thẩm phán,
bảo đảm việc thi hành và chấp hành các bản
án, các quyết định khác
(2)
GS.TS. Hoàng Văn Hảo thì cho rằng ở
Việt Nam, quyền tư pháp gồm hai nội dung
là quyền thẩm phán và quyền kiểm sát; chế
độ tư pháp khác với chế độ tố tụng. Và như
vậy, hoạt động tư pháp bao gồm hoạt động
xét xử và hoạt động kiểm sát.
(3)
TSKH. Lê Cảm phân hoạt động tư pháp
theo nghĩa rộng (bao gồm hoạt động xét xử
của toà án, hoạt động áp dụng pháp luật của
các cơ quan bảo vệ pháp luật và hoạt động
của hệ thống bổ trợ tư pháp) và theo nghĩa
hẹp (hoạt động xét xử của toà án theo tố
tụng).
(4)
Ngoài ra, còn có những quan niệm khác
về quyền tư pháp, về hoạt động tư pháp. Các
quan niệm đó tựu trung lại thể hiện ở ba
nhóm sau:
- Loại quan niệm thứ nhất cho rằng hoạt
pháp trong điều kiện phân công thực hiện
chức năng liên quan đến quyền tư pháp ở
nước ta.
Các văn kiện của Đảng ta thường đề cập
công tác tư pháp chứ không phải là hoạt
động tư pháp. Nghiên cứu tinh thần Nghị
quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của
Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác tư pháp trong thời gian tới, chúng
tôi thấy rằng khái niệm công tác tư pháp
rộng hơn, bao gồm cả thiết chế, tổ chức và
hoạt động tư pháp. Hoạt động tư pháp chỉ là
một bộ phận hợp thành của công tác tư pháp.
Ngoài ra, cũng trong Nghị quyết, hoạt động
tư pháp không chỉ là điều tra, truy tố, xét xử
và thi hành án mà còn bao gồm các hoạt
động khác như giám định, luật sư, công
chứng Như vậy, theo tinh thần của Nghị
quyết thì hoạt động tư pháp rộng hơn quan
niệm phổ biến hiện nay (chỉ điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án).
Pháp luật nước ta không có khái niệm
hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, qua phân tích
các quy định của pháp luật về chức năng của
viện kiểm sát chúng ta cũng có thể nhận thấy
được phạm vi hoạt động tư pháp được đề cập
tương đối rõ ràng. Theo Điều 3 Luật tổ chức
viện kiểm sát nhân dân thì viện kiểm sát thực
hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ
nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 2/2004
27
chăng hoạt động của viện kiểm sát không
phải là hoạt động tư pháp.
Rõ ràng, cho đến nay trong lí luận, trong
hoạt động lập pháp và trong chỉ đạo hoạt
động tư pháp chưa có quan điểm thống nhất
về hoạt động tư pháp đang tồn tại các quan
niệm hoặc là thu hẹp phạm vi hoạt động tư
pháp; hoặc là lẫn lộn giữa hoạt động tư pháp
với công tác tư pháp
Chúng tôi cho rằng để có quan niệm
đúng đắn về hoạt động tư pháp và xác định
chính xác phạm vi hoạt động tư pháp, chúng
ta phải xuất phát từ nhận thức vấn đề về
quyền tư pháp và tổ chức thực hiện quyền tư
pháp trong điều kiện xuất phát điểm quyền
lực nhà nước là tập trung trên cơ sở phân
công thực hiện chức năng ở nước ta hiện
nay. Theo quan điểm truyền thống trên thế
giới và ở Việt Nam hiện nay nếu lập pháp là
ban hành luật, hành pháp là tổ chức thi hành
các đạo luật được ban hành thì tư pháp là xét
xử, hay nói rộng hơn, là giải quyết các tranh
chấp pháp luật, các vi phạm pháp luật xảy ra
trong xã hội. Để giải quyết các tranh chấp
pháp luật, các vi phạm pháp luật thì ngoài
đó theo thủ tục tố tụng mà pháp luật quy
định.
Từ góc độ chủ thể, hoạt động tư pháp là
hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng
(cơ quan tư pháp), các cơ quan thực hiện
một số nhiệm vụ tố tụng, các cơ quan bổ trợ
tư pháp (giám định tư pháp, công chứng tư
pháp, luật sư);
Từ góc độ nội dung, hoạt động tư pháp
bao gồm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử vụ án hình sự, hoạt động xét xử vụ án
dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, hoạt
động giải quyết các việc tranh chấp khác của
toà án, hoạt động thi hành án.
Từ quan niệm trên, theo chúng tôi đặc
trưng của hoạt động tư pháp là:
+ Hoạt động đó gắn liền với tranh chấp
hoặc vi phạm pháp luật. Hoạt động tư pháp cụ
thể chỉ phát sinh khi có vi phạm pháp luật; nghiªn cøu - trao ®æi
28
T¹p chÝ luËt häc sè 2/2004
+ Hoạt động tư pháp phải có tính độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật. Sự độc lập của
hoạt động tư pháp đảm bảo cho xác nhận sự
kiện pháp lí và phán quyết mang tính chính
bởi vì để đảm bảo đúng hướng, phù hợp với
chức năng, nhiệm vụ, có hiệu quả và khoa
học thì bất kì hoạt động nào của cơ quan nhà
nước cũng phải được giám sát. Thực ra,
chúng tôi cho rằng kiểm sát hoạt động tư
pháp là một trong những lĩnh vực giám sát
nhà nước. Vì vậy, kiểm sát hoạt động tư
pháp có đầy đủ các yếu tố chung của hoạt
động giám sát đó. Đồng thời, kiểm sát hoạt
động tư pháp cũng có những nét đặc thù xuất
phát từ đặc thù của hoạt động tư pháp.
Hoạt động giám sát được phân loại từ
nhiều góc độ khác nhau. Từ góc độ cơ chế,
tồn tại hai hình thức giám sát: Giám sát từ
bên ngoài hệ thống (giám sát từ cơ quan nhà
nước khác, giám sát xã hội ) và tự giám sát
(tự kiểm tra) từ bên trong hệ thống. Ở mức
độ quyền lực nhà nước, việc thực hiện từng
quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư
pháp) được giám sát bằng cơ chế phân công
quyền lực và bằng xã hội. Đồng thời trong
mỗi hệ thống lại có cơ chế giám sát riêng,
đặc thù phù hợp với nhiệm vụ và tính chất
hoạt động của hệ thống đó.
Từ góc độ tính chất, giám sát được phân
chia thành giám sát xã hội và giám sát nhà
nước. Hoạt động của Nhà nước nói chung và
các cơ quan nhà nước nói riêng được toàn xã
hội giám sát bằng các hình thức rất phong
phú. Hoạt động giám sát đó còn được các cơ
x ca to ỏn cp trờn i vi to ỏn cp
di ;
- Hot ng giỏm sỏt ca mt c quan
c phõn cụng i vi ton b hot ng t
phỏp. Theo phỏp lut hin hnh, chc nng
nng ny c gi l kim sỏt t phỏp v
c giao cho vin kim sỏt.
Nh vy, theo ngha rng, kim sỏt t
phỏp cng c hiu l giỏm sỏt t phỏp l
mt b phn, mt lnh vc ca giỏm sỏt nh
nc trong lnh vc t phỏp. Trong cỏc hỡnh
thc giỏm sỏt trờn, cỏc hỡnh thc th nht v
th hai ca hot ng giỏm sỏt t bờn trong
h thng t phỏp l cú hiu qu cao. Chỳng
c bo m thc hin bng cỏc quy nh
t tng rừ rng.
Cũn theo ngha hp thỡ kim sỏt t phỏp
c hiu l chc nng ca vin kim sỏt
m bo cho phỏp lut c chp hnh
nghiờm chnh v thng nht trong gii quyt
cỏc v vic xung t v tranh chp phỏp lut.
Hin nay, trong lớ lun cng cú quan
im cho rng tin ti nh nc phỏp
quyn, to ỏn phi tr thnh mt c quan
giỏm sỏt hot ng ca cỏc c quan nh
nc khỏc thụng qua hot ng xột x
(6)
v
t ú thc hin nguyờn tc kim hin bng
t phỏp. Chỳng tụi ngh rng quan im ny
Cng cn lu ý rng theo quy nh ca
phỏp lut (iu 1, iu 3 Lut t chc vin
kim sỏt nhõn dõn nm 2002, iu 23
BLTTHS) thỡ phm vi kim sỏt l vic chp nghiªn cøu - trao ®æi
30
T¹p chÝ luËt häc sè 2/2004
hành pháp luật. Tuy nhiên, để thể hiện đúng
hơn bản chất của hoạt động tư pháp là áp
dụng pháp luật vào trường hợp giải quyết
tranh chấp cụ thể trên cơ sở tuân thủ thủ tục
tố tụng quy định. Còn duy trì việc chấp hành
pháp luật là thuộc chức năng hành pháp. Vì
vậy, phải chăng mục đích của kiểm sát tư
pháp phải là đảm bảo cho pháp luật được áp
dụng thống nhất trong giải quyết các vụ án
trên cơ sở tuân thủ nghiêm chỉnh thủ tục tố
tụng mà pháp luật quy định.
b. Phân biệt việc thực hành quyền công
tố và việc kiểm sát tư pháp trong hoạt động
thực hiện chức năng của viện kiểm sát
Phải nói rằng cho đến nay pháp luật
nước ta chưa có quy định thật rõ ràng để
phân biệt hoạt động thực hiện chức năng
thực hành quyền công tố và kiểm sát tư
pháp, nhất là trong giải quyết các vụ án
động công tố sẽ bắt đầu từ khi bắt đầu quá
trình điều tra (khởi tố vụ án) cho đến khi bản
án, quyết định của toà án về vụ án có hiệu
lực pháp luật. Ngoài ra, hoạt động công tố
còn bao gồm việc áp dụng các biện pháp
ngăn chặn để bảo đảm cho việc điều tra và
đưa bị can ra xét xử trước toà án.
(7)
Với cách
nhìn như vậy, chúng tôi cho rằng cần thực
hiện điều tra dự thẩm trong tố tụng hình sự.
Quy định của BLTTHS hiện hành về điều tra
là chưa phù hợp. Cụ thể là: Từ góc độ thủ
tục thì dường như các quy định về điều tra là
theo hướng dự thẩm nhưng từ góc độ tổ chức
cơ quan điều tra, mối quan hệ giữa cơ quan
điều tra và viện kiểm sát thì lại không phải
như vậy.
c. Quyền hạn của viện kiểm sát trong
kiểm sát tư pháp
Kiểm sát hoạt động tư pháp cần được
hiểu là giám sát để hoạt động của các cơ
quan tiến hành tố tụng, của những người
tham gia tố tụng được tiến hành theo đúng
pháp luật, nhất là pháp luật tố tụng đồng thời
giám sát xem kết quả thực hiện chức năng đó
có đúng không để trên cơ sở đó có các kiến nghiªn cøu - trao ®æi
phú nhưng cũng có những nét đặc thù. Vì vậy,
hình thức, nội dung giám sát đó từ phía xã hội,
công dân và cơ quan nhà nước khác cũng như
tự giám sát phải được quy định chặt chẽ, đảm
bảo cho các cơ quan tư pháp (nhất là toà án)
độc lập trong thực hiện chức năng tố tụng
của mình;
2. Cần có quy định thủ tục tố tụng đầy đủ
điều chỉnh hoạt động của các cơ quan tiến
hành tố tụng, các cơ quan thực hiện một số
nhiệm vụ tố tụng và cả các cơ quan bổ trợ
hoạt động tư pháp như giám định tư pháp,
công chứng tư pháp để bảo đảm tính độc
lập, khách quan trong các hoạt động của cơ
quan đó;
3. Cần xem xét xây dựng tố tụng điều tra
theo hướng dự thẩm trong tố tụng hình sự.
Nâng cao quyền hạn và trách nhiệm của viện
kiểm sát (công tố) trong điều tra, truy tố,
trong giải quyết vụ án hình sự, cơ quan công
an chịu trách nhiệm duy trì trật tự, an toàn xã
hội và giúp viện kiểm sát trong thực hiện
nhiệm vụ điều tra mà thôi;
4. Cần xem xét lại vai trò của viện kiểm
sát trong thủ tục tố tụng giải quyết các vụ án
không phải hình sự để thể hiện rõ hơn, cụ thể
hơn chức năng, phạm vi, quyền hạn của việc
kiểm sát hoạt động tư pháp trong các lĩnh
vực này./.