thông tin
40 - Tạp chí luật học
Một số vấn đề về công nhận và
thi hành bản án, quyết định của tòa án
và trọng tài nớc ngoài tại Việt Nam
PTS. Hoàng Phớc Hiệp *
ấn đề công nhận và thi hành bản án,
quyết định của tòa án và trọng tài
nớc ngoài tại Việt Nam đang đợc
nhiều cơ quan, tổ chức cá nhân trong và
ngoài nớc quan tâm. Nhiều vấn đề đ
đợc đặt ra xung quanh chế định pháp lí
này nhng đến nay trong pháp luật nớc
ta vẫn cha có lời giải đáp rõ ràng. Bài
viết này giới thiệu một số vấn đề đang
đợc quan tâm nhằm tìm giải đáp thích
hợp, góp phần nghiên cứu và hoàn thiện
hệ thống các văn bản của Nhà nớc ta
trong lĩnh vực này.
1. Về chủ trơng, chính sách, pháp
luật của Nhà nớc Việt Nam liên quan
đến công nhận và thi hành bản án,
quyết định của tòa án và trọng tài nớc
ngoài tại Việt Nam
1.1. Trong thời gian qua, cùng với
việc mở rộng và phát triển quan hệ quốc
tế của Việt Nam, đ và đang xuất hiện
việc Việt Nam tham gia Công ớc New
York năm 1958 về công nhận và thi hành
các quyết định của trọng tài nớc ngoài.
Những văn bản pháp lí quốc tế này là cơ
sở pháp lí quan trọng để Nhà nớc Việt
Nam xây dựng và thông qua các văn bản
quy phạm pháp luật về công nhận và thi
hành các bản án, quyết định của tòa án và
trọng tài nớc ngoài tại Việt Nam.
- Về mặt pháp luật trong nớc, phải
thừa nhận rằng những văn bản quy phạm
pháp luật của Việt Nam có hiệu lực pháp
luật cao đợc ban hành khá muộn so với
yêu cầu của việc mở rộng và phát triển
quan hệ quốc tế của Việt Nam.
V
* Vụ pháp luật quốc tế và hợp tác quốc tế
Bộ t pháp thông tin
Tạp chí luật học - 41
Trớc ngày ủy ban thờng vụ Quốc
hội thông qua Pháp lệnh ngày 17/4/1993
về công nhận và thi hành tại Việt Nam
bản án, quyết định dân sự của tòa án nớc
ngoài, Nhà nớc Việt Nam cha có văn
bản luật hoặc pháp lệnh quy định riêng về
nhận và thi hành tại Việt Nam bản án,
quyết định dân sự của tòa án nớc ngoài
(sau đây gọi là Pháp lệnh 1993). Pháp
lệnh 1993 gồm có lời nói đầu và 26 điều,
chia làm 4 chơng.
Chơng I có tiêu đề là "Những quy
định chung" (từ Điều 1 đến Điều 9) quy
định cách hiểu khái niệm bản án, quyết
định dân sự của tòa án nớc ngoài;
nguyên tắc công nhận và thi hành; quyền
yêu cầu công nhận và thi hành hoặc yêu
cầu không công nhận; cơ quan có thẩm
quyền xét đơn yêu cầu công nhận và cho
thi hành hoặc đơn yêu cầu không công
nhận; quy định các nguyên tắc về bảo
đảm quyền kháng cáo, kháng nghị; bảo
đảm hiệu lực của quyết định của tòa án
Việt Nam công nhận hoặc không công
nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án
nớc ngoài; bảo đảm việc chuyển tiền, tài
sản thi hành bản án, quyết định dân sự
của tòa án nớc ngoài; quy định việc
thông báo kết quả xét đơn yêu cầu; quy
định về lệ phí.
Chơng II có tiêu đề "Xét đơn yêu cầu
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
bản án, quyết định dân sự của tòa án
nớc ngoài" (từ Điều 10 đến Điều 20).
Chơng này quy định các yêu cầu cơ bản
đối với đơn yêu cầu công nhận và cho thi
Để thi hành cụ thể Pháp lệnh 1993,
ngày 24/7/1993, Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ t
pháp đ ban hành Thông t liên ngành số
04/TTLN hớng dẫn, thực hiện một số
quy định của Pháp lệnh đó. Ngày
7/9/1994 Chính phủ ban hành Nghị định
số 117/CP về án phí, lệ phí tòa án, trong
đó có quy định rõ mức lệ phí mà ngời
gửi đơn yêu cầu công nhận bản án, quyết
định của tòa án nớc ngoài phải nộp cho
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.
Bên cạnh đó, ủy ban thờng vụ Quốc hội
cũng đ thông qua Pháp lệnh thi hành án
dân sự ngày 17/4/1993 thay thế Pháp lệnh
thi hành án dân sự ngày 28/8/1989.
1.3. Song song với việc xây dựng và
ban hành các văn bản quy phạm pháp
luật, Nhà nớc Việt Nam đ tiến hành
nghiên cứu các điều ớc quốc tế và pháp
luật, thực tiễn của các nớc về công nhận
và thi hành quyết định của trọng tài nớc
ngoài. Ngày 28/7/1995 Chủ tịch nớc
Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam đ
kí quyết định gia nhập Công ớc New
York năm 1958 về công nhận và thi hành
quyết định của trọng tài nớc ngoài (sau
đây gọi là Công ớc New York 1958).
Khi gia nhập Công ớc New York 1958,
Nhà nớc Việt Nam đ tuyên bố ba điểm
chung" (từ Điều 1 đến Điều 9). Chơng
này quy định cách hiểu khái niệm quyết
định của trọng tài nớc ngoài; các nguyên
tắc công nhận và thi hành quyết định của
trọng tài nớc ngoài; quyền yêu cầu công
nhận và cho thi hành quyết định; quy
định các nguyên tắc bảo đảm quyền
kháng cáo, kháng nghị; bảo đảm hiệu lực
của quyết định của tòa án Việt Nam công
nhận và cho thi hành quyết định của trọng
tài nớc ngoài; bảo đảm việc chuyển tiền,
tài sản thi hành quyết định của trọng tài
nớc ngoài; quy định việc thông báo kết
quả xét đơn yêu cầu; quy định về lệ phí.
Chơng II có tiêu đề "Xét đơn yêu cầu
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
quyết định của trọng tài nớc ngoài" (từ thông tin
Tạp chí luật học - 43
Điều 10 đến Điều 20). Chơng này quy
định: Các yêu cầu đối với đơn yêu cầu
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
quyết định của trọng tài nớc ngoài; các
giấy tờ kèm theo đơn yêu cầu; các thủ tục
chuyển hồ sơ cho tòa án; tòa án thụ lí hồ
sơ; chuẩn bị xét đơn yêu cầu; phiên tòa
xét đơn yêu cầu; các trờng hợp không
Ngay trong Điều 1 Pháp lệnh 1993 và
Điều 1 Pháp lệnh 1995 đ định nghĩa:
"Bản án, quyết định dân sự của tòa án
nớc ngoài" và "Quyết định của trọng tài
nớc ngoài".
2.1. Điều 1 Pháp lệnh 1993 định
nghĩa "Bản án, quyết định dân sự của tòa
án nớc ngoài, trong Pháp lệnh này, đợc
hiểu là bản án, quyết định về dân sự, hôn
nhân và gia đình, lao động, quyết định về
tài sản trong bản án, quyết định hình sự
và bản án, quyết định khác của tòa án
nớc ngoài mà pháp luật Việt Nam quy
định là bản án, quyết định dân sự".
Định nghĩa này đợc xây dựng dựa
hoàn toàn vào định nghĩa "Bản án, quyết
định dân sự của tòa án" đợc quy định
trong Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày
17/4/1993 và phù hợp với pháp luật hiện
hành của Việt Nam về bản án, quyết định
dân sự.
Tuy vậy, Pháp lệnh 1993 và các văn
bản pháp luật liên quan không quy định
rõ "bản án, quyết định khác của tòa án
nớc ngoài mà pháp luật Việt nam quy
định là bản án, quyết định dân sự" là
những bản án, quyết định về vấn đề gì.
Một câu hỏi rất dễ đặt ra ở đây là liệu các
bản án, quyết định về kinh tế, thơng mại
của tòa án nớc ngoài có đợc pháp luật
Pháp lệnh 1995 thì Việt Nam đ thừa
nhận sự tồn tại của trọng tài thờng trực
(trọng tài định chế) và trọng tài theo vụ
việc (trọng tài ad hoc).
Tuy vậy, Pháp lệnh 1995 chỉ đề cập
các quyết định của trọng tài nớc ngoài
do các bên lựa chọn để giải quyết tranh
chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật
thơng mại. Liệu khái niệm "quan hệ
pháp luật thơng mại" ở Công ớc New
York 1958 và Pháp lệnh 1995 đợc hiểu
là các quan hệ đợc hình thành, thay đổi
hoặc chấm dứt trên cơ sở các quy định
của Luật thơng mại đợc Quốc hội nớc
Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam
thông qua ngày 10/5/1997 hay không?
Câu trả lời không giản đơn cần có giải
thích chính thức của ủy ban thờng vụ
Quốc hội.
3. Về nguyên tắc công nhận và thi
hành bản án, quyết định của tòa án và
trọng tài nớc ngoài
3.1. Theo quy định tại Điều 2 Pháp
lệnh 1993, tòa án Việt Nam chỉ xem xét
để công nhận và cho thi hành bản án,
quyết định dân sự của tòa án nớc ngoài
tại Việt Nam trong trờng hợp giữa Việt
Nam và nớc ngoài hữu quan có điều ớc
quốc tế có hiệu lực về vấn đề này. Trong
trờng hợp giữa Việt Nam và nớc ngoài
lệnh 1995, tòa án Việt Nam xem xét việc
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
quyết định của trọng tài nớc ngoài trong
trờng hợp quyết định đó đợc tuyên tại
nớc hoặc của trọng tài của nớc mà Việt
Nam và nớc đó đ kí kết hoặc cùng
tham điều ớc quốc tế về vấn đề này.
Quyết định của trọng tài nớc ngoài
cũng có thể đợc tòa án Việt Nam xem
xét công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam trên cơ sở có đi có lại mà không đòi
hỏi phải có điều kiện kí kết, tham gia
điều ớc quốc tế. Tuy vậy, đến nay cha
có văn bản pháp luật riêng quy định cơ
quan có thẩm quyền xác định sự có đi có thông tin
Tạp chí luật học - 45
lại trong trờng hợp đ nêu ở trên.
Quyết định của trọng tài nớc ngoài
đợc thi hành tại Việt Nam sau khi đợc
tòa án Việt Nam công nhận và cho thi
hành; việc thi hành phải tuân theo quy
định của pháp luật Việt Nam về thi hành
bản án, quyết định dân sự và các quy định
của Pháp lệnh 1995.
4. Về thủ tục và trình tự xét đơn
yêu cầu công nhận và cho thi hành bản
xét.
Thứ t, bản án, quyết định của tòa án
và trọng tài nớc ngoài đ đợc tòa án
Việt Nam công nhận và cho thi hành tại
Việt Nam thì có hiệu lực pháp luật tại
Việt Nam nh bản án, quyết định của tòa
án Việt Nam đ có hiệu lực pháp luật; các
đơng sự phải nghiêm chỉnh thi hành, các
cơ quan nhà nớc, tổ chức kinh tế, tổ
chức x hội, đơn vị vũ trang nhân dân và
mọi công dân phải tôn trọng. Trong
trờng hợp tổ chức, cá nhân phải thi hành
không tự nguyện chấp hành quyết định đ
có hiệu lực của tòa án Việt Nam thì bị áp
dụng các biện pháp cỡng chế theo quy
định của pháp luật Việt Nam.
Thứ năm, Bộ t pháp Việt Nam là cơ
quan đầu mối trong việc tiếp nhận hồ sơ,
giấy tờ yêu cầu công nhận và cho thi
hành bản án, quyết định của tòa án và
trọng tài nớc ngoài, kiểm tra tính hợp
pháp, hợp thức của các giấy tờ, hồ sơ,
thông báo kết quả giải quyết đơn yêu cầu,
đơn kháng cáo, chuyển hồ sơ cho tòa án
có thẩm quyền giải quyết theo đúng quy
định của Pháp lệnh 1993, Pháp lệnh 1995
và xử lí các yêu cầu cụ thể của tổ chức, cá
nhân trong và ngoài nớc liên quan đến
việc công nhận và thi hành bản án, quyết
định của tòa án và trọng tài nớc ngoài tại
án sẽ ra quyết định về việc đình chỉ việc
xét đơn hoặc mở phiên tòa xét đơn yêu
cầu. Trong trờng hợp hồ sơ có điểm
cha rõ, cần giải thích hoặc bổ sung tài
liệu thì có thể kéo dài tối đa thêm 2 tháng
nữa.
- 1 tháng để mở phiên tòa, kể từ ngày
có quyết định mở phiên tòa xét đơn yêu
cầu
+ Pháp lệnh 1995 quy định giảm 50%
số ngày nói trên đối với việc chuẩn bị xét
đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành
quyết định của trọng tài nớc ngoài, tức 2
tháng để ra quyết định cần thiết và 15
ngày để mở phiên tòa.
Thứ hai, về các trờng hợp không
công nhận bản án, quyết định của tòa án
và trọng tài nớc ngoài,
Pháp lệnh 1993 quy định 6 nhóm
trờng hợp cơ bản sau:
- Bản án, quyết định cha có hiệu lực
pháp luật theo pháp luật của nớc có tòa
án đ tuyên bản án, quyết định đó;
- Ngời phải thi hành hoặc ngời đại
diện hợp pháp của họ vắng mặt tại phiên
tòa của tòa án nớc ngoài do không đợc
triệu tập hợp lệ;
- Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử
riêng biệt của tòa án Việt Nam;
- Về cùng vụ án này có bản án, quyết
đợc tuyên nếu các bên không chọn pháp
luật áp dụng cho thỏa thuận đó;
b. Tổ chức, cá nhân phải thi hành
không đợc thông báo kịp thời và hợp
thức về việc chỉ định trọng tài viên, về thủ
tục giải quyết vụ tranh chấp tại trọng tài
hoặc vì nguyên nhân chính đáng khác mà
không thể thực hiện đợc quyền tố tụng
của mình.
c. Quyết định của trọng tài nớc ngoài
đợc tuyên về một vụ tranh chấp không
đợc các bên yêu cầu giải quyết hoặc
vợt quá yêu cầu của các bên kí kết thỏa
thuận trọng tài. Trong trờng hợp có thể
tách đợc phần quyết định về vấn đề đ thông tin
Tạp chí luật học - 47
đợc yêu cầu và phần quyết định về vấn
đề không đợc yêu cầu giải quyết tại
trọng tài thì phần quyết định về vấn đề
đợc yêu cầu giải quyết có thể đợc công
nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
d. Thành phần của trọng tài, thủ tục
giải quyết tranh chấp của trọng tài không
phù hợp với thỏa thuận trọng tài hoặc với
pháp luật của nớc nơi quyết định của
trọng tài đợc tuyên nếu thỏa thuận trọng
nhận và cho thi hành bản án, quyết định
của tòa án và trọng tài nớc ngoài có hiệu
lực pháp luật, tòa án Việt Nam đ ra
quyết định đó gửi bản sao quyết định của
mình và bản sao bản án, quyết định của
tòa án, trọng tài nớc ngoài cho cơ quan
thi hành án theo quy định của pháp luật
Việt Nam về thi hành án dân sự.
Việc thi hành bản án, quyết định của
tòa án và trọng tài nớc ngoài đ đợc tòa
án Việt Nam công nhận phải tuân theo
các quy định của Pháp lệnh thi hành án
dân sự ngày 17/4/1993 và các văn bản
liên quan.
Nhà nớc Cộng hòa x hội chủ nghĩa
Việt Nam bảo đảm việc chuyển tiền, tài
sản có đợc từ việc thi hành bản án, quyết
định của tòa án và trọng tài nớc ngoài từ
Việt Nam ra nớc ngoài. Việc chuyển
tiền, tài sản đó đợc thực hiện theo quy
định của pháp luật Việt Nam về chuyển
tiền, tài sản từ Việt Nam ra nớc ngoài.
6. Kết luận
Việt Nam đ có khá đầy đủ các văn
bản quy phạm pháp luật về công nhận và
thi hành các bản án, quyết định của tòa
án và trọng tài nớc ngoài. Các văn bản
này cơ bản đ bảo đảm đợc quyền và lợi
ích chính đáng cho các bên liên quan
trong các vụ tranh chấp. Trong tình hình