.Mở đầu
Cùng với xu thế của thời đại và thế giới thì việc chuyển sang nền kinh
tế thị trờng của Việt Nam là tất yếu. Vào những năm 70 , cuối những năm 80
của thế kỷ XX , khi mà những khủng hoảng kinh tế trong hệ thống các nớc xã
hội chủ nghĩa đã phát triển đến đỉnh điểm, Việt Nam cũng không nằm ngoài
tình trạng này . Trớc tình hình này , Đảng và Nhà nớc ta đã quyết định chuyển
nền kinh tế đất nớc từ cơ chế tập trung quan liêu , bao cấp sang nền kinh tế thị
trờng, mà mốc đánh dấu là Đại hội Đảng VI (tháng 12 năm 1986).
Kinh tế thị trờng là một nền kinh tế phát triển nhất cho tới nay với rất
nhiều mặt u đIểm. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị tr-
ờng , nớc ta không tránh khỏi những khó khăn . Theo quan đIển triết học duy
vật biện chứng thì bất cứ một sự vật , hiện tợng nào cũng chứa đựng trong nó
những mâu thuẫn của các mặt đối lập . Điều này cũng đúng trong nền kinh tế
thị truờng ở Việt Nam hiện nay, trong lòng nó đang chứa đựng các mâu thuẫn
. Trong giai đoạn chuyển tiếp này , trớc hết đó là mâu thuẫn của sự xuất hiện
cơ chế mới của nền kinh tế thị trờng và cơ chế cũ trong nền kinh tế tập trung ,
quan liêu , bao cấp ; mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển với kiến trúc thợng
tầng về mặt chính trị , pháp lý , quan điểm , t tởng . Mâu thuẫn giữa tính tự
phát của sự phát triển kinh tế thị trờng (theo chủ nghĩa t bản) với định hớng xã
hội chủ nghĩa , mâu thuẫn giữa mặt tích cực và mặt tiêu cực của kinh tế thị tr-
ờng
Những mâu thuẫn này đang hiện diện và tác động mạnh mẽ tới quá
trình phát triển nền kinh tế đất nớc . Việc nhận thức rõ vấn đề này và giải
quyết chúng có ý nghĩa vô cùng quan trọng để thúc đẩy sự phát triển nền kinh
tế Việt Nam hiện nay . Đây là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và Nhà nớc ta .
Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề này và bằng những kiến
thức thu đợc trong năm học vừa qua tôi chọn đề tài:
"Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập với việc phân tích
hệ thống các mâu thuẫn biện chứng của nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam
hiện nay.
I.Cơ sở lý luận.
Vì thế đấu tranh là cha đẻ của tất cả , là ông hoàng của tất cả.
Trải qua hơn một ngàn năm đêm dài trung cổ , nền triết học thời kỳ
này chủ yếu là triết học linh viện tập trung vào cái chung và cái riêng . Sang
đến triết học Tây Âu thời phục hng và cận đại cùng với những thành tựu về
khoa học tự nhiên thì sự đấu tranh giữa triết học duy tâm và triết học duy vật
cũng diễn ra hết sức gay gắt . Nhng các quan đIểm thời kỳ này vẫn rơi nhiều
vào siêu hình , máy móc .Tới triết học cổ điển Đức mới thực sự bao hàm
những t tởng triết học tiến bộ . Cách mạng và khoa học . Triết học cổ diển Đức
đã đạt đợc trình độ khái quát và t duy trừu tợng rất cao với những hệ thống
kết cấu chặt chẽ , thể hiện một trình độ t duy tài biện thâm cao vợt xa tính trực
quan , siêu hình của nền triết học Anh Pháp ở thế kỷ XVII XVIII, do
vậy các t tởng triết học về mâu thuẫn đã có những bớc tiến đáng kể Đại biểu
2
đặc trng của triết học cổ điển Đức là Hêghen .
I.2.Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mâu thuẫn.
Mỗi sự vật hiện tợng đang tồn tại đều là một thể thống nhất đợc cấu
thành bởi các mặt đối lập , các thuộc tính , các khuynh hớng phát triển ngợc
chiều nhau , đối lập nhau
*Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập .
Khái niệm mặt đối lập trong quy luật mâu thuẫn là sự khái quát các
mặt , các khuynh hớng , các thuộc tính trái ngợc nhau trong một chỉnh thể làm
nên sự vật , hiện tợng . Mỗi mâu thuẫn phải có hai mặt đối lập . Nhng không
phải hai mặt đối lập bất kỳ của một mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn
. Chỉ những mặt đối lập nào nằm trong một chỉnh thể có quan hệ khăng khít
với nhau , tác động qua lại lẫn nhau mới tạo thành mâu thuẫn . Mâu thuẫm là
một chỉnh thể , trong đó các mặt đối lập vừa đấu tranh , vừa thống nhất với
nhau .
Trong một mâu thuẫn , hai mặt đối lập có quan hệ thống nhất với
nhau. Khái niệm thống nhất trong quy luật mâu thuẫn có nghĩa là hai mặt
đối lập liên hệ với nhau, ràng buộc nhau , quy định nhau ,mặt này lấy mặt kia
chiều nhau , tạo thành động lực bên trong của sự phát triển thì hai mặt đối lập
đó mới hình thành bớc đầu của một mâu thuẫn . Khi hai mặt đối lập của một
mâu thuẫn phát triển đến xung đột gay gắt , nó biến thành độc lập . Sự vật cũ
mất đi , sự vật mới hình thành . Sau khi mâu thuẫn đợc giải quyết sự thống
nhất của hai mặt đối lập cũ đợc thay thế bởi sự thống nhất của hai mặt đối lập
mới , hai mặt đối lập mới lại đấu tranh chuyển hoá tạo thành mâu thuẫn .Mâu
thuẫn đợc giải quyết , sự vật mới xuất hiện . Cứ nh thế đấu tranh giữa các mặt
đối lập làm cho sự vật biến đổi không ngừng từ thấp đến cao . Chính vì vậy
Lênin khẳng định sự phát triển là một cuộc đấu tranh của các mặt đối lập .
Khi bàn về mối quan hệ giữa sự thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập , Lênin chỉ ra rằng :Mặc dù thống nhất chỉ là điều kiện để sự vật tồn
tại với ý nghĩa là chính nó nhờ có sự thống nhất của các mặt đối lập mà
chúng ta nhận biết đợc sự vật , sự vật tồn tại trong thế giới khách quan . Song
bản thân sự thống nhất chỉ là tạm thời . Đấu tranh của các mặt đối lập mới là
tuyệt đối . Nó diễn ra thờng xuyên , liên tục trong suốt quá trình tồn tại của sự
vật . Kể cả trong trạng thái ổn định , cũng nh khi chuyển hoá nhảy vọt về
chất . Lênin viết :sự thống nhất (phù hợp , đồng nhất ,tác dụng ngang nhau )
của các mặt đối lập là có điều kiên , tạm thời , thoang qua trong tơng đối . Sự
đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng nh sự phát
triển , sự vận động tuyệt đối.
*Chuyển hóa của các mặt đối lập .
Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đối lập đều dẫn tới sự
chuyển hoá giữa chúng . Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển
đến một trình độ nhất định , hội đủ các điều kiện cần thiết mới dẫn đến
chuyển hoá , bài trừ , phủ định lẫn nhau . Trong giới tự nhiên , chuyển hoá của
các mặt đối lập thờng diễn ra một cách tự phát , còn trong xã hội chuyển hoá
4
của các mặt đối lập diễn ra nhất thiết phải thông qua hoạt động có ý thức của
con ngời
Do đó , không nên hiểu sự chuyển hoá của các mặt đối lập chỉ là sự
độ phát triển nhất của văn minh nhân loại .Từ trớc đến nay nó tồn tại và phát
triển chủ yếu dới chủ nghĩa t bản. Ngày nay , kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa
đã phát triển tới trình độ khá cao và phồn thịnh ở các nớc t bản phát triển
Tuy nhiên, kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa không phải là vạn năng.
Bên cạnh mặt tích cực nó còn có mặt trái , có khuyết tật từ trong bản chất của
nó do chế độ sở hữu t bản t nhân về t liệu sản xuất chi phối. Cùng với sự phát
triển của lực lợng sản xuất , càng ngày mâu thuẫn của chủ nghĩa t bản càng
bộc lộ sâu sắc , không giải quyết đợc các vấn đề xã hội , làm tăng thêm bất
công và bất ổn của xã hội , đào sâu thên hố ngăn cách giữa ngời giàu và ngời
nghèo. Chính vì thế mà , nh C.Mác đã phân tích và dự báo , chủ nghĩa t bản tất
yếu phải đợc thay thế bởi một phơng thức sản xuất và chế độ mới văn minh
hơn , nhân đạo hơn. Chủ nghĩa t bản , mặc dù đã và đang tìm mọi cách để tự
điều chỉnh và tự thích nghi, nhng do mâu thuẫn từ trong bản chất của nó , chủ
nghĩa t bản không thể tự giải quyết đợc , có chăng nó chỉ tạm thời xoa dịu đợc
chừng nào mâu thuẫn mà thôi . Nền kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa hiện đại
đang ngày càng thể hiện xu hớng tự phủ định và tự tiến hoá để chuyển sang
một giai đoạn hậu công nghiệp , theo xu hớng xã hội hoá . Đây là tất yếu
khách quan , là quy luật phát triển của xã hội . Nhân loại muốn tiến lên , xã
hội muốn phát triển thì dứt khoát không thể dừng lại ở kinh tế thị trờng t bản
chủ nghĩa .
Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô Viết là một kiểu tổ chức xã hội , tổ
chức kinh tế muốn sớm khắc phục khuyết tật của chủ nghĩa t bản, muốn nhanh
chóng xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn , một phơng thức sản xuất văn minh
hiện đại hơn chủ nghĩa t bản . Nhng có lẽ , do nôn nóng , làm trái quy luật ,
không năng động , kịp thời điều chỉnh khi cần thiết cho nên rút cục đã không
thành công . Liên Xô khắc phục sự nóng vội bằn cách đa ra thực hiện chính
sách kinh tế mới (NEP) mà nội dung cơ bản của nó là khuyến khích phát
triển kinh tế hàng hoá, chấp nhận ở mức độ nhất định cơ chế thị trờng Muốn
thế , Nga cần phải sử dụng quan hệ tiền tệ hàng hoá và phát triển kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần , đặc biệt là sử dụng chủ nghĩa t bản nhà nớc để
và con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam , Đại hội VI của Đảng cộng
sản Việt Nam(tháng 12 năm 1986) đã đề ra đờng lối đổi mới toàn diện đất nớc
nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội . Đại
hội đa ra những quan niệm mới về con đờng , phơng pháp xây dựng chủ nghĩa
xã hội , đặc biệt là quan niệm về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong thời
kỳ quá độ , về cơ cấu kinh tế , thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất
hành hoá và thị trờng . Phê phán triệt để cơ chế tập trung , quan liêu , bao cấp
7
và khẳng định chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh. Đại hội VI là một mốc
đánh dấu bớc chuyển quan trọng trong nhận thức của Đảng cộng sản Việt
Nam về chủ nghĩa xã hội và con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam .
*.Bản chất và những đặc trng của kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam
Nói kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa có nghĩa đây không
phải kinh tế thị trờng tự do theo kiểu t bản chủ nghĩa , cũng không phải kinh tế
bao cấp quản lý theo kiểu tập trung quan liêu bao cấp và cũng cha hoàn toàn
là kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa ,bởi vì Việt Nam đang ở trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội , vừa có vừa cha có các yếu tố của chủ nghĩa xã hội .
Chủ trơng phát triển kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa là sự
tiếp thu có chọn lọc thành tựu của văn minh nhân loại , phát huy vai trò tích
cực của kinh tế thị trờng trong việc thúc đẩy sức sản xuất , xã hội hoá lao động
, cả tiến kỹ thuật công nghệ , nâng cao chất lợng sản phẩm , tạo ra nhiều
của cải , góp phần làm giàu cho xã hội và cải thiện đời sống nhân dân : đồng
thời phải có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế
thị trờng . Đây cũng là sự lựa chọn tự giác con đờng và mô hình phát triển trên
cơ sở quán triệt lý luận Mác Lênin nắm bắt đúng quy luật khách quan và
vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam .
Mục đích của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa là phát
triển lực lợng sản xuất , phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội , nâng cao đời sống nhân dân .Phát triển lực lợng sản
sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trờng
trong thời đại hiện nay . Đảng cộng sản Việt nam trên cơ sở nhận thức tính
quy luật phát triển của thời đại và sự khái quát đúc rút kinh nghiệm phát triển
kinh tế thị trờng thế giới , đặc biệt là từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Trung Quốc và Việt Nam , để đa ra chủ trơng phát triển nền kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa , nhằm sử dụng kinh tế thị trờng để thực hiện mục
tiêu từng bớc tiến lên chủ nghĩa xã hội . Kinh tế thị trờng định hớng xã hội
chủ nghĩa là mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội . Đây
là một kiểu kinh tế thị trờng mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trờng .
II.2.Những mâu thuẫn tồn tại trong nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam .
*Mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất .
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần , vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc , theo
định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta hiện nay , vấn đề lực lợng sản xuất và
quan hệ sản xuất là một vấn đề hết sức phức tạp , mâu thuẫn giữa hai lực lợng
này và những biểu hiện của nó xét trên phơng diện triết học Mac-Lênin , theo
đó lực lợng sản xuất là nội dung của sự vật còn quan hệ sản xuất là ý thức của
sự vật , lực lợng sản xuất là yếu tố quyết định quan hệ sản xuất , lực lợng sản
xuất là yếu tố động , luôn thay đổi. Khi lực lợng sản xuất phát triển đến một
trình độ nhất định thì quan hệ sản xuất sẽ không còn phù hợp nữa và trở thành
yếu tố kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất . Để mở đờng cho lực lợng
sản xuất phát triển , cần thay thế quan hệ sản xuất cũ băng quan hệ sản xuất
mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất .Chính
9
quan hệ sản xuất tự phát triển để để phù hợp với lực lợng sản xuất , quan hệ
sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất , đó là quy
luật kinh tế chung cho sự phát triển của xã hội .
Quá trình mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản
xuất lạc hậu kìm hãm nó diễn ra gay gắt , quyết liệt và cần đợc giải quyết .
Nhng giải quyết nó bằng cách nào ? Đó chính là các cuộc cách mạng xã hội
10
hữu t nhân của những ngời sản xuất nhỏ. Thực tế đòi hỏi giai cấp công nhân
phải có thái độ giải quyết khác nhau. Đối vơí hình thức sở hữu t nhân t bản
chủ nghĩa bằng cách tớc đoạt hoặc chuộc lại để đa thẳng lên sở hữu toàn dân ,
còn đối với hình thức sở hữu t nhân của những ngời sản xuất nhỏ thì không thể
dùng những biện pháp nh trên , mà pỉai kiên trì giáo dục , thuyết phục tổ chức
họ trên cơ sở tự nguyện chuyển lên sở hữu tập thể bằng việc hợp tác hoá hai
hình thức . Sở hữu đó là đặc thù tiến lên chủ nghĩa cộng sản của giai cấp công
và nông dân tập thể.
Các hình thức sở hữu trớc đây và trong thời kỳ quá độ chuyển sang
kinh tế thị trờng ở Việt Nam.
Hơn 10 năm đổi mới đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta
đã chứng minh tính đúng đắn của đờng lối đổi mới , của chính sách đa dạng
hoá các hình thức sở hữu do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo toàn dân thực hiện
. Thực tiễn đã cho thấy một nền kinh tế nhiều thành phần đơng nhiên phải bao
gồm nhiều hình thức sở hữu , chứ không phải chỉ bao gồm hai hình thức sở
hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể nh quan niệm trớc đây .
Trong giai đoạn hiện nay , nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
định hớng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng và phát triển bao gồm
nhiều hình thức sở hữu nh: sở hữu toàn dân , sở hữu tập thể , sở hữu nhà nớc ,
sở hữu cá thể và sở hữu hỗn hợp . Trong các hình thức sở hữu này , khái quát
lại chỉ có hai hình thức sở hữu đó là : công hữu và t hữu , còn các hình thức sở
hữu khác chỉ là hình thức trung gian, quá độ hoặc hỗn hợp . ở đây mỗi hình
thức sở hữu lại có nhiều hình thức biểu hiện về trình độ thể hiện khác nhau.
Chúng đợc hình thành trên cơ sở có cùng bản chất kinh tế và tuỳ theo trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất và năng lực quản lý .
Về sở hữu toàn dân.
Trớc đây , ngời ta quan niệm sở hữu toàn dân trùng với sở hữu nhà nớc
. Nền kinh tế nhiều thành phần đơng nhiên bao gôm nhiều hình thức sở hữu,
trong đó kinh tế quốc doanh giữ vị trí then chốt liên kết và hỗ trợ các thành
với chế độ công hữu dới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Và
cũng bởi sở hữu toàn dân gắn kết với khu vực kinh tế quốc doanh mà chúng ta
ra sức quốc doanh hoá nền kinh tế với niền tin cho rằng chỉ có nh vậy mới có
chủ nghĩa xã hội nhiều hơn. Thực ra , với quan niệm đó, sở hữu toàn dân
không trở thành sở hữu của một chủ thể cụ thể nào cả.
Trong xã hội mà nhà nớc còn tồn tại thì sở hữu toàn dân cha có điều
kiện vận động trên bề mặt của đời sống kinh tế nói chung. Hình thức sở hữu
nhà nớc xét về tổng thể , mới chỉ là kết cấu bên ngoài của sở hữu . Còn kết cấu
bên trong của sở hữu nhà nớc ở nớc ta có lẽ chủ yếu thể hiện ở quyền sở hữu
đó , ở khu vực kinh tế quốc doanh , khu vực các doanh nghiệp nhà nớc .
Về sở hữu tập thể .
ở nớc ta trớc đây , sở hữu tập thể chủ yếu tồn tại dới hình thức hợp tác
xã (gồm cả hợp tác xã nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ) với nội dung là
cả giá trị và giá trị sử dụng đều là của chung mà các xã viên là chủ sở hữu
12
chính . Vì vậy, với hình thức sở hữu này , quyền mua bán hoặcchuyển nhợng t
liệu sản xuất , trong thực tế sản xuất và lu thông hàng hoá ở nớc ta đã diễn ra
hêt sức phức tạp. Quyền của các tập thể sản xuất thờng rất hạn chế , song đôi
khi lại có tình trạng lạm quyền. Sự không xác định , sự nhập nhằng giữa quyền
sở hữu nhà nớc và sở hữu t nhân trá hình cũng là hiện tợng phổ biến . Để thoát
khỏi tình trạng đó, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trờng hiện naycần phải
xác định rõ quyền mua bán và chuyển nhợng t liệu sản xuất đối với các tập thể
sản xuất kinh doanh .Chỉ có nh vậy , sở hữ tập thể mới có thể trở thành hình
thức sở hữu có hiệu quả.
Chúng ta biết , hợp tác xã không phải là hình thức riêng có đặc trng
cho chủ nghĩa xã hội , nhng nó là một hình thức sỏ hữu kinh tế tiến bộ trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội . Vì vậy , chúng ta phải duy trì và phát
triển hơn nữa khi xây dựng chủ nghĩa xã hội nh V.I.Lênin đã khẳng định :chế
dộ của ngời xã viên hợp tác xã văn minh là chế độ xã hội chủ nghĩa .
Hợp tác xã là nhu cầu thiết thực của nền kinh tế hộ gia đình , của nền
độ văn minh và phát triển là nhân tố phát triển sức sản xuất , tăng trởng kinh tế
, thúc đảy xã hội phát triển . Tuy nhiên , kinh tế thị trờng cũng có những
khuyết đIểm của nó nh cạnh tranh lạnh lùng , tính tự phát mù quáng dẫn đến
sự phá sản , thất nghiệp , khủng hoảng chu kỳ.
Xuất phát từ sự phân tích trên đây , chúng ta thấy rằng đổi mới ở nớc
ta hiện nay , không thể xây dựng và phát triển con ngời nếu thiếu yếu tố kinh
tế thị trờng . Do hậu quả của nhiều năm chiến tranh , của nền kinh tế kém phát
triển , của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp nền kinh tế nớc ta đã tụt hậu rất
xa so với khu vực và thế giới . Trong tình hình đó thì kinh tế thị trờng là nhân
tố rất quan trọng đa nền kinh tế nớc ta thoát khỏi khủng hoảngvà phát triển
phục hồi sản xuất , đẩy mạnh tốc độ phát triển, bắt kịp bớc bớc tiến của thời
đại.
Trên cơ sở đó đời sống nhân dân ngày càng đợc cải thiện và nâng cao , những
nhu cầu sinh hoạt vật chất cơ bản hàng ngày đợc đáp ứng đầy đủ và nhanh
chóng . Con ngời không thể có cơ thể khoẻ mạnh nếu thiếu ăn , thiếu mặc,
thiếu các điều kiện chăm sóc sức khoẻ hiện đại . Con ngời không thể có trí tuệ
minh mẫn , phát triển các điều kiện vật chất tiến hành các hoạt động học tập ,
nghiên cứu khoa học không đợc đáp ứng . Việc xây dựng , củng cố hoàn thiện
cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa
cũng đồng nghĩa với việc tạo ra điều kiện vật chất cơ bản để thực hiện chiến l-
ợc xây dựng con ngời cho thế kỷ XXI.
Trong năm qua , kinh tế thị trơng ở nớc ta đã đợc nhân dân hởng ứng
rộng rãi và đi vào cuộc sống rất nhanh chóng , góp phần khơi dậy nhiều tiềm
năng sáng tạo , làm cho nền kinh tế sống động hơn . Đây là những kết quả rất
đáng mừng , đáng đợc phát huy . nó thể hiện sự phát hiện và vận dụng đúng
đắn các quy luật khách quan của xã hội . Quá trình biện chứng đi lên chủ
nghĩa xã hội từ khách quan đang trở thành nhận thức chủ quan trên quy mô
toàn xã hội .
14
Bên cạnh đó , có một khía cạnh khác cần đề cập tới : kinh tế thị trờng
quýêt bằng vai trò lãnh đạo của Đảng , bằng sự quản lý của nhà nớc theo định
hớng xã hội chủ nghĩa . Đảng ta xác định :sản xuất hàng hoá không đối lập
với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại ,
tồn tại khách quan , cần thiết cho xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ
nghĩa xã hội đã đợc xây dựng .Nh vậy , Đảng ta đã vạch rõ sự thống nhất
15
giữa kinh tế thị trờng và mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội . Việc áp dụng
cơ chế thị trờng đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý tầm vĩ mô của Nhà n-
ớc , đồng thời phải xác nhận đầy đủ quyền tự chủ của các đơn vị sản xuất
khinh doanh . Thực hiện tốt những vấn đề này sẽ phát huy đợc những tác động
to lớn cũng nh ngăn ngừa những hạn chế , khắc phục đợc những tiêu cực ,
khiếm khuyết của kinh tế thị trờng . Các hoạt động sản xuất kinh doanh phải
hớng vào phục vụ công cuộc xây dựng nguồn lực con ngời. Cần phải tiến hành
các hoạt động văn hoá giáo dục nhằm loại bỏ tâm lý sùng bái đồng tiền , bất
chấp đạo lý , coi thờng các giá trị nhân văn , phải ra sức phát huy các giá trị
tinh thần nhân đạo , thẩm mỹ , các di sản văn hoá nghệ thuật của dân tộc nh
nội dung của Nghị quyết trung ơng V đã nêu. Đây chính là công cụ , phơng
tiện quan trọng để tác động , góp phần giải quyết các mâu thuẫn đã nêu trên
*Mâu thuẫn giữa cơ chế cũ và cơ chế mới.
Trải qua một thời gian dài nền kinh tế đợc điều khiển bằng cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp , nền kinh tế hoạt động theo mênh lệnh bắt buộc đã
tạo ra một phong cách làm việc trì trệ , thiếu trách nhiệm , sản xuất đình đốn .
Chính vì vậy, khi chuyển sang nền kinh ttế thị trờng , nền kinh tế mở đã khiến
nền kinh tế gặp nhiều khó khăn.
Các hoạt động kinh tế vẫn còn mang nặng tính tập trung quan liêu bao
cấp . Các hoạt động thông qua các cơ quan trung gian nhà nớc vẫn còn đầy
dẫy những thủ tục phiền hà gây tốn thời gian vô ích , cán bộ quan liêu cửa
quyền dẫn đến hạn chế sự phát triển của nền kinh tế . Hoạt động của các cơ
quan nhà nớc khi chuyển sang kinh tế thị trờng không bắt kịp nhịp độ sản xuất
do máy móc .
kinh tế chi phối bất bình đẳng và cả chiến lợc phát triển kinh tế của nớc đó.
Ngày nay, trong giới nớc ngoài cho rằng :Không có mâu thuẫn ,giữa tăng
trởng kinh tế và công bằng xã hội . Nhận thức này có tính tiến bộ bởi : ở nhiều
nớc trong quá trình phát triển kinh tế của mình đạt đợc tăng trởng kinh tế cao
và công bằng xã hội luôn luôn đợc cải thiên nh: Đài Loan , Hàn Quốc ,hay nh
ở một số nớc ASEAN sau này .Mặc dù vậy ,còn nhiều nớc đang phát triển
loay hoaygiải quyết tăng trởng kinh tế , công bằng xã hội hoặc cha gắn liền
phảt triển kinh tế với công bằng xã hội . Hay cái gọi là tăng trởng kinh tế và
công bằng xã hội lại gắn liền với khủng hoảng kinh tế theo chu kỳ. ở các nớc
t bản thực chất là biểu hiện ra bên ngoài sự mất cân đối của các mục tiêu tăng
trởng kinh tế và công bằng xã hội nh cuộc khủng hoảng kinh tế thừa khách
quan nhất đó là hệ quả của việc tập trung quá mức tài sản , vốn liếng trong tay
một số ngời giữ vai trò làm cung cho nền kinh tế , trong khi ngời tiêu dùng
với quy mô thu nhập thấp hơn nhiều và với nhu cầu có khả năng thanh toán
còn hạn chế của họ cái quyết định quy mô thực sự của thị trờng đóng vai trò
là ngời thực hiện cầu . Mất cân bằng cung-cầu là không thể tránh khỏi và đó
là căn bệnh nan y của chủ nghĩa t bản.
Thực tiễn khách quan khẳng định ,với bề dày kinh nghiệm lãnh đạo
17
cách mạng hơn 70 năm , bản lĩnh chính trị vững vàng , nhân quan chính trị sâu
sắc , sự nhạy cảm trớc thời cuộc , Đảng ta đã xác định hớng đi đúng đắn , tiến
bộ và cách mạng trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nớc ta
trong thế kỷ XXI và gắn liền tăng trởng kinh tế với tiến bộ xã hội . Để thực
hiện thành công mục tiêu này , trớc hết cần thấm nhuần quan điểm chỉ đạo
bao chùm: kiên định con đờng phát triển theo con đờng xã hội chủ nghĩa , có
mục tiêu dân giàu nớc mạnh , xa hội công bằng , dân chủ ,văn minh .Đây vừa
là mục tiêu , vừa là phơng tiện để thực hiện gắn bó keo sơn giữa giai cấp công
nhân , nông dân và lực lợng tri thức . Nói khác đi , căn cứ liên kết giai cấp ,
tránh phân hoá giai cấp là nội dung cốt lõi và tăng trởng kinh tế gắn liền với
công bằng xã hội ở Việt Nam . Thực hiện tăng trởng kinh tế gắn liền với công
ớc phát triển hội nhập với các quốc gia phát triển trên thế giới , ổn định kinh tế
, xã hội tiến lên xã hội chủ nghĩa .
19