LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay trên thị trường tồn tại rất nhiều phương tiện khác nhau để đáp ứng nhu
cầu đi lại của người tiêu dùng. Và chúng ta không thể không kể đến một phương
tiện phổ biến đó chính là xe máy. Đối với mọi người nói chung cũng như sinh viên
nói riêng, xe máy là một phương tiện đi lại được xem là thuận tiện nhất, tương đối
phù hợp về giá cả cũng như về hình thức.
Trong những năm gần đây,thị trường xe máy Việt Nam đã có sự thay đổi rất
lớn. Cụ thể là: sau khi công ty liên doanh Honda Việt Nam được thành lập và đi
vào hoạt động thì người tiêu dùng Việt Nam giờ đây đã thể sử dụng những chiếc xe
máy được sản xuất ngay tên lãnh thổ Việt Nam. Nhận thấy nhu cầu sử dụng xe máy
của người dân Việt Nam là rất lớn, một số hãng sản xuất xe máy khác cũng đã tiến
hành liên doanh với Việt Nam để thành lập công ty liên doanh sản xuất xe máy
như: Việt Nam Suzuki, Yamaha Motor Việt Nam,… Bên cạnh đó, trong 5 năm trở
lại đây, thị trường xe máy Việt Nam thêm đa dạng bởi những chiếc xe máy Trung
Quốc được nhập khẩu cũng như được sản xuất ồ ạt tại Việt Nam mà chất lượng của
nó thì không kiểm soát được. Trong khi đó, hàng loạt cơ sở lắp ráp xe gắn máy tại
Việt Nam ra đời và đến nay không ít trong số đó đã phải tạm đóng cửa hoặc hoạt
động cầm chừng. Chúng ta gặp phải tình trạng như trên là do đâu? Phải chăng đây
là câu hỏi lớn đối với những cử nhân kinh tế trong tương lai.
Đó cũng chính là lí do tôi chọn đề tài: “ Nâng cao sức cạnh tranh cuả các
dòng sản phẩm xe máy tại các doanh nghiệp lắp ráp xe máy ở Việt Nam hiện
nay”.
1
Để tiện cho quá trình nghiên cứu và theo dõi đề án của em có kết cấu như sau:
Chương I: Lí luận chung về sức cạnh tranh của sản phẩm.
Chương II: Thực trạng về sức cạnh tranh của các dòng sản phẩm xe máy tại
các doanh nghiệp lắp ráp xe máy ở Việt Nam hiện nay.
Chương III: Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của các dòng sản phẩm tại các
doanh nghiệp lắp ráp xe máy ở Việt Nam hiện nay.
Trong quá trình thực hiện đề án này em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của
Sức cạnh tranh: nhìn chung, từ khi xác định sức cạnh tranh của doanh
nghiệp phải xem xét đến năng lực và tiềm năng sản xuất kinh doanh.
Một doanh nghiệp được coi là có sức cạnh tranh khi các sản phẩm thay
thế hoặc các sản phẩm tương tự được đưa ra với mức giá thấp hơn sản
phẩm cùng loại hoặc cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính
3
về chất lượng và dịch vụ ngang bằng hoặc cao hơn. Theo diễn đàn cao
cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức hợp tác và phát triển kinh
tế (OECD) cho rằng: “ cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp,
ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao
hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Khái niệm này được coi là
phù hợp nhất vì nó đã sử dụng kết hợp cho cả ngành, doanh nghiệp,
quốc gia. Phản ánh được mối liên hệ giữa cạnh tranh quốc gia với cạnh
tranh của các doanh nghiệp tạo việc làm, tăng thu nhập và mức sống
nhân dân.
Năng lực cạnh tranh: khả năng giành được thị phần lớn trước các đối
thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại thị phần hay
toàn bộ thị phần của đối thủ.
Các cấp độ năng lực cạnh tranh: năng lực cạnh tranh có thể phân biệt
thành 4 cấp độ.
Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia.
Năng lực cạnh tranh cấp ngành.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa.
Chúng có mối tương quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp bị hạn chế khi năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và sản
phẩm của doanh nghiệp đó đều thấp. Tuy nhiên, trong đề tài của mình em xin được
đề cập sơ lược đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm còn năng lực cạnh tranh cấp
ngành có mối quan hệ và chịu ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và
của sản phẩm tương tự như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
3.1.Tính độc đáo.
Đây là tiêu chí thể hiện rõ nhất năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Trong một
xã hội tiêu dùng, khi vòng đời sản phẩm ngày càng ngắn lại, khi sự cạnh tranh về
chất lượng và giá cả được đẩy tới mức "kẻ tám lạng, người nửa cân" thì sự độc đáo
là yếu tố mà người tiêu dùng thường lựa chọn. Sự độc đáo có thể là kiểu dáng sản
phẩm. Sự độc đáo tạo ra một giá trị mới mà khách hàng muốn thông qua đó để thể
hiện giá trị của bản thân mình. Sự độc đáo về kiểu dáng ngày càng có "đất" phát
triển hơn khi sản phẩm gắn với một không gian nhất định như nhà hàng, khách sạn,
hội trường, hộ gia đình Các sản phẩm điện tử dân dụng, đồ gỗ nội thất thường
được thiết kế trên cơ sở nghiên cứu các không gian này. Sự độc đáo có thể là công
nghệ mới, và thường gắn với những tiện ích mới. Điều này thể hiện rõ ở các sản
phẩm phương tiện giao thông (máy bay, ôtô, xe máy ), sản phẩm điện tử dân dụng
(ti vi, tủ lạnh, máy giặt, máy bơm ), dụng cụ quang học (máy ảnh, máy quay phim,
phương tiện trắc địa ). Ở thị trường Việt Nam, nổi bật nhất là các sản phẩm ti vi,
máy giặt, điều hoà, máy ảnh, máy quay phim được các nhà sản xuất liên tục đưa
ra những tính năng, tiện ích mới rất thấp dẫn người tiêu dùng.
3.2.Chất lượng.
5
Thể hiện ở giá trị sử dụng và thời gian sử dụng. Chất lượng sản phẩm ngày nay
được hiểu một cách linh hoạt hơn, không chỉ có các chỉ tiêu kỹ thuật thuần tuý mà
gắn với từng đối tượng tiêu dùng. Nhà sản xuất thường chủ động nhằm vào một
phân khúc thị trường nào đó (có thể hiểu là một đối tượng khách hàng nhất định) để
đề ra chiến lược chất lượng của mình. Nhà sản xuất lớn thường chọn toàn bộ các
phân khúc thị trường, do đó có nhiều chiến lược chất lượng cho mỗi dòng sản phẩm
nhằm vào một phân khúc thị trường cụ thể. Chất lượng còn gắn với vòng đời sản
phẩm. Thí dụ sản phẩm máy ảnh tiêu thụ ở thị trường Việt Nam thường có vòng
đời từ 3 - 5 năm, hoặc từ 5 - 10 năm tuỳ theo đối tượng sử dụng (chơi ảnh hay làm
nghiệp vụ).
3.3. Giá.
Việc định giá cho sản phẩm gắn với giá trị sử dụng, thời gian sử dụng nhu cầu
- Phải gây được hiệu quả tốt theo phản ứng dây chuyền đến sự phát triển các
ngành công nghiệp khác hoặc có tác động lôi kéo các ngành khác phát triển theo.
- Góp phần gia tăng kim ngạch xuất khẩu.
- Tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động.
- Khả năng cạnh tranh cao.
- Tiềm năng thị trường tương đối lớn.
- Hiệu quả kinh tế cao.
Có nhiều nhân tố tác động đến phát triển sản phẩm chủ lực:
° Nhân tố thị trường, một sản phẩm sở dĩ phát triển được trong cơ chế thị
trường là do sản phẩm ấy đáp ứng được các nhu cầu của thị trường nội địa và thị
trường nước ngoài, đồng thời với yêu cầu sản phẩm của ngành phải có chất lượng
cao, giá thành hạ, giá bán cạnh tranh được với những sản phẩm cùng loại của các
nước trong khu vực và trên thế giới.
° Nhân tố tiến bộ kỹ thuật, tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tác động rất mạnh
mẽ đến việc phát triển các sản phẩm và nâng cao năng suất lao động, do đó hàng
hoá có chất lượng cao nhưng chi phí sản xuất thấp đáp ứng nhu cầu cạnh tranh, từ
đó sản phẩm công nghiệp được thị trường tín nhiệm.
° Hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả kinh tế thể hiện trong việc sử dụng tài
nguyên, lao động, vốn hợp lý và có hiệu quả trong phát triển sản phẩm.
Hiệu quả xã hội thể hiện cụ thể trong việc giải quyết công ăn việc làm cho
người lao động. Kinh nghiệm của một số nước đang phát triển như An Độ trước
đây hay Trung Quốc hiện nay cho thấy nếu quá chú trọng đến hiệu quả xã hội, rốt
cuộc lại không đạt được hiệu quả xã hội. Ví dụ, việc duy trì quá lâu những ngành
sử dụng nhiều lao động nhưng đã mất tính cạnh tranh trên thị trường sẽ dẫn đến sự
thua lỗ và phá sản của các xí nghiệp, hậu quả là công nhân mất việc làm.
7
4.2.Sản phẩm có khả năng cạnh tranh.
Một sản phẩm được coi là có sức cạnh tranh và có thể đứng vững khi có mức
giá thấp hơn hoặc khi cung cấp các sản phẩm tương tự với chất lượng hay dịch vụ
ngang bằng hay cao hơn.
8
Có nhiều nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm:
Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô, bao gồm:
- Tăng trưởng kinh tế là nhân tố tác động trực tiếp đến sức mua của xã hội,
tạo điều kiện để sản phẩm mở rộng quy mô sản xuất.
- Tài chính-tín dụng có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và khả
năng cạnh tranh của một sản phẩm, tăng trưởng nhanh phu thuộc vào khả năng của
khu vực tài chính trong việc huy động và phân bố có hiệu quả tín dụng vào sản xuất
các sản phẩm. Ngoài ra lãi suất tín dụng ảnh hưởng đến khả năng vay mượn của
các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm.
- Đầu tư mang lại động lực chủ yếu cho nâng cao khả năng cạnh tranh của
các sản phẩm. Đầu tư là yếu tố rất quan trọng có tính quyết định đến việc đẩy
nhanh tốc độ tăng sản xuất sản phẩm chủ lực.
- Mở cửa thương mại đòi hỏi nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm,
tăng xuất khẩu và tiến hành dỡ bỏ hàng rào nhập khẩu.
- Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ ảnh hưởng mạnh mẽ đến phát triển
các sản phẩm chủ lực. Tiến bộ kỹ thuật tác động quan trọng đến chi phí sản xuất và
chất lượng sản phẩm hàng hóa.
- Các chính sách vĩ mô trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo, ứng dụng tiến bộ
khoa học công nghệ và huy động nguồn vốn tài chính cần thiết cho nâng cao khả
năng cạnh tranh và phát triển các sản phẩm chủ lực.
- Vị trí địa lý đóng vai trò quan trọng trong nâng cao khả năng cạnh tranh,
mở rộng thị trường của các sản phẩm do giảm chi phí vận chuyển, tăng giao lưu với
bên ngoài.
- Phát triển nguồn nhân lực tạo ra những điều kiện thuận lợi cho nâng cao
khả năng cạnh tranh của các sản phẩm.
- Bối cảnh quốc tế như xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa đang gia tăng trở
thành đặc điểm mới nổi bật của nền kinh tế thế giới sẽ đưa đến các mặt thuận lợi,
những cơ hội cũng như những thách thức cho cạnh tranh của các sản phẩm.
Các nhân tố thuộc môi trường vi mô:
10
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VỀ SỨC CẠNH TRANH CỦA CÁC
DÒNG XE MÁY HIỆN NAY.
I. Khái quát về thị trường xe máy ở Việt Nam.
1. Khát quát chung.
Trong gần 20 năm qua, nhờ những nỗ lực và quyết tâm của toàn
Đảng và toàn dân ta trong việc thực hiện các chủ trương và chính sách
đúng đắn của Đảng, nền kinh tế Việt Nam đã và đang đạt được những
thành tựu quan trọng và có tính bước ngoặt trên con đường xây dựng
và đổi mới đất nước. Việc thực hiện chính sách mở cửa hội nhập với
nền kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới đã làm cho nền
kinh tế Việt Nam phát triển và đạt được những thành tựu đáng kể. Tốc
độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đạt trên
7%/năm trong nhiều năm, đặc biệt là giai đoạn 1991-1995 (đạt trên
8,2%/năm). GDP bình quân đầu người giai đoạn 1996-2000 là 462
USD, ước thực hiện giai đoạn 2001-2005 là 600 USD. Nguồn vốn đầu
tư trực tiếp nước ngòai (FDI) giai đoạn 2001-2005 cả cấp mới và bổ
sung đạt 15-16 tỷ USD, tăng gấp 1,5 lần so với giai đoạn 1996-2000.
Bên cạnh những thành tựu về kinh tế, sau 20 năm tiến hành đổi mới, Việt
Nam đã đạt được một số thành tựu về xã hội, có tác động thúc đẩy nền kinh tế phát
triển. Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu giảm một nửa số người nghèo và
một nửa số người dân bị đói theo chuẩn quốc tế so với những năm đầu thập niên 90
chỉ trong khoảng 10 năm. Cụ thể: trong giai đoạn 2002-2004, mức sống - thể hiện
11
qua chi tiêu của hộ gia đình, đã được cải thiện rõ rệt. Tính chung cả nước, chi tiêu
hộ gia đình theo giá so sánh thời kì 2003-2004 đạt 328000 đồng, tăng bình quân
12,1%/năm. Như vậy sự phát triển của nền kinh tế đã có ảnh hưởng trực tiếp tích
cực đến đời sống của người dân. Đời sống của người dân từng bước đựơc cải thiện
và nâng cao rõ rệt.
biệt là xe máy có nguồn gốc từ Trung Quốc: Loncin; Lifan,Sundro…do
các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu, lắp ráp dưới dạng IKD.
Theo số liệu của cục CSGT (Bộ Công an), tính từ năm 1995, số lượng
xe máy lưu hành trong cả nước là 3.678.000 chiếc và tăng trung bình hàng
năm trên 11%. Chỉ tính riêng năm 2000, số xe máy tăng thêm là 1.135.327
xe. Theo số liệu của Bộ Thương mại trong 5 tháng đầu năm 2000 đã cấp
hạn ngạch nhập khẩu 418.000 bộ linh kiện xe máy cho các doanh nghiệp
lắp ráp IKD trong nước( so với 1999 chỉ có 216.000 bộ), nếu tính cả các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đến hết tháng 5 năm 2000 đã nhập
khẩu 329.671 bộ linh kiện xe máy các loại. Những con số trên cho thấy,
tốc độ sử dụng xe máy ngày càng tăng nhanh, lượng xe máy sử dụng ở
Việt Nam phân bố không đồng đều trong tổng số 5.000.000 xe máy đang
lưu hành thì TP.Hồ Chí Minh có khoảng 1,75 triệu chiếc, Hà Nội là 1,1
triệu chiếc. Thêm nữa, theo số liệu điều tra mức bình quân đầu người/ xe ở
Việt Nam cũng chưa phải là cao so với các nước trong khu vực: Đài Loan
là 2 người/xe, Thái Lan là 9 người/xe, Việt Nam là 14,32 người /xe. Tuy
bình quân là như vậy nhưng lại phân bố không đồng đều tập trung ở các đô
13
thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh với tỉ lệ 4-5 người/xe, các tình biên
giới phía Bắc là 40 người/xe, các tỉnh miền núi là 80 người/xe.
Theo Hiệp hội Xe đạp xe máy Việt Nam, trong vài tháng gần đây, mức
tiêu thụ xe của các doanh nghiệp trong hiệp hội giảm trên 30%, cá biệt có
những đơn vị giảm tới một nửa so với thời điểm đầu năm nay. Bi đát nhất
là khối doanh nghiệp nhà nước. Với 22 đơn vị, 7 tháng đầu năm nay, khối
doanh nghiệp nhà nước chỉ sản xuất được gần 58.000 xe các loại, giảm
đến 34,4% so với cùng kỳ.
Theo ông Lê Anh Tuấn, Phó chủ tịch Hiệp hội Xe đạp xe máy Việt
Nam có nói: “Ngành công nghiệp xe máy của Việt Nam có 52 đơn vị,
trong đó 7 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hiện đã xác lập
được chỗ đứng khá vững trên thị trường. Còn 45 doanh nghiệp trong
tùng thể hiện sự tiến bộ nhanh về công nghệ, quản lý và tiếp cận thị trường. Tham
gia vào lắp ráp sản xuất xe máy, các công nghệ kỹ thuật mới nhất về đúc áp lực,
nhiệt luyện, gia công bề mặt, hàn, sơn mạ, ép phun nhựa đã được áp dụng có hiệu
quả. Các thiết bị máy móc tiên tiến nhất như gia công khuôn mẫu chính xác CNC,
máy đột dập công suất lớn, máy do không gian ba chiều 3D, máy ép phun nhựa
kích thước lớn, thiết bị sơn công nghiệp đã được đưa vào khai thác. Các hệ thống
quản lý chất lượng quốc tế ISO của Châu Âu, TQM của Nhật Bản cũng đã được áp
dụng. Chuyên môn hóa và hợp tác hóa đã được nâng lên một bước qua việc hình
thành hệ thống hợp tác liên kết giữa các DN lắp ráp với hàng trăm nhà sản xuất,
cung cấp phụ tùng, linh kiện. Trong 10 năm trở lại đây, các DN xe máy Việt Nam
đã đầu tư hàng nghìn tỷ đồng, tăng rất cao so với đầu tư vào các ngành công nghiệp
khác. Các DN lắp ráp xe máy Việt như T&T, Sufat, Duy Thịnh, Phương Đông đã
có hệ thống nhà xưởng, cơ sở hạ tầng sản xuất và hệ thống quản lý chất lượng tiêu
15
chuẩn quốc tế, đáp ứng được sản xuất qui mô công nghiệp để ngành công nghiệp xe
máy Việt Nam có thể đứng vững trên thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của các
dòng sản phẩm xe máy.
2. Cạnh tranh bằng giá cả sản phẩm.
Cạnh tranh bằng giá cả sản phẩm được xem như là công cụ cạnh tranh
quan trọng nhất của các doanh nghiệp hiện nay, vì giá cả được xem như là
một trong những nhân tố chủ yếu tác động đến kết quả tiêu thụ sản phẩm
hàng hóa. Do đó có ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp lắp ráp xe máy hiện nay. Vì thế mà xác định giá cả đúng sẽ đảm bảo
khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp, giúp thu lợi, tránh ứ đọng sản
phẩm, hạn chế được thua lỗ.
Giá của các xe máy lắp ráp phụ thuộc vào giá nguyên vật liệu lắp ráp.
Biện pháp giảm giá thành, giảm chi phí nguyên vật liệu đầu vào, giảm chi
phí trực tip cũng được khích lệ. Tuy nhiên đây là giải pháp cuối cùng mà các
doanh nghiệp này áp dụng vì nó ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh
nghiệp, giảm giá còn phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Do hạn chế về tài chính, trình độ quản lý và kỹ thuật, thiết kế mẫu nên
sản xuất xe máy trong nước thường đi theo những lối mòn kiểu dáng của
những hãng tên tuổi, áp dụng chiến thuật "sao chép-cải tiến" để tạo ra những
mặt hàng hết sức "vừa túi tiền".
Thời gian qua, mặc dù Chính phủ đã thực thi nhiều biện pháp nâng
tầm sản xuất trong nước (như yêu cầu tỉ lệ nội địa hóa cao ) và đã gặt hái
nhiều thành công trong lĩnh vực này. Nhưng nhìn chung, công nghiệp xe
máy trong nước vẫn chưa thoát ra khỏi hiện trạng gia công, lắp ráp và bắt
chước kiểu dáng. Hay đúng hơn, ngành hàng này (loại trừ khu vực FDI) vẫn
17
chưa có một cái tên cho đúng nghĩa.
Trong bối cảnh đó, thay vì củng cố chất lượng để tạo uy tín cho thương
hiệu của mình, nhiều doanh nghiệp lại hy sinh chất lượng để hạ giá thành
nhằm thu hút khách. Vì vậy các doanh nghiệp phải quan tâm đến chất lượng
sản phẩm cũng như uy tín thương hiệu của mình.
4. Cạnh tranh về phân phối và bán hàng.
Doanh nghiệp có đội ngũ nhân viên riêng rất thuận tiện cho việc cung
cấp hàng hóa nhanh chóng, kịp thời cho khách hàng. Các doanh nghiệp có
khả năng đa dạng hóa các kênh và lựa chọn các kênh chủ lực, có một cơ cấu
sản phẩm đa dạng , sử dụng các đại lí làm kênh phân phối chủ yếu.
- Có hệ thống bán hàng phong phú, đặc biệt là hệ thống kho,các trung
tâm bán hàng ở khắp mọi nơi, các trung tâm này có cơ sở vật chất hiện
đại, tạo ấn tượng tốt cho khách hàng.
- Có nhiều biện pháp để kết dinh các kênh lại với nhau. Đặc biệt là
những biện pháp quản lí người bán và điều khiển người bán đó.
5. Cạnh tranh bằng các dịch vụ sau bán.
Như chúng ta đã biết, cạnh tranh trên thị trường xe máy Việt Nam rất
gay gắt. Cuộc cạnh tranh giờ đây không chỉ còn là cạnh tranh giữa chất
lượng, mẫu mã, kiểu dáng, giá cả nữa mà giờ đây thực sự là cuộc cạnh tranh
về thương hiệu sản phẩm. Mà bất kỳ một cuộc cạnh tranh nào về thương hiệu
Loại hình Ưu điểm Nhược điểm
Cac doanh nghiệp lắp
ráp xe máy trong
nước.
Chủng loại sản phẩm
phong phú, đa dạng, giá
rẻ.
Chất lượng trung bình,
màu sắc chưa hấp dẫn,
Marketing kém.
Các doanh nghiệp có
vốn đầu tư tứ nước
ngoài (FDI).
Uy tín, chất lượng sản
phẩm cao, mẫu mã
đẹp,quảng cáo tốt, sản
phẩm phong phú.
Giá bán còn cao.
Các doanh nghiệp liên
doanh.
Giá rẻ, kênh phân phối
rộng, chất lượng khá.
Chưa có sản phẩm cao
cấp, quảng cáo xúc tiến,
bán hàng kém, chủng
loại, màu sắc chưa
phong phú,đa dạng.
III. Thực trạng về khả năng cạnh tranh của các dòng sản phẩm xe máy
tại các doanh nghiệp lắp ráp hiện nay.
Tính đến nay tổng đầu tư cho sản xuất, lắp ráp xe máy của 45 doanh nghiệp
tỉ lệ nội địa hóa xe máy lên gần 90%, những chiếc xe máy đầu tiên
mang thương hiệu Việt được đưa ra thị trường có chất lượng tốt,
giá cả vừa phải, được người tiêu dùng trong cả nước đón nhận.
Được sản xuất trên dây chuyền thiết bị công nghệ cao, giàn máy
CNC với các chức năng như phay, tiện , được vận hành tự động
21
dựa trên chương trình được lập trình sẵn đã sản xuất các chi tiết
động cơ có độ chính xác rất cao.
Máy đúc áp lực cũng là một thiết bị kỹ thuật tiên tiến, chuyên
gia công và đúc các chi tiết nhôm như bưởng máy của động cơ,
mang cá, đầu bò đã nâng chất lượng xe lên đến một trình độ nhất
định. Những sản phẩm xe máy nguyên chiếc do T&T Motor sản
xuất như Majesty, Mikado, Favour, Ferroli với đa chủng loại
như xe số, xe côntay và xe tay ga đã đáp ứng cho thị trường với
gía cả phù hợp cho người tiêu dùng trong nước. Hiện nay mỗi năm
tập đoàn T&T cho ra đời trên 300.000 xe máy, cung cấp cho các
doanh nghiệp chuyên sản xuất, lắp ráp xe gắn máy có quy mô lớn
trên toàn quốc và một hệ thống phân phối rộng lớn trên 64 tỉnh
thành.
Ngoài ra, động cơ xe máy T&T còn được xuất khẩu sang
các nước trong khu vực. Chính với sự nỗ lực trên, sản phẩm xe
máy và động cơ của tập đoàn T&T không những được chứng nhận
chất lượng ISO 9001-2000 mà còn đạt nhiều giải thưởng trong
nước. Gần đây nhất, xe máy T&T được chứng nhận là sản phẩm
công nghiệp chủ lực của thành phố Hà Nội, góp phần nâng cao uy
tín và chất lượng cho xe máy thương hiệu Việt.
2. Công ty TNHH SuFat( Hưng Yên).
Tranh thủ sự hợp tác của các chuyên gia hàng đầu Nhật Bản,
Hàn Quốc, Đài Loan, bằng những bước đi mạnh bạo, Sufat là đơn
vị tiên phong trong đầu tư, nghiên cứu chuyển giao công nghệ, tạo
đa dạng hóa sản phẩm với những cải tiến phù hợp, đảm bảo mỗi
23
năm cung cấp 1-2 mẫu xe mới để thêm nhiều lựa chọn cho người
tiêu dùng VN, nhất là đối tượng có thu nhập trung bình thấp.
Hiện tại SUFAT đã có một trung tâm nghiên cứu và phát
triển sản phẩm kỹ thuật cao tại Việt Nam với quy mô đầu tư
khoảng 20 triệu USD và trở thành doanh nghiệp xe máy trong
nước đầu tiên có khả năng tự nghiên cứu, thiết kế và phát triển sản
phẩm.
3. Công ty TNHH Hoa Lâm( Bình Định).
Ngày 26/12/2004 đánh dấu một sự kiện trọng đại trong
ngành xe máy nói riêng và nền công nghiệp Việt Nam nói chung
khi Tập đoàn xe máy số 1 Đài Loan – KYMCO và Công ty Cổ
phần xe máy Hoa Lâm – một trong những Công ty xe máy hàng
đầu tại Việt Nam đã chính thức ký kết hợp tác, thành lập CÔNG
TY CỔ PHẦN XE MÁY HOA LÂM KYMCO. Công ty chuyên
sản xuất các loại xe tay ga với kiểu dáng đa dạng, mẫu mã đẹp có
khả năng cạnh tranh với các hãng xe tay ga nổi tiếng của Honda,
Yamaha, SYM như: CLICK, SCR, Mio, NOUVO, Attila
4. Các hãng xe khác.
Ngoài ra còn 1 số công ty như:
• Công ty TNHH Đức Phương.
• Công ty TNHH Nguyễn Thành.
• Công ty TNHH Duy Thịnh.
• Công ty TNHH sản xuất thương mại Tiến Lộc.
• Công ty cổ phần Lisohaka.
• Công ty TNHH Hoàng Huy.
24
• Công ty Vinagimex.
• Công Honlei Việt Nam.