Luận văn : Một số giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu ở công ty HANOSIMEX pot - Pdf 21


TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….

[\[\
Báo cáo tốt nghiệp

Đề tài:

Một số giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của
sản phẩm xuất khẩu ở công ty HANOSIMEX

Đề tài : Một số giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm
xuất khẩu ở công ty HANOSIMEX lời Mở đầu

Các doanh nghiệp muốn tồn tại trong thị trờng phải luôn vận động, biến đổi để tạo cho
mình một vị trí và chiếm lĩnh những phần thị trờng nhất định. Sự cạnh tranh gay gắt đòi hỏi
họ phải xây dựng cho đợc một chiến lợc cạnh tranh có hiệu quả để đứng vững, và cạnh tranh
không chỉ với công ty trong nớc mà cả với các hãng t bản nớc ngoài có tiềm lực tài chính
mạnh mẽ. Trong nền kinh tế thị tròng của một quốc gia nói riêng và trên toàn thề giới nói
chung, vấn đề cạnh tranh không phải là vấn đề mới nhng nó luôn là vấn đề mang tính thời sự,
cạnh tranh khiến thơng trờng ngày càng trở nên nóng bỏng.
Việt Nam đã và đang tích cực tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế vì những lợi
ích mang lại từ hoạt động kinh tế này, nhng mức độ tham gia còn hạn chế. Ngành may mặc
của Việt Nam tuy đợc coi là một trong những ngành mũi nhọn trong chiến lợc hớng về xuất

Hà Nội, tháng 4 năm 2003.

ChơngI
Lý luận chung về cạnh tranh và sức cạnh tranh của hàng hoá.
I. Những lý luận cơ bản về cạnh tranh và sức cạnh tranh của hàng hoá.
1.Khái niệm về cạnh tranh và sức cạnh tranh.
Cạnh tranh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển nền kinh tế xã hội. Trong mọi phơng diện
của cuộc sống ý thức vơn lên luôn là yếu tố chủ đạo hớng suy nghĩ và hành động của con
ngời. Họat động sản xuất kinh doanh là một lĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội, trong
đó ý thức vơn lên không đơn thuần là mong muốn đạt đợc một mục tiêu nào đó mà còn là
tham vọng trở thành ngời đứng đầu. Suy nghĩ và hành động trong sản xuất kinh doanh bị chi
phối rất nhiều bởi tính kinh tế khắc nghiệt. Trong giai đoạn hiện nay, yếu tố đợc coi là khắc
nghiệt nhất là cạnh tranh. Môi trờng hoạt động của doanh nghiệp ngày nay đầy biến động và
cạnh tranh hiện nay là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinh tế tham gia
vào thị trờng nhằm giành giật nhiều các lợi ích kinh tế hơn về mình.
1.1Khái niệm về cạnh tranh.
ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế xã hội khái niệm về cạnh tranh đợc nhiều tác giả
trình bày dới những góc độ khác nhau. Dới thời kỳ Chủ nghĩa t bản (CNTB) phát triển vợt
bậc Mác đã quan niệm: “ Cạnh tranh chủ nghĩa t bản là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa
các nhà t bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá
để thu đợc lợi nhuận siêu ngạch”. Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hoá t bản chủ nghĩa
(TBCN) và cạnh tranh TBCN, Mác đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là: quy luật
điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành. Nếu ngành nào, lĩnh vực nào có tỷ
suất lợi nhuận cao sẽ có nhiều ngời để ý và tham gia. Ngợc lại, những ngành, lĩnh vực mà
có tỷ suất lợi nhuận thấp sẽ có sự thu hẹp về quy mô hoặc là sự rút lui của các nhà đầu t.
Tuy nhiên sự tham gia hay rút lui của các nhà đầu t không dễ dàng một sớm, một chiều thực
hiện đợc mà là cả một chiến lợc lâu dài đòi hỏi phải có sự tính toán kỹ lỡng.
CNTB phát triển đến đỉnh điểm chuyển sang chủ nghĩa đế quốc rồi suy vong và cho đến
ngày nay nền kinh tế thế giới đã dần đi vào qũy đạo của sự ổn định và xu hớng chính là hội
nhập, hoà đồng giữa các nền kinh tế, cơ chế hoạt động là cơ chế thị trờng có sự quản lý và

khiển nền kinh tế quốc dân nói chung, trong tổ chức và điều hành kinh doanh trong các
doanh nghiệp nói riêng. Cạnh tranh không những là môi trờng và động lực của sự phát triển
mà còn là một yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội, tạo động lực cho sự
phát triển. Do đó quan điểm đầy đủ về cạnh tranh nh sau: Cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay
gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất, kinh doanh với nhau dựa trên những chế độ sở hữu khác
nhau về t liệu sản xuất nhằm đạt đợc những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng
thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển. Cạnh tranh trong kinh tế là cuộc chạy đua
“Marathon kinh tế” nhng không có đích cuối cùng, ai cảm nhận thấy thì ngời đó sẽ trở thành
nhịp cầu cho các đối thủ khác vơn lên phía trớc.
1.2 Khái niệm sức cạnh tranh.
Một sản phẩm muốn có vị trí vững chắc trên thị trờng và muốn thị trờng của nó ngày
càng mở rộng thì nó điểm mạnh và có khả năng để nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị
trờng đó. Sức cạnh tranh của hàng hoá đợc hiểu là tất cả các đặc điểm, yếu tố, tiềm năng mà
sản phẩm đó có thể duy trì và phát triển vị trí của mình trên thơng trờng cạnh tranh một các
lâu dài và có ý nghĩa.
Để đánh giá đợc một sản phẩm có sức cạnh tranh mạnh hay không thì cần dựa vào các
nhân tố sau:
- Giá thành sản phẩm và lợi thế về chi phí (khả năng giảm chi phí đến mức tối đa).
- Chất lợng sản phẩm và khả năng đảm bảo nâng cao chất lợng sản phẩm của doanh nghiệp.
- Các dịch vụ đi kèm sản phẩm.
2. Vai trò của cạnh tranh.
Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, cạnh tranh luôn diễn ra liên tục và đợc hiểu nh cuộc
chạy đua không ngừng giữa các đối thủ. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay
đang từng bớc khẳng định những u thế của mình, môi trờng cạnh tranh ngày càng hoàn
chỉnh hơn đặt ra cho các doanh nghiệp những cơ hội và thách thức. Doanh nghiệp nào hiểu
biết đối thủ, biết thoả mãn tốt hơn các nhu cầu và thị hiếu khách hàng so với đối thủ cạnh
tranh, biết giành thế chủ động với ngời cung cấp các nguồn hàng và tận dụng đợc lợi thế
cạnh tranh doanh nghiệp đó sẽ tồn tại, ngợc lại doanh nghiệp không có tiềm lực cạnh tranh
hoặc không “nuôi dỡng” tiềm lực cạnh tranh tất yếu sẽ thất bại.
Vì thế các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh, đón trớc cạnh tranh và sẵn sàng sử dụng

nhất. Cùng sản phẩm có thể chia làm nhiều thứ loại, nhiều chất lợng Sản phẩm tơng tự có
thể đợc bán với nhiều nhãn hiệu khác nhau, mỗi nhãn hiệu đều mang hình ảnh hay uy tín
khác nhau. Mặc dù, sự khác biệt giữa các sản phẩm không đáng kể (sự khác biệt mang ý
nghĩa quan niệm, tâm lý là chính): các điều kiện mua bán hàng hoá cũng là khác nhau. Ngời
bán có thể có uy tín độc đáo riêng biệt đối với ngời mua do nhiều lý do khác nhau: khách
hàng quen, gây đợc lòng tin hay các cách thức quảng cáo cũng có thể ảnh hởng tới ngời
mua, làm ngời mua thích mua của một nhà cung ứng này hơn của một nhà cung ứng khác.
Đờng cầu của thị trờng là đờng không co dãn. Việc mua và bán sản phẩm đợc thực
hiện trong bầu không khí có tính chất giao thơng rất lớn, điều này khác hẳn với thị trờng
cạnh tranh hoàn hảo. Ngời bán có thể thu hút khách hàng bởi nhiều cách: quảng cáo, khuyến
mại, phơng thức bán hàng, cung cấp dịch vụ, tín dụng, hoặc có nhiều điều khoản u đãi Do
đó, trong giá có sự phân biệt, xuất hiện hiện tợng nhiều giá. Có thể nói giá cả nên xuấng thất
thờng tuỳ khu vực, tuỳ nguồn cung ứng, tùy ngời mua.
ã Cạnh tranh độc quyền.
ỉ Thị trờng độc quyền.
Là thị trờng mà ở đó chỉ có duy nhất một ngời mua (Độc quyền mua) hoặc một ngời bán
(Độc quyền bán). Chính sách của thị trờng này là định giá cao và sản lợng hàng hoá ít. Tuy
nhiên điều đó không đồng nghĩa với việc nhà độc quyền định giá bao nhiêu cũng đợc. Tuỳ
theo đặc điểm tiêu dùng của sản phẩm và cơ chế quản lý giá của Nhà nớc mà nhà độc quyền
định giá cao hay thấp để thu đợc lợi nhuận tối đa. Các nhà độc quyền cũng dùng hình thức
cạnh tranh phi giá nh quảng cáo để thu hút thêm khách hàng.
Nói chung độc quyền trong sản xuất kinh doanh là lợi thế lớn nhất đối vơi nhà độc
quyền, song về mặt xã hội thì nó kìm hãm sự phát triển sản xuất, làm thiệt hại lợi ích ngời
tiêu dùng.
ỉ Cạnh tranh độc quyền.
Trong thị trờng cạnh tranh độc quyền, các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau bằng
việc bán sản phẩm phân biệt, các sản phẩm có thể thay thế cho nhau ở mức độ cao nhng
không phải là thay thế hoàn hảo. Nghĩa là độ co dãn của cầu là cao chứ không phải là vô
cùng.Vì những lý do khác nhau (chất lợng, hình dáng, danh tiếng ) ngời tiêu dùng coi mặt
hàng của mỗi doanh nghiệp khác với của các doanh nghiệp khác. Do đó một số khách hàng

thấy khi sản xuất hàng hoá càng phát triển càng có nhiều ngời bán dẫn đến cạnh tranh ngày
càng quyết liệt trên nhiều phơng diện và nhiều hình thức đa dạng khác nhau. Sự phát triển
mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật một mặt tác động đến các nhà sản xuất, một mặt làm thay
đổi nhu cầu của ngời mua, do đó nó dần làm biến đổi vị trí của các yếu tố cạnh tranh. Một
cách chung nhất cạnh tranh là sự ganh đua ở các giác độ : chât lợng, giá cả, nghệ thuật tổ
chức tiêu thụ và thời gian. Giá là yếu tố thứ nhất của cạnh tranh, đây là hình thức cạnh tranh
đợc sử dụng nhiều nhất. Khi nhu cầu con ngời phát triển cao hơn thì yếu tố chất lợng sản
phẩm chiếm vị trí chính yếu. Đến nay vào những năm cuối của thế kỷ 20

thì với các doanh
nghiệp lớn họ có với nhau sự cân bằng về giá cả thì yếu tố thời gian và tổ chức tiêu thụ sản
phẩm là quan trọng nhất.
3.3 Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế.
ã Cạnh tranh giữa các ngành.
Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm thu đợc lợi
nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đầu t bỏ ra đầu t vào ngành khác. Sự cạnh
tranh giữa các ngành dẫn đến doanh nghiệp đang kinh doanh trong ngành có tỷ suất lợi
nhuận thấp chuyển sang kinh doanh ở ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn.
ã Cạnh tranh trong nội bộ ngành.
Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoá hoặc dịch
vụ nào đó. Trong cuộc cạnh tranh này các doanh nghiệp thôn tính lẫn nhau, doanh nghiệp
chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trờng, doanh nghiệp thua sẽ sẽ
thu hẹp phạm vi kinh daonh thậm chí phá sản.
II. Các nhân tố ảnh hởng tới khả năng cạnh tranh của hành hoá và các chỉ tiêu đánh
giá sức cạnh tranh của hàng hoá.
1. Các nhân tố ảnh hởng tới sức cạnh tranh của hành hoá.
1.1 Các nhân tố bên ngoài.
Michael.E.Porter (1982) đã đa ra khái niệm cạnh tranh mở rộng, theo đó cạnh tranh trong
một ngành phụ thuộc vào năm thế lực.
Sơ đồ 1: Các thế lực điều khiển cuộc cạnh tranh trong ngành

ạt động. Ng
ợc lại, cầu giảm dẫn đến cạnh
tranh kh
ốc liệt để các doanh nghiệp giữ đ
ợc
Hàng rào lối ra là mối đe doạ cạnh tranh nghiêm trọng khi cầu của ngành giảm mạnh. Đó là
kinh tế, chiến lợc và là quan hệ tình cảm giữ doanh nghiệp trụ lại. Nếu hàng rào lối ra cao,
các doanh nghiệp có thể bị khoá chặt trong một ngành sản xuất không a thích. Hàng rào lối
ra thờng bao gồm: Đầu t nhà xởng và thiết bị, chi phí trực tiếp cho việc rời bỏ ngành là cao,
quan hệ chiến lợc giữa các đơn vị chiến lợc kinh doanh, hay đó là chi phí xã hội khi thay đổi
nh khó khăn về sự sa thải nhân công, chi phí đào tạo lại
Do vậy nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin, phân tích đánh giá chính xác
khả năng của những đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là những đối thủ chính để xây dựng cho
mình chiến lợc cạnh tranh thích hợp với môi trờng chung.
ỉ Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn.
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại cha cạnh tranh trong cùng
một ngành sản xuất, nhng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và quyết định gia nhập
ngành. Đây là đe dọa cho các doanh nghiệp hiện tại. Các doanh nghiệp hiện tại cố gắng
ngăn cản các đối thủ tiềm ẩn muốn ra nhập ngành vì càng nhiều doanh nghiệp có trong một
ngành sản xuất thì cạnh tranh càng khốc liệt hơn. Với sự mong muốn chiếm lĩnh một thị
phần nào đó các đối thủ mới có thể làm giá bán bị kéo xuống hoặc chi phí của các công ty đi
trớc có thể bị tăng lên và kết quả làm giảm mức lợi nhuận. Sự xâm nhập vào một ngành, với
dự định xây dựng một vị trí trên thị trờng kiểu đó có lẽ cần đợc coi nh một sự nhập cuộc của
đối thủ mới. Việc tạo ra hàng rào hợp pháp ngăn cản sự xâm nhập từ bên ngoài hoặc sự
phản ứng khôn khéo của các doanh nghiệp đang cạnh tranh sẽ làm giảm bớt mối hiểm hoạ
hoặc do doanh nghiệp mới xâm nhập gây ra. Những rào cản chủ yếu đợc xác định là:
Những u thế tuyệt đối về chi phí: Có thể đó là u thế về các sáng chế, việc làm chủ một
công nghệ riêng đặc thù hoặc có một nguồn nhân lực chuyên tinh, làm chủ đợc nguồn
nguyên vật liệu cũng nh kinh nghiệm cho phép có đợc các chi phí thấp hơn. Hoặc đó có thể
là lợi thế về chi phí cố định vì các đối thủ cạnh tranh hiện tại thờng có những lợi thế chi phí

ỉ Khách hàng (Ngời mua).
Khách hàng hay ngời mua hàng là một bộ phận không thể tách rời trong môi trờng cạnh
tranh. Khách hàng tác động đến doanh nghiệp thể hiện mối tơng quan về thế lực nếu
nghiêng về phía nào thì phía đó có lợi. Các doanh nghiệp cần phải làm chủ mối tơng quan
này, thiết lập đợc mối quan hệ với khách hàng để giữ khách hàng (thông qua số lợng, chất l-
ợng, giá cả, điều kiện giao nhận và dịch vụ sau bán hàng). Khách hàng có u thế là có thể
làm cho lợi nhuận của ngành hàng giảm bằng cách ép giá xuống hoặc đòi hỏi chất lợng cao
hơn và phải làm nhiều công việc dịch vụ hơn.
Khách hàng có thể đợc xem nh một sự đe dọa cạnh tranh khi họ buộc doanh nghiệp phải
giảm giá hoặc có nhu cầu chất lợng cao và dịch vụ tốt hơn. Ngợc lại khi ngời mua (khách
hàng) yếu sẽ mang đến cho doanh nghiệp cơ hội để tăng giá kiếm đợc lợi nhuận nhiều hơn.
Ngời mua gồm: Ngời tiêu dùng cuối cùng, các nhà phân phối (bán buôn, bán lẻ) và các nhà
mua công nghiệp. áp lực của họ thờng đợc thể hiện trong những trờng hợp sau:
- Nhiều nhà cung ứng có quy mô vừa và nhỏ trong ngành cung cấp. Trong khi đó ngời mua là
số ít và có quy mô lớn, nó cho phép ngời mua chi phối các công ty cung cấp.
- Khách hàng mua một khối lợng lớn sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp và sử dụng đó làm
lợi thế để mặc cả cho sự giảm giá không hợp lý.
- Khách hàng có thể vận dụng chiến lợc liên kết dọc, tức là họ có xu hớng khép kín sản xuất, tự
sản xuất, gia công các bộ phận chi tiết, bán sản phẩm cho mình.
- Khách hàng có đầy đủ các thông tin về thị trờng nh nhu cầu, giá cả của các nhà cung cấp thì
áp lực mặc cả của họ càng lớn.
Để nâng cao khả năng cao khả năng cạnh tranh thì doanh nghiệp phải giảm tối đa sức ép
trên và tạo môi trờng với các khách hàng qua các chính sách giá, chất lợng sản phẩm, dịch
vụ, biến họ trở thành ngời cộng tác tốt.
ỉ Ngời cung ứng.
Đó là những nhà cung cấp nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, tiền vốn,lao động đôi khi gây
đe doạ khi họ có khả năng tăng giá bán đầu vào hoặc giảm chất lợng các sản phẩm dịch vụ
mà họ cung cấp. Qua đó làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Họ thờng gây sức ép trong
những tình huống nh:
- Họ độc quyền cung cấp vật t.

sự chi phối của đội ngũ này thông qua các yếu tố nh: năng suất lao động, trình độ tay nghề,
ý thức trách nhiệm, kỷ luật lao động và sự sáng tạo của họ bởi vì các yếu tố này chi phối
việc nâng cao chất lợng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm cũng nh tạo thêm tính u việt, độc
đáo mới lạ của sản phẩm.
ỉ Nguồn lực về tài chính.
Khả năng tài chính có ảnh hởng rất lớn tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng.
Khả năng tài chính đợc hiểu là quy mô tài chính của doanh nghiệp và tình hình hoạt động,
các chỉ tiêu tài chính hàng năm nh tỷ lệ thu hồi vốn, khả năng thanh toán Nếu một doanh
nghiệp có tình trạng tài chính tốt, khả năng huy động vốn là lớn sẽ cho phép doanh nghiệp
có nhiều vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ và máy móc thiết bị, đồng
thời tăng khả năng hợp tác đầu t về liên doanh liên kết.Tình hình sử dụng vốn cũng sẽ quyết
định chi phí về vốn của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.
ỉ Nguồn lực về vật chất kỹ thuật:
Thông thờng nguồn lực vật chất kỹ thuật thể hiện ở:
- Trình độ kỹ thuật công nghệ hiện tại của doanh nghiệp và khả năng có đợc các công nghệ
tiên tiến.
- Quy mô và năng lực sản xuất: Quy mô và năng lực sản xuất lớn giúp doanh nghiệp tạo ra
khối lợng sản phẩm lớn hơn, nhờ đó hạ đợc giá thành sản phẩm, hơn nữa nó tạo ra nhiều cơ
hội tiếp xúc với khách hàng hơn,giúp doanh nghiệp hiểu rõ khách hàng từ đó có thể chiếm
lĩnh hoặc giữ vững thị trờng trên nhiều lĩnh vực khác nhau, tránh sự xâm nhập của đối thủ
cạnh tranh.
Tuy nhiên để đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải có quy mô
sản xuất và mức sử dụng công suất ít nhất phải gần bằng công suất thiết kế. Nếu sử dụng
công suất thấp sẽ gây lãng phí và lúc đó chi phí cố định vào giá thành sản phẩm cao làm cho
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp giảm.
ỉ Trình độ tổ chức quản lý
Trình độ tổ chức quản lý đợc thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị, hệ thống
thông tin quản lý, bầu không khí và đặc biệt là nề nếp hoạt động của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp biết tập hợp sức mạnh đơn lẻ của các thành viên và biến thành sức mạnh
tổng hợp thông qua tổ chức doanh nghiệp đó sẽ tận dụng đợc những lợi thế tiềm ẩn của tổ

Do vậy, sản phẩm và cơ cấu sản phẩm tối u là một trong những yếu tố quyết định khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng, đồng thời cũng quyết định sự thành công
hay thất bại của doanh nghiệp.
ỹ Giá thành và giá cả.
Giá thành của sản phẩm là giá trị của tất cả các yếu tố đầu vào hình thành nên sản phẩm nh:
nguyên vật liệu, nhân công, công nghệ sản xuất Từ giá thành của sản phẩm sẽ xác định đợc
giá bán trên thị trờng. Do vậy, muốn có giá bán sản phẩm thấp thì doanh nghiệp phải tìm
các hạ giá thành tức là phải tận dụng hợp lý các nguồn lực sẵn có nh tài nguyên phong phú
nguồn nhân lực dồi dào, đồng thời đổi mới thiết bị và công nghệ sản xuất, nâng cao hiệu
quả quản lý có nh vậy mới hạ đợc giá thành sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh của hàng
hoá.
Giá của một sản phẩm trên thị trờng đợc hình thành thông qua quan hệ cung cầu tức là
thông qua sự thoả thuận giữa ngời mua và ngời bán để đi tới mức giá mà cả hai bên đều
thấy có lợi và chấp nhận đợc. Trong nền kinh tế thị trờng có sự cạnh tranh của các doanh
ngghiệp thì khách hàng có quyền lựa chọn cho mình sản phẩm tốt nhất và cùng một loại sản
phẩm thì chắc chắn họ sẽ lựa chọn sản phẩm có giá bán thấp hơn. Vì vậy giá cả là công cụ
cạnh tranh hữu hiệu trên thị trờng. Doanh nghiệp có thể định giá bán thấp, bằng hoặc cao
hơn giá thị trờng. Để chiếm u thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sụ lựa chọn
các chính sách giá thích hợp cho từng loại sản phẩm từng giai đoạn trong chu kỳ sống của
sản phẩm hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng vùng thị trờng.
ỹ Chất lợng sản phẩm.
Ngày nay, do đời sống nhân dân ngày càng đợc nâng cao nên ngời tiêu dùng yêu cầu rất
cao về chất lợng sản phẩm. Họ sẵn sàng trả giá cao hơn cho những sản phẩm cùng loại có
chất lợng tốt hơn hẳn. Vì vậy, chất lợng sản phẩm là chỉ tiêu quan trọng nhất biểu hiện khả
năng cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp.
Chất lợng sản phẩm là hệ thống nội tại của sản phẩm đợc xác định bằng các thông số kỹ
thuật có thể đợc đo lờng hoặc so sánh đợc nhằm thoả mãn yêu cầu của ngời tiêu dùng. Chất
lợng sản phẩm đợc hình thành từ khâu thiết kế đến khâu sản xuất và ngay cả sau khi tiêu thụ
hàng hoá và chịu tác động của nhiều yếu tố: máy móc thiết bị, nguyên vật liêu, trình độ tay
nghề của ngời lao động, trình độ quản lý, hệ thống dịch vụ khách hàng

ỉ Chất lợng hàng hoá.
Đây là một công cụ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng. Ngời tiêu
dùng thờng quan tâm đến chất lợng khi lựa chọn một sản phẩm nào đó, họ sẵn sàng trả giá
cao hơn để có đợc một sản phẩm chất lợng tốt hơn. Thông thờng cạnh tranh về sản phẩm thể
hiện chủ yếu qua những mặt sau:
Cạnh tranh về trình độ sản phẩm: Chất lợng sản phẩm, tính hữu dụng của sản phẩm, bao bì.
Tuỳ theo những sản phẩm khác nhau mà ta lựa chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau có tính
chất quyết định trình đọ của sản phẩm.
Cạnh tranh về chất lợng: Tuỳ theo từng sản phẩm khác nhau với các đặc điểm khác nhau
để ta lựa chọn chỉ tiêu phản ánh chất lợng sản phẩm khác nhau, càng tạo ra nhiều lợi thế cho
chỉ tiêu này thì sản phẩm càng có nhiều cơ hội giành thắng lợi trên thị trờng.
Cạnh tranh về bao bì: Cùng với việc thiết kế bao bì cho phù hợp, doanh nghiệp còn phải lựa
chọn cơ cấu sản phẩm cho phù hợp. Cơ cấu thờng thay đổi theo sự thay đổi của thị trờng,
đặc biệt là những cơ cấu có xu hớng phù hợp với nhu cầu của ngời tiêu dùng.
Cạnh tranh về nhãn mác, uy tín sản phẩm: Đây là công cụ mà doanh nghiệp sử dụng để
đánh vào trực giác của ngời tiêu dùng.
Cạnh tranh do khai thác hợp lý chu kì sống của sản phẩm: Sử dụng biện pháp này doanh
nghiệp cần phải có những quyết định sáng suốt để đa ra một sản phẩm mới hoặc dừng việc
cung cấp một sản phẩm đã lỗi thời.
ỉ Giá cả hàng hoá.
Giá là một công cụ quan trọng trong cạnh tranh thờng đợc sử dụng trong giai đoạn đầu của
doanh nghiệp khi doanh nghiệp bớc vào một thị trờng mới. Cạnh tranh về giá thờng đợc thể
hiện qua các biện pháp sau:
- Kinh doanh với chi phí thấp
- Bán với mức giá hạ và mức giá thấp.
Mức giá có vai trò cực kỳ quan trọng trong cạnh tranh. Nếu nh chênh lệch giá giữa doanh
nghiệp và đối thủ cạnh tranh thì lớn hơn chênh lệch về giá trị sử dụng sản phẩm của doanh
nghiệp so với đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp đã đem lại lợi ích cho ngời tiêu dùng lớn
hơn so với đối thủ cạnh tranh. Vì lẽ đó sản phẩm của doanh nghiệp sẽ ngày càng chiếm đợc
lòng tin của ngời tiêu dùng, điều đó sẽ đa doanh nghiệp lên vị trí cạnh tranh ngày càng cao.

điều khiển ngời bán.
- Có khả năng hợp tác giữa ngời bán trên thị trờng nhất là trên các thị trờng lớn.
- Có các dịch vụ bán hàng và sau bán hàng hợp lý.Kết hợp hợp lý giữa phơng thức bán hàng và
phơng thức thanh toán.
Các dịch vụ bán và sau khi bán chủ yếu là:
- Tạo ra các điều kiện thuận lợi nhất trong khi thanh toán.
- Có chính sách tài chính và tiền tệ hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán với khách
hàng.
- Có hệ thống thanh toán nhanh, hợp lý vừa tạo điều kiện thanh toán nhanh vừa đảm bảo công
tác quản lý của doanh nghiệp.
- Có phơng tiện bán văn minh, các phơng tiện tạo u thế cho khách hàng, tạo điều kiện để có
công nghệ bán hàng đơn giản hợp lý. Nắm đợc phản hồi của khách hàng nhanh nhất và hợp
lý nhất.
- Bảo đảm lợi ích của ngời bán và ngời mua, ngời tiêu dùng tốt nhất và công bằng nhất. Thờng
xuyên cung cấp những dịch vụ sau khi bán cho ngời sử dụng, đặc biệt là những sản phẩm có
bảo hành hoặc hết thời gian bảo hành. Hình thành mạng lới dịch vụ rộng khắp ở những địa
bàn dân c.
ỉ Hình ảnh nhãn hiệu sản phẩm và công ty.
Trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp sử dụng nhiều biện pháp nhằm giành
giật khách hàng về phía mình, đặc biệt thực hiện linh hoạt trong khâu hợp đồng, thanh toán
nh: quy ớc về giá cả, số lợng, kích cỡ, mẫu mã bằng văn bản hoặc bằng miệng hay thanh
toán với các hình thức nh bán trả góp, bán chịu, bán gối đầu Những hành vi này sẽ thực
hiện đợc tốt hơn khi giữa doanh nghiệp và khách hàng có lòng tin với nhau. Do vậy chữ tín
trở thành công cụ sắc bén trong cạnh tranh, nó tạo ra cơ hội cho những ngời ít vốn có điều
kiện tham gia kinh doanh, do đó mở rộng đợc thị phàn hàng hoá, tạo ra sức mạnh cho doanh
nghiệp.
2. Các phơng thức để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
ỉ Chính sách về sản phẩm.
Sản phẩm – hàng hoá là tất cả những các những yếu tố có thể làm thoả mãn nhu cầu
hay ớc muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có khả năng đa ra chào bán

giá cơ bản của mình và đợc gọi là hình thức chiết giá và bớt giá.
- Chiết giá vì mua số lợng lớn đó là việc giảm giá cho những ngời mua, những khối lợng lớn
trong một lần mua hoặc trong một thời gian nhất định. Loại chiết khấu này khuyến khích ng-
ời mua gia tăng khối lợng của một hợp đồng và mua tập trung nhiều lần ở một ngời bán.
- Chiết khấu chức năng (chiết khấu thơng mại) là loại chiết giá ngời sản xuất áp dụng cho các
thành viên trong kênh phân phối. Phần chiết giá này phải bao gồm 2 bộ phận: chi phí mà các
thành viên trong kênh phân phối phải bỏ ra để tiến hành các hoạt động phân phối hàng hoá
theo chức năng của họ và lãi thoả đáng cho những nỗ lực và gánh chịu rủi ro của những
thành viên trong kênh phân phối.
- Chiết khấu thời vụ là việc giảm giá cho những khách hàng mua hàng hoặc dịch vụ trái vụ.
- Chiết giá khuyến khích việc thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán nhanh.
- Bớt giá là việc giảm giá bán so với biểu gia đã quy định.
ỹ Định giá khuyến mại là hình thức điều chỉnh giá bán tạm thời nhằm mục đích hỗ trợ cho
các hoạt đông súc tiến bán hàng bao gồm một số hình thức sau:
- Định giá để nôi kéo khách hàng.
- Định giá cho những đợt bán hàng đặc biệt.
- Giá trả góp bán hàng theo phiếu mua hàng
- Chiết giá về tâm lý
ỹ Định giá phân biệt Các công ty có thể điều chỉnh mức giá cơ bản để phù hợp với những
điều kiện khác biệt của khách hàng, của sản phẩm hoặc của những yếu tố khác chứ không
phải vì chi phí.
ỉ Chính sách khuyếch trơng sản phẩm
Khuyếch trơng bao gồm nhiềm hoạt động khác nhau nhằm mục đích cung cấp và
truyền thông tin về sản phẩm, về lợi ích của nó đến ngời cung cấp, khách hàng và ngời sử
dụng cuối cùng để tạo ra và phát triển nhận thức, sự hiểu biết và lòng ham muốn mua hàng
của ngời mua và ngời tiêu thụ. Hoạt động khuyếch trơng sản phẩm gồm các phơng thức sau:
ỹ Quảng cáo là một kiều truyền thông có tính đại chúng, mang tính xã hội cao. Nó yêu cầu
hàng hoá phải hợp pháp và đợc mọi ngời chấp nhận. Quảng cáo là một phơng tiện có khả
năng thuyết phục, tạo cơ hội cho ngời nhận tin so sánh thông tin với các đối thủ cạnh tranh
làm tăng tính thuyết phục với khách hàng mục tiêu.

ở nớc ta trớc đây với cơ chế tập trung bao cấp, nhà nớc giữ vai trò chủ đạo trong tất
cả mọi vấn đề, từ cấp vốn, nguyên vật liệu cho tới phân phối và tiêu thụ. Nh vậy các doanh
nghiệp Nhà nớc không phải lo cạnh tranh với một đối thủ nào bởi khi đó các thành phần
kinh tế khác cha đợc phát triển rộng raĩ. Vì các nguyên nhân trên mà trong thời kỳ bao cấp
cạnh tranh hầu nh không có, các doanh nghiệp Nhà nớc thì rất thụ động. Chuyển sang nền
kinh tế thị trờng cùng với sự phát triển sản xuất kinh doanh, mọi thành phần kinh tế đều
bình đẳng với nhau trớc pháp luật thì phần lớn các doanh nghiệp này đều không thích nghi
nổi với môi trờng mới, không cạnh tranh nổi với các thành phần kinh tế, làm ăn thua lỗ và đi
vào phá sản. Điều này cho thấy khi bớc sang một cơ chế mới: cơ chế thị trờng thì các doanh
nghiệp ở mọi thành phần kinh tế đều phải tìm mọi cách để cạnh tranh nhằm tồn tại. Có thể
nói cạnh tranh là một tất yếu của nền kinh tế thị trờng, là áp lực buộc các doanh nghiệp phải
tìm giải pháp để nâng cao năng suất lao động, đa ra thị trờng những sản phẩm có chất lợng
và giá cả hợp lý. Do đó cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ ngày càng mạnh mẽ và khốc
liệt hơn.
2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nh ta đã biết trong cơ chế thị trờng, cạnh tranh là một tất yếu khách quan. Mỗi doanh
nghiệp khi tham gia vào thị trờng cần phải chấp nhận cạnh tranh, tuân theo quy luật cạnh
tranh cho dù đôi khi cạnh tranh cũng trở thành con dao hai lỡi. Một mặt nó đào thải không
thơng tiếc các doanh nghiệp có chi phí cao, chất lợng sản phẩm tồi, tổ chức tiêu thụ kém,
mặt khác nó buộc các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu giảm chi phí để giảm giá
bán sản phẩm, hoàn thiện giá trị sử dụng của sản phẩm, tổ chức hệ thống tiêu thụ sản phẩm.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển, kinh tế phát triển trên
nhu cầu tiêu dùng nâng lên ở mức cao hơn rất nhiều, để đáp ứng kịp thời nhu cầu này các
doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua các yếu tố trực tiếp
nh giá cả, chất lợng, uy tín Hay các yếu tố gián tiếp nh hoạt động quảng cáo, hội chợ, các
dịch vụ sau bán Hơn nữa trong một nền kinh tế mở nh hiện nay các đối thủ cạnh tranh
không chỉ là các doanh nghiệp trong nớc mà còn là các doanh nghiệp, công ty nớc ngoài có
vốn đầu t cũng nh trình độ công nghệ cao hơn hẳn thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp Việt Nam là một tất yếu khách quan cho sự tồn tại và phát triển.


động theo luật doanh nghiệp.
Tên Tiếng Việt : Công ty dệt may hà nội
Tên Tiếng Anh : Hà nội Textile and Garment Company
Tên Viết Tắt : Hanosimex
Địa Điểm : Số 1 – Mai Động, Quận Hai Bà Trng, TP.Hà Nội
Số điện thoại : 84-04-8621024 ; 8621470; 8624611.
Số Fax : 84-04-8622334.
Website : www.hanosimex.com.vn.
Tên gọi trớc đây của công ty dệt may Hà Nội là nhà máy sợi Hà Nội hoặc xí nghiệp
liên hiệp sợi dệt kim Hà Nội, công ty dệt Hà Nội.
- Ngày 7 tháng 4 năm 1978 tổng công ty nhập khẩu thiết bị Việt Nam và hãng Unionmatex
(Cộng Hoà Liên Bang Đức) chính thức ký hợp đồng xây dựng nhà máy sợi Hà Nội .
- Tháng 2 năm 1979 khởi công xây dựng nhà máy .
- Tháng 1-1982: lắp đặt thiết bị.

Trích đoạn Những thành tựu. Những mặt còn tồn tại. Định hớng nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu ở công ty dệt Những giải pháp từ phía công ty. Kiến nghị đối với nhàn ớc.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status