Vấn đề về quyền chống lại cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ - Pdf 30

1
Vấn đề về quyền chống lại hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
MỤC LỤC
2
Bảng chữ viết tắt
SHTT Sở hữu trí tuệ
CTKLM Cạnh tranh không lành mạnh
LCT Luật cạnh tranh
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
3
MỞ ĐẦU
Ở nước ta, trong những năm gần đây, tình trạng vi phạm quyền chống hành vi
cạnh tranh không lành mạnh đã trở thành một vấn đề nổi cộm, tuy chưa có một thống kê
chính thức và toàn diện nào về tình trạng vi phạm song qua các phương tiện thông tin đại
chúng có thể thấy sự vi phạm diễn ra ngày càng phổ biến, mức độ theo chiều hướng trầm
trọng hơn và cách thức ngày càng tinh vi hơn. Các quy định pháp luật hiện hành của Việt
Nam đã tạo ra những cơ sở pháp lý cần thiết cho việc xử lý các hành vi vi phạm quyền
chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Theo các quy định hiện hành, chủ thể bị vi
phạm có thể áp dụng hay đề nghị áp dụng các biện pháp dân sự, hình sự, hành chính
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm.
Hiện tại, các chế định về quyền chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu công nghiệp được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005 là các chế
định kế thừa nghị định 54 trước đây. Song song đó, các điều khoản có liên quan đến cạnh
tranh không lành mạnh nói chung và cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
trí tuệ nói riêng cũng được quy định trong luật Cạnh tranh 2004. Như vậy, sự tồn tại song
song hai phương thức giải quyết vấn đề về hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo
pháp luật cạnh tranh và pháp luật về sở hữu trí tuệ đã đặt ra một vấn đề cần giải quyết, đó
chính là phân biệt hai phương thức giải quyết này, liệu rằng đây là hai chế định chồng
chéo hay bổ sung cho nhau, cũng như nếu có vụ việc xảy ra thì giải quyết theo luật nào là
hợp lý.

của Công ước Paris."
1.1.1.2 Theo Luật Cạnh tranh
Mặc dù không bao quan hết tất cả các hành vi CTKLM, tuy nhiên Khoản 4 Điều 3
LCT năm 2004 quy định: “Hành vi CTKLM là hành vi của doanh nghiệp trong quá trình
kinh doanh trái với với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt
hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”
Căn cứ điều 39 Luật Cạnh tranh 2004, những hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong Luật này bao gồm:
- Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn.
5
- Xâm phạm bí mật kinh doanh
- Hành vi quảng cáo nhằm CTKLM
- Hành vi ép buộc trong kinh doanh
- Hành vi gièm pha doanh nghiệp khác
- Hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
- Khuyến mại nhằm CTKLM
- Hành vi phân biệt đối xử của hiệp hội
- Hành vi bán hàng đa cấp bất chính .
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định tại Khoản 4
Điều 3 của Luật này do Chính phủ quy định.
1.1.1.3 Theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005
Luật SHTT 2005 không đưa ra một định nghĩa như thế nào là hành vi cạnh tranh
không lành mạnh mà chỉ liệt kê những hành vi nào là cạnh tranh không lành mạnh theo
Điều 130 Luật SHTT.
Theo điều 130, các hành vi sau đây bị coi là hành vi CTKLM:
“a) Sử dụng chỉ dẫn thương mại
1
gây nhầm lẫn
2

SHTT và luật cạnh tranh
1.1.2.1 So sánh hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong luật SHTT và luật CT cụ thể
là hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn
Vì luật SHTT và luật CT đều có quy định về hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn nên
nhóm chúng tôi sẽ phân biệt những điểm khác nhau cơ bản về quy định hành vi sử dụng
chỉ dẫn gây nhầm lẫn giữa 2 luật.
• Giống nhau:
- Đều là hành vi cạnh tranh không lành mạnh
- Chỉ dẫn bao gồm chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại,
khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn đại lý.
• Khác nhau:
Tiêu chí Luật SHTT 2005 Luật CT 2004
Cơ sở pháp lý Điều 130 Luật SHTT Khoản 1 Điều 39, 40 Luật
CT 2004
Khái niệm Tạo thành hành vi cạnh
tranh không lành mạnh khi
mọi hành vi đi ngược lại các
tập quán trung thực trong
lĩnh vực công nghiệp hoặc
thương mại (điều 10 bis
Công ước Paris)
Hành vi CTKLM là hành vi
cạnh tranh của doanh
nghiệp trong quá trình kinh
doanh trái với các chuẩn
mực thông thường về đạo
đức kinh doanh, gây thiệt
hại hoặc có thể gây thiệt hại
đến lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp

lẫn (khoản 1 điều 39, 40)
“Chỉ dẫn: chỉ dẫn chứa
đựng thông tin gây nhầm
lẫn về tên thương mại, khẩu
hiệu kinh doanh, biểu tượng
kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn
địa lý và các yếu tố khác
theo quy định của Chính
phủ.”
→ Không có chỉ dẫn gây
nhầm lẫn về nhãn hiệu hàng
hóa.
- Ngoài ra còn có các hành
vi cạnh tranh không lành
mạnh khác quy định tại điều
41-48 LCT
Chủ thể thực hiện hành vi
chỉ dẫn gây nhầm lẫn
Chủ thể thực hiện hành vi
CTKLM liên quan đến chỉ
dẫn thương mại theo quy
định của Luật SHTT 2005
rộng hơn so với Luật CT
2004 . Cụ thể là đối tượng
áp dụng rộng bao gồm
không chỉ các tổ chức, cá
nhân Việt Nam mà gồm cả
tổ chức, cá nhân nước ngoài
khi đáp ứng các điều kiện
quy định tại Luật này và

được quy định tại Khoản 3 Điều 198 Luật SHTT. Cụ thể ở bảng dưới đây:

CHẾ/BIỆN
PHÁP
LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ LUẬT CẠNH TRANH
Tự bảo vệ
Do hành vi CTKLM này có thể
đồng thời là hành vi xâm phạm
quyền SHTT do đó chủ thể quyền
SHTT có thể áp dụng các biện
pháp tự bảo vệ theo quy định tại
Điều 198 LSHTT
Không có quy định
Biện pháp dân
sự
Được quy định tại Điều 202 Luật
SHTT gồm:
Chấm dứt hành vi xâm phạm
Xin lỗi, cải chính công khai
Thực hiện nghĩa vụ dân sự
Bồi thường thiệt hại
Tiêu hủy, phân phối hoặc đưa vào
sử dụng không nhằm mục đích
thương mại
Bồi thường thiệt hại được quy
định tại Điều 6 NĐ 71/2014/NĐ-
CP
“1. Tổ chức, cá nhân có hành vi
vi phạm pháp luật về cạnh tranh
gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà

với hàng hoá giả mạo về sở hữu
trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu và
phương tiện được sử dụng chủ
yếu để sản xuất, kinh doanh hàng
hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ với
điều kiện không làm ảnh hưởng
đến khả năng khai thác quyền của
chủ thể quyền sở hữu trí tuệ;
Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt
Nam đối với hàng hoá quá cảnh
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
hoặc buộc tái xuất đối với hàng
hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ,
phương tiện, nguyên liệu, vật liệu
nhập khẩu được sử dụng chủ yếu
để sản xuất, kinh doanh hàng hoá
giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi
đã loại bỏ các yếu tố vi phạm trên
hàng hoá.
Nếu hành vi này không phát triển
thành 1 vụ việc xâm phạm quyền
SHTT mà chỉ là 1 hành vi
CTKLM thì thông thường ta áp
Điều 117 LCT
Hình phạt chính:
Cảnh cáo
Phạt tiền
Hình phạt bổ sung:
Thu hồi giấu chứng nhận đăng
ký kinh doanh, tước quyền sử

sự
Điều 212 Luật SHTT nếu hành vi
xâm phạm có yếu tố cấu thành tội
phạm
Điều 94 LCT nếu vụ việc cạnh
tranh có dấu hiệu tội phạm.
1.2 Quyền chống lại hành vi CTKLM
1.2.1 Khái niệm quyền chống lại hành vi CTKLM
Quyền sở hữu công nghiệp là tài sản vô hình chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong
tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Do vậy, quyền sở hữu công nghiệp đang khẳng định
vai trò to lớn, tạo nên giá trị và tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Chính vì
thế, các doanh nghiệp đã và đang tích cực thực hiện các hoạt động bảo vệ các đối tượng
sở hữu công nghiệp của mình, trong đó có quyền chống các hành vi CTKLM xuất hiện
trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Trên thế giới, tại Hội nghị ngoại giao Brusels về Sửa đổi Công ước Paris về Bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp bằng việc bổ sung Điều 10 bis vào Công ước đã lần đầu
tiên công nhận quyền chống CTKLM là một bộ phận cấu thành của bảo hộ Sở hữu công
nghiệp vào năm 1900. Tại Điều 1, Công ước Paris quy định: “Đối tượng bảo hộ sở hữu
công nghiệp bao gồm patent, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá,
nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ, và chống
CTKLM”.
Tương tự như Công ước Paris, pháp luật về SHTT Việt Nam cũng xem quyền
chống CTKLM được coi là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp.
Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã quy định tại Khoản 4, Điều 4 như sau:
“Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn
địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống CTKLM”.
Như vậy, quyền chống CTKLM được coi là một trong những đối tượng của quyền sở hữu
công nghiệp. Có quy định như vậy là bởi đối tượng sở hữu công nghiệp là một yếu tổ thể
hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại, nên đã có không ít các doanh nghiệp thực hiện

chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra, kể cả khi hành
vi đó đã hoặc đang bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc hình sự. Khi bị xâm phạm
do hành vi cạnh trahnh không lành mạnh, thì các chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ
quyền của mình. Thủ tục yêu cầu áp dụng biện pháp dân sự, thẩm quyền, trình tự, thủ tục
áp dụng biện pháp dân sự tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
12
Cụ thể, tại Điều 202 Luật sở hữu trí tuệ quy định các biện pháp dân sự như sau:
“1. Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
2. Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
3. Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
4. Buộc bồi thường thiệt hại;
5. Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích
thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để
sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh
hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ”.
Khi yêu cầu Tòa án bỏ vệ quyền của mình, chủ thể phải có nghĩa vụ chứng minh, cụ thể
tại Khoản 3, Điều 203, quy định “Nguyên đơn phải cung cấp các chứng cứ về hành vi xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc hành vi cạnh tranh không lành mạnh”.
Ngoài ra, tại Khoản 6 Điều 203 cũng quy định “Trong trường hợp có yêu cầu bồi
thường thiệt hại thì nguyên đơn phải chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra và nêu căn cứ xác
định mức bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 205 của Luật này”.
Theo đó, tại Điều 205 quy định mức bồi thường thiệt hại về vật chất được tính bằng tiền
cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu
trí tuệ, nếu khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật
chất. Ngoài ra, trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi cạnh tranh không lành
mạnh đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình thì có quyền yêu cầu Toà án quyết định mức bồi
thường trong giới hạn từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tuỳ thuộc vào mức độ
thiệthại.
- Biện pháp hành chính:
Biện pháp hành chính là biện pháp được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp

1. Đối với mỗi hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh, tổ chức cá nhân vi phạm phải
chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau:
a) Cảnh cáo;
b) Phạt tiền.
2. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về cạnh tranh
còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
a) Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng
chỉ hành nghề;
b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm pháp luật về cạnh tranh bao
gồm cả tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm.
3. Ngoài các hình thức xử phạt theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này, doanh
nghiệp vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số biện pháp khắc phục hậu quả…”.
+ Về mức phạt tiền đối với từng hành vi được quy định tại Điều 28 và Điều 29
Nghị định này như sau:
“Điều 28. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp
1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có
quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó
mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người
14
đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý
của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng;
b) Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây
nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý
mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm
thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.
2. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau
đây:
a) Sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh
doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, nhãn hàng hóa và các

2. Ngoài việc bị phạt theo Khoản 1 Điều này, doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị tịch thu
tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu
khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm”.
+ Về thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh:
Tại Điều 119, Luật cạnh tranh quy định về cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm
pháp luật cạnh tranh bao gồm: Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Cơ quan quản lý cạnh
tranh và Cơ quan khác có thẩm quyền.
+ Về trình tự, thủ tục xử lý hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành
mạnh được quy định cụ thể trong Luật cạnh tranh và Nghị định 71/2014/NĐ-CP.
Việc xử lý vi phạm đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật
canh tranh, mà cụ thể là Luật cạnh tranh và Nghị định 71 vẫn còn hạn chế như:
- Thứ nhất, chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định trong Luật
Cạnh tranh Việt Nam còn rất khái quát, chưa cụ thể hóa đối với từng hành vi vi phạm,
viện dẫn quá nhiều văn bản dưới luật hoặc văn bản pháp luật chuyên ngành khác. Đặc
biệt, trong các văn bản hướng dẫn chi tiết về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nhiều
quy định dừng lại ở mức định tính do chưa thể định lượng gây khó khăn cho việc áp dụng
trên thực tế.
- Thứ hai, chế tài còn lỏng lẻo, mức xử phạt đối với các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh còn chưa đủ sức răn đe. Chẳng hạn: Theo quy định của Nghị định 71/2014/NĐ-CP
thì mức phạt tiền cao nhất đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh là 200 triệu
đồng, tuy có cao hơn so với Nghị định 120/2005/NĐ-CP trước đây nhưng nếu so sánh
giữa mức tiền phạt mà doanh nghiệp phải chịu so với những thiệt hại mà doanh nghiệp đó
gây ra cho các doanh nghiệp khác, cho người tiêu dùng và xã hội thì vẫn chưa thỏa đáng.
Ngoài ra, có thể áp dụng một số hình thức phạt bổ sung khác hoặc biện pháp khắc phục
hậu quả.
- Cuối cùng, các nhà làm luật Việt Nam đã cố gắng tạo sự liên kết về xử lý hành vi cạnh
tranh không lành mạnh giữa Luật sở hữu trí tuệ và Luật cạnh tranh, chẳng hạn như tại
khoản 3 Điều 211 của Luật Sở hữu trí tuệ có sự dẫn chiếu đến pháp luật cạnh tranh khi
quy định “Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí
tuệ thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh”. Tuy

xác định được cơ sở sản xuất loại hàng hóa đó thì Quản lý thị trường có thẩm quyền tiếp
tục xử lý hành vi vi phạm tại cơ sở sản xuất.
4. Hải quan có thẩm quyền xử phạt hành vi vi phạm quy trong hoạt động quá cảnh, nhập
khẩu hàng hóa”.
Như vậy, có thể thấy, Nghị định 99/2013/NĐ-CP quy định về mức xử lý đối với
hành vi CTKLM, mà chủ yếu là trong sở hữu công nghiệp rõ ràng, cụ thể, chi tiết mức
phạt đối với từng hành vi tương ứng với giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm. Điều này đã
khắc phục được bất cập về sự khác nhau trong việc quy định các hành vi CTKLM theo
Điều 130 Luật SHTT và Điều 39 LCT.
17
Tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập như: công tác xử lý các hành vi CTKLM trong lĩnh
vực SHTT với sự tham gia của rất nhiều cơ quan như thanh tra KH&CN, quản lý thị
trường, hải quan, tòa án… tạo nên sự chồng lấn về thẩm quyền, mâu thuẫn về trình tự,
thủ tục giải quyết vụ việc. Thêm vào đó, pháp luật thiếu các quy định về giải quyết xung
đột pháp lý, phân định thẩm quyền của các cơ quan thực thi cũng như thiếu quy định về
cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình xử lý hành vi phản cạnh tranh liên quan
đến quyền SHTT dẫn đến thiếu khả năng hợp tác hiệu quả của các cơ quan thực thi trong
khi luật nội dung chưa rõ ràng, cụ thể đã gây khó khăn cho quá trình triển khai thực hiện
pháp luật.
Tóm lại, hiện nay, đang tồn tại hai nguồn văn bản xử lý hành chính đối với hành vi
CTKLM. Thứ nhất, là nghị định 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết LCT về xử lý vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh. Thứ hai là nghị định 99/2013/NĐ-CP quy định xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
- Biện pháp hình sự
Ngoài các biện pháp dân sự và hành chính, thì hành vi CTKLM có yếu tố cấu thành
tội phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự. Tuy nhiên,
thực tế hiện nay, Nhà nước chỉ coi những hành vi xâm hại quyền lợi của người tiêu dùng là
tội phạm và áp dụng chế tài hình sự khi hành vi đó có tính chất nguy hiểm cao, gây tổn hại
nghiêm trọng cho tính mạng, sức khoẻ và tài sản của người tiêu dùng. Để có thể áp dụng
chế tài hình sự cho người vi phạm, buộc phải chứng minh được các yếu tố cấu thành tội

quyền sở hữu công nghiệp tại Điều 130 thì LCT lại không có quy định cụ thể nào về hành
vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp. Về nguyên tắc, những
thoả thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại Điều 8, Điều 9 LCT, những hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền quy định từ Điều 11 đến Điều 14
LCT, những hành vi tập trung kinh tế quy định từ Điều 16 đến Điều 19 LCT mà liên quan
đến quyền sở hữu công nghiệp đều có thể bị coi là hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan
đến quyền sở hữu công nghiệp.
Theo quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ, những hành vi
sau đây bị coi là hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ:
• Thoả thuận hạn chế phát triển kĩ thuật, công nghệ khi các bên tham gia thoả thuận
có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên (khoản 4 Điều 8,
khoản 2 Điều 9 Luật cạnh tranh);
• Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện hành
vi cản trở sự phát triển kĩ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng (khoản 3
Điều 13 Luật cạnh tranh). Theo Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005
của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh, các
hành vi nêu trên được giải thích là việc mua sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng
19
công nghiệp để tiêu huỷ hoặc không sử dụng (khoản 1 Điều 17 và điểm a khoản 3
Điều 28);
• Ghi nhận những điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng sử dụng đối tượng
sở hữu công nghiệp.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 144 LSHTT, hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu
công nghiệp không được có các điều khoản hạn chế bất hợp lí quyền của bên được
chuyển quyền, đặc biệt là các điều khoản không xuất phát từ quyền của bên chuyển
quyền, bao gồm:
(i) Cấm bên được chuyển quyền cải tiến đối tượng sở hữu công nghiệp, trừ nhãn hiệu; buộc
bên được chuyển quyền phải chuyển giao miễn phí cho bên chuyển quyền các cải tiến đối
tượng sở hữu công nghiệp do bên được chuyển quyền tạo ra hoặc quyền đăng ký sở hữu
công nghiệp, quyền sở hữu công nghiệp đối với các cải tiến đó;

người tiêu dùng
Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi
của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch
cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao
gồm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh,
lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường,
lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung
kinh tế.
Hậu quả
Gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh ;
cho một bộ phận người tiêu dùng nhất
định.
Gây nguy hiểm lớn cho thị trường,
làm sai lệch cấu trúc thị trường gây
tổn hại cho toàn bộ lợi ích của người
tiêu dùng và lợi ích chung của xã hội,
của nền kinh tế
Phương
thức thực
hiện
Giả mạo chỉ dẫn thương mại
Xâm phạm bí mật kinh doanh
Ép buộc trong kinh doanh, gièm pha
trong kinh doanh, gây rối loạn kinh
doanh cho doanh nghiệp khác
Quảng cáo, khuyến mại nhằm cạnh
tranh ko lành mạnh
Phân biệt đối xử của hiệp hội
Báo hàng đa cấp bất chính
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

luật
Chống các hành vi này. Cấm thực
hiện các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh
Kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh
tranh
1.4 Sự giao thoa giữa Luật SHTT và LCT
1.4.1 Phân biệt hành vi CTKLM trong Luật SHTT và LCT
Mối quan hệ giữa pháp luật chống CTKLM và pháp luật về SHTT có từ rất lâu.
Các quy định mang tính quốc tế đầu tiên về CTKLM xuất phát từ một công ước về SHTT
là Công ước Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp. Bảo vệ quyền SHTT chính là một trong
những xuất phát điểm cơ bản của các quy định CTKLM, vì về bản chất các hành vi xâm
phạm quyền SHTT đều được tiến hành với động cơ CTKLM. Một hành vi chỉ bị coi là
xâm phạm quyền SHTT khi chủ thể thực hiện nó có ý định hoặc đã đưa tài sản trí tuệ của
người khác vào khai thác thương mại, đồng nghĩa với việc trở thành một đối thủ cạnh
tranh của chính chủ sở hữu tài sản trí tuệ đó.
Hành vi vi phạm quyền SHTT và CTKLM nhìn bề ngoài có thể có rất nhiều điểm
giống nhau, tuy vậy sự khác nhau giữa hai loại hành vi này xuất phát từ chính bản chất
pháp lý của mỗi loại hành vi. Đó chính là sự khác nhau về phạm vi áp dụng, yếu tố chủ
thể và yếu tố lỗi. Từ sự khác nhau cơ bản này ta có thể phân biệt hành vi vi phạm quyền
SHTT và hành vi CTKLM qua bảng so sánh sau:
TIÊU CHÍ
HÀNH VI XÂM PHẠM
QUYỀN SHTT
HÀNH VI CTKLM
Phạm vi áp dụng Khi có một quyền SHTT
được bảo hộ hợp pháp bị
xâm hại, tức là sẽ không có
khái niệm về vi phạm quyền
Hình thành kể cả khi một đối

một khu vực địa lý cụ thể
trong đó có những hàng hóa,
dịch vụ có thể thay thế cho
nhau với các điều kiện cạnh
tranh tương tự và có sự khác
biệt đáng kể với các khu vực
lân cận).
(Khoản 1 Điều 3 LCT)
Ví dụ: Một doanh nghiệp tại Bến Tre đã sao chép nguyên
vẹn một nhãn hiệu đã đăng ký cho cùng nhóm sản phẩm của
doanh nghiệp khác có trụ sở và phạm vi hoạt động tại Đà
Nẵng. Giả sử rằng hai doanh nghiệp này không có quan hệ
cạnh tranh với nhau trên thị trường địa lý liên quan (do ở
quá xa nhau) thì chủ nhãn hiệu vẫn hoàn toàn có thể kiện về
hành vi vi phạm quyền SHTT nhưng sẽ không thể kiện về
hành vi CTKLM.
Chủ thể có quyền khởi
kiện
Chủ thể của quyền SHTT
(Khoản 2 Điều 198 LSHTT)
Tổ chức cá nhân bị thiệt hại
hoặc có khả năng bị thiệt hại
do hành vi CTKLM
(Điều 58 LCT)
23
Yếu tố lỗi
Lỗi không phải là yếu tố bắt
buộc cấu thành hành vi vi
phạm. Một khi các đối
tượng của quyền SHTT đã

quy định về CTKLM trong lĩnh vực SHTT. Hiện nay, trong hệ thống pháp luật đương
nhiên phải kể tới LCT năm 2004 (bắt đầu có hiệu lực từ 01/07/2005) Bộ luật dân sự năm
2005 (bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2006) và Luật SHTT 2005 (bắt đầu có hiệu lực
từ ngày 1/7/2006), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT năm 2009 (bắt đầu
có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2010).
Như vậy, tại thời điểm hiện tại cùng song song tồn tại khái niệm về CTKLM tại
hai văn bản là Luật SHTT 2005, hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp bao gồm : (Khoản 1 Điều 130)
“Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh
doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ;
Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất
lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng
hoá, dịch vụ;
Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy
định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà
24
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại
diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của
chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng;
Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm
lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà
mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm
thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương
ứng.”
Văn bản thứ hai tồn tại khái niệm CTKLM trong đó có hành vi CTKLM liên quan
đến SHTT được quy định trong LCT như đã được đề cập. Trên thực tế, mặc dù LCT đã
có hiệu lực khá lâu nhưng cho tới thời điểm này có rất ít vụ việc nào về CTKLM bị xử lý
theo LCT. Còn trước đó, khi Luật SHTT 2005 chưa ra đời, việc áp dụng Nghị định
54/2000/NĐ-CP để xử lý về hành vi CTKLM liên quan đến SHCN cũng rất hạn chế, theo
đó tất cả các vụ việc được xử lý chỉ giới hạn ở một hoặc một vài ý kiến giám định của

2. Chỉ dẫn thương mại quy định tại khoản 1 Điều này là các dấu hiệu, thông tin nhằm
hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu
tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá,
nhãn hàng hoá.
3. Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm các
hành vi gắn chỉ dẫn thương mại đó lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ,
giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ
để bán, nhập khẩu hàng hoá có gắn chỉ dẫn thương mại đó, và Điều 198 khoản 3 quy
định về Quyền tự bảo vệ (Phần thứ 5 Chương XVI liên quan đến Bảo vệ quyền SHTT)”.
Trong số các quy định có liên quan đến hành vi CTKLM trong Luật SHTT vừa
nêu, có một số điểm cần lưu ý:
Một là, khái niệm về hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHTT đã được mở rộng và
có nội hàm rõ ràng hơn rất nhiều so với khái niệm chỉ dẫn gây nhầm lẫn (một trong các
dạng biểu hiện cụ thể của hành vi CTKLM mạnh liên quan tới SHTT được quy định tại
khoản 1 Điều 39 và Điều 40 LCT).
Hai là, Luật SHTT đã đề cập đến khả năng chủ thể bị thiệt hại hoặc có khả năng bị
thiệt hại do hành vi CTKLM có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện
pháp dân sự để bảo vệ quyền của mình đều không được chỉ rõ trong LCT. Tuy nhiên, nội
dung nghiên cứu sẽ tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa các quy định về CTKLM
liên quan tới SHTT và các quy định về vi phạm SHTT nói chung .
Các quy định về CTKLM sẽ và phải đóng vai trò bổ sung cho các quy định về
SHTT, nhưng dựa trên các cơ sở pháp lý độc lập, để bảo vệ hiệu quả hơn các chủ thể
trong nền kinh tế trong trường hợp các chủ thể không thể viện dẫn các quy định về SHTT

Trích đoạn Pháp luật về CTKLM của các quốc gia trên thế giới 1 Về khái niệm CTKLM Pháp luật về CTKLM của một số quốc gia trên thế giớ Nhà nước cũng cần có những hình thức tuyên truyền, phổ biến những quy định liên quan đến trình tự, thủ tục khiếu nại, khởi kiện đối với hành vi CTKLM; tổng kết
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status