LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại PHÁP LUẬT CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH vực bán HÀNG đa cấp - Pdf 48

Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bán hàng đa cấp

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN THƯƠNG MẠI


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA 2007-2011
ĐỀ TÀI:

PHÁP LUẬT CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH TRONG LĨNH VỰC BÁN HÀNG ĐA CẤP

Giáo viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Ths. Nguyễn Mai Hân

Phan Thị Diệp
MSSV: 5075250
Lớp: Thương Mại 3 – K33

GVHD: Nguyễn Mai Hân

1

SVTH: Phan Thị Diệp



TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG ĐA
CẤP........................................................................................................................................ 30
2.1. Các hành vi bán hàng đa cấp bất chính.................................................................... 30

GVHD: Nguyễn Mai Hân

2

SVTH: Phan Thị Diệp


Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bán hàng đa cấp
2.1.1. Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng
hóa ban đầu hoặc phải trả một lượng tiền để được tham gia mạng lưới bán hàng đa
cấp........................................................................................................................................... 34
2.1.2. Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán
cho người tham gia để bán lại............................................................................................... 36
2.1.3. Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác
chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp ........................... 37
2.1.4. Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp,
thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham
gia ........................................................................................................................................... 39
2.2. Xử lý vi phạm trong lĩnh vực bán hàng đa cấp ....................................................... 43
2.2.1. Đối với doanh nghiệp.............................................................................................. 43
2.2.2. Đối với người tham gia........................................................................................... 47
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN QUY
ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG ĐA CẤP TẠI VIỆT
NAM....................................................................................................................................... 50
3.1. Một số bất cập trong quy định pháp luật về bán hàng đa cấp.............................. 51
3.1.1. Quy định về Giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp ............................................ 51

-----1. Lý do chọn đề tài
Cùng với quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, phương thức bán
hàng đa cấp đã du nhập vào Nước ta và phát triển một cách nhanh chóng. Sự xuất
hiện của kinh doanh đa cấp không chỉ làm phong phú môi trường kinh doanh mà
còn đem lại lợi ích nhất định cho xã hội, doanh nghiệp, người tham gia, người tiêu
dùng. Tuy nhiên, bên cạnh hoạt động kinh doanh đa cấp lành mạnh, đã có một số
doanh nghiệp cố tình lợi dụng võ bọc kinh doanh đa cấp để trục lợi bất chính từ
người tham gia, khách hàng. Vì thế, xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh
hoạt động kinh doanh đa cấp là công việc hết sức cần thiết để tạo điều kiện thuận
lợi cho phương thức kinh doanh đa cấp chân chính phát triển; Đồng thời, ngăn
ngừa và xử lý nghiêm minh những chủ thể kinh doanh đa cấp bất chính.
Hiện nay, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều
chỉnh bán hàng đa cấp như Luật cạnh tranh năm 2004, Nghị định 110/2005/NĐCP, Thông tư 19/2005/TT-BTM. Thế nhưng, qua vài năm áp dụng, các văn bản
này đã xuất hiện nhiều mặt hạn chế, chỉ mới ghi nhận kinh doanh đa cấp dưới góc
độ hẹp là hoạt động bán hàng đa cấp; Đồng thời, chưa nêu được chi tiết cụ thể để
phân biệt bán hàng đa cấp bất chính và bán hàng đa cấp chân chính, chưa đề cập
đầy đủ việc bảo vệ quyền lợi tiêu dùng, người tham gia mạng lưới bán hàng đa
cấp. Do đó, các doanh nghiệp đã lợi dụng khe hở của pháp luật để trục lợi. Vì vậy,
vấn đề cấp thiết hiện nay là cần bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện các quy định của
pháp luật. Do đó, người viết chọn đề tài “Pháp luật cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực bán hàng đa cấp” để làm luận văn tốt nghiệp cho mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc đưa ra các lập luận để chứng minh sự tồn tại của hoạt động
kinh doanh đa cấp là một yếu tố khách quan cũng như khẳng định vai trò tiến bộ

GVHD: Nguyễn Mai Hân

4

SVTH: Phan Thị Diệp

niệm, đặc điểm, ý nghĩa của bán hàng đa cấp; Hợp đồng; Giấy đăng ký tổ chức bán
hàng đa cấp và nhận dạng hành vi bán hàng đa cấp bất chính.
Chương 2. Điều chỉnh của pháp luật đối với hành vi cạnh tranh không
lành mạnh trong hoạt động bán hàng đa cấp. Trong chương này, tác giả tập
trung nghiên cứu các vấn đề theo quy định hiện hành liên quan đến hoạt động bán
hàng đa cấp bất chính và biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động bán hàng
đa cấp bất chính nhằm từng bước đưa bán hàng đa cấp vào khuôn khổ pháp luật.

GVHD: Nguyễn Mai Hân

5

SVTH: Phan Thị Diệp


Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bán hàng đa cấp
Chương 3. Thực trạng về hoạt động kinh doanh đa cấp ở Việt Nam.
Đối với nội dung chương 3, người viết khái quát một số bất cập trong quy
định pháp luật về bán hàng đa cấp và giải pháp để hoàn thiện pháp luật trong lĩnh
vực bán hàng đa cấp.
Kết luận

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH TRONG LĨNH VỰC BÁN HÀNG ĐA CẤP TẠI VIỆT NAM
-----Để đi sâu vào tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực bán hàng đa cấp, cần xác định rõ những vấn đề lý
luận chung về cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh và khái quát về bán
hàng đa cấp. Từ đó, tạo cơ sở, tiền đề cho việc nghiên cứu những vấn đề mang tính
pháp lý về hoạt động bán hàng đa cấp bất chính.

được cấu thành từ các yếu tố nào. Có rất nhiều quan điểm về cạnh tranh:
 Cuốn Black’law Dictionary diễn tả, cạnh tranh là sự nỗ lực hoặc hành vi
của hai hoặc nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ
thể thứ ba1.
 Theo từ điển kinh doanh của Anh, cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua,
kình địch giữa các nhà đầu tư trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài
nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình2.
 Theo từ điển Cornu của Pháp, thì cạnh tranh được hiểu là chạy đua trong
kinh tế, hành vi của các doanh nghiệp độc lập với nhau và là đối thủ của nhau,
cung ứng hàng hóa- dịch vụ, nhằm làm thỏa mãn nhu cầu giống nhau với sự may
rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc để bị mất đi một lượng khách
hàng thường xuyên3.
Từ những khái niệm trên, cho thấy có nhiều quan điểm diễn đạt khác nhau
về khái niệm cạnh tranh nhưng phạm trù cạnh tranh được hiểu là quan hệ kinh tế, ở
đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn
để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy
khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường kinh doanh có lợi nhất.
Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa
lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là
lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.
1.1.1.2. Ý nghĩa của cạnh tranh
Được thừa nhận là môi trường vận động của cơ chế kinh tế thị trường, cạnh
tranh thực sự tồn tại như một quy luật khách quan, là động lực thúc đẩy và điều tiết
mọi hoạt động kinh tế4. Các lợi ích mà nền kinh tế- xã hội có được do sự tồn tại
của cạnh tranh như đã phản ánh phần nào chức năng của nó đối với nền kinh tế,
cạnh tranh đảm nhận những chức năng sau đây:

1

Ts.Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc và Ths. Nguyễn Ngọc Sơn: Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nhà xuất bản Tư

Khi một doanh nghiệp đưa ra sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu của thị
trường, sản phẩm đó nhanh chóng chiếm được ưu thế và tạo điều kiện để doanh
nghiệp thu lợi nhuận cao. Điều này, khiến các đối thủ cạnh tranh về sản phẩmhàng hóa cùng loại cũng phải quan tâm tới việc cải tiến về hình thức và chất lượng
sản phẩm, bằng việc tiếp cận khoa học và công nghệ mới. Chỉ có khoa học công
nghệ tiên tiến mới có thể trợ giúp hữu hiệu cho sản xuất, kinh doanh, giảm giá
thành sản xuất, tăng tính năng và chất lượng sản phẩm. Các hoạt động nghiên cứu
và triển khai nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh sẽ
thúc đẩy sự tiến bộ khoa học- công nghệ, hướng tới sử dụng công nghệ tiên tiến
trong sản xuất kinh doanh.
 Cạnh tranh có chức năng phân phối và điều hòa thu nhập.
Cạnh tranh tạo ra áp lực liên tục đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh
trên nền kinh tế thị trường. Vì vậy, không có một chủ thể kinh doanh nào có thể
mãi thu lợi nhuận cao và thống trị hệ thống phân phối trên thị trường. Các đối thủ
cạnh tranh khác ngày đêm tìm kiếm những giải pháp hữu ích để ganh đua. Trong
từng thời điểm, một sản phẩm hàng hóa với những ưu việt nhất định thỏa mãn yêu
cầu của người tiêu dùng có thể chiếm được ưu thế trên thị trường, song vị trí của
nó luôn bị đe dọa bởi những sản phẩm cùng loại khác tiến bộ hơn. Có cạnh tranh,
các nhà kinh doanh không thể lạm dụng vị thế của mình, chất lượng sản phẩm luôn
được cải tiến và nâng cao mà giá thành thấp, những sản phẩm không tốt sẽ bị loại
bỏ ra khỏi thị trường. Vì vậy, cạnh tranh là một yếu tố sẽ tác động một cách tích
cực đến việc phân phối và điều hòa thu nhập.
 Cạnh tranh là điều kiện góp phần làm thỏa mãn nhu cầu của người
tiêu dùng và đem lại lợi ích cho họ.
GVHD: Nguyễn Mai Hân

8

SVTH: Phan Thị Diệp



khuôn khổ pháp luật. Nếu cạnh tranh không lành mạnh sẽ làm biến dạng quan hệ
cung- cầu trên thị trường, gây rối loạn sản xuất và cuối cùng đem lại thiệt hại cho
người tiêu dùng. Do đó, việc quan tâm đến cạnh tranh là điều cần thiết đối với sự
phát triển của nền kinh tế ở một nước nào đó nói riêng và sự phát triển của một
quốc gia nói chung, đòi hỏi quốc gia đó phải có chính sách cạnh tranh cũng như

GVHD: Nguyễn Mai Hân

9

SVTH: Phan Thị Diệp


Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bán hàng đa cấp
pháp luật về cạnh tranh hợp lý nhằm thực hiện mục tiêu là xây dựng, duy trì và bảo
vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh.
1.1.2. Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Đây là một trong những nội dung quan trọng của Luật cạnh tranh Việt Nam.
Pháp luật cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới có nhiều cách giải quyết khác
nhau về vấn đề cạnh tranh không lành mạnh. Một số quốc gia điều chĩnh hành vi
cạnh tranh trong một số văn bản quy phạm pháp luật riêng biệt như Đức, Thụy Sĩ,
Trung Quốc, Nhật Bản. Một số quốc gia khác lại xây dựng thành một chế định
trong Luật cạnh tranh như Bungari, Hàn Quốc, Cộng đồng các quốc gia độc lập
(SNG), Mông Cổ, Giamaica. Ngoài ra, còn có các quốc gia lại coi cạnh tranh
không lành mạnh là một lĩnh vực đặc biệt của pháp luật dân sự như Pháp, Italia.
Tuy nhiên, mục đích điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh không lành mạnh của các
quốc gia đều nhằm bảo vệ môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh, bình
đẳng.
1.1.2.1. Khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Khái niệm về hành vi cạnh tranh ở các nước có cách diễn đạt khác nhau

thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của
các doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.
Như vậy, khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các nước có
các cách diễn đạt không giống nhau nhưng về nội dung chủ yếu đều gần giống
nhau. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm hai nội dung:
 Đây là hành vi cạnh tranh trong quá trình sản xuất, kinh doanh mà hành
vi này vi phạm các nguyên tắc cơ bản của đạo đức kinh doanh hay những quy định
của pháp luật về cạnh tranh. Đó có thể là những vi phạm về thỏa thuận trong kinh
doanh, một tập quán kinh doanh mà các nhà sản xuất, kinh doanh điều hiểu và tuân
theo hay đó là hành vi vi phạm những quy định pháp luật để thu lợi bất chính, làm
giảm uy tín của đối thủ cạnh tranh hoặc có thể làm cho đối thủ cạnh tranh phá sản.
 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra thiệt hại cho nhà sản xuất
chân chính, người tiêu dùng, gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước. Điều này có
thể thấy thông qua những tác động trực tiếp của các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh gây ra như: làm cho đối thủ cạnh tranh rơi vào tình trạng khó khăn, sản
phẩm không thể tiêu thụ được, doanh thu của doanh nghiệp bị giảm sút hoặc gây
thiệt hại không bằng vật chất nhưng cũng không kém phần quan trọng như làm uy
tín của doanh nghiệp bị bôi nhọ dẫn đến mất lòng tin ở khách hàng vào sản phẩm,
hàng hóa của mình, hoặc hành vi đó làm giảm lòng tin ở đối tác thậm chí hành vi
đó có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước đến sự phát triển cân bằng của nền
kinh tế như độc quyền sản phẩm, nâng giá sản phẩm.
1.1.2.2. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Luật cạnh tranh năm
2004
Dựa vào các khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh nêu trên, hành vi
cạnh tranh không lành mạnh có thể phân chia dưới góc độ xem xét lợi ích của các
chủ thể bị xâm hại, bao gồm: hành vi xâm hại lợi ích của đối thủ cạnh tranh (xâm
phạm bí mật kinh doanh; ngăn cản; gièm pha; bôi nhọ đối thủ kinh doanh); hành vi
xâm phạm lợi ích của khách hàng (can thiệp vào quyền tự do quyết định của khách
hàng; khuyến mại không trung thực; quảng cáo sai lệch).
Theo Điều 39 của Luật cạnh tranh 2004, các hành vi cạnh tranh không lành

số mục đích sau :
 Thứ nhất, lợi nhuận. Vì khi đã sản xuất, kinh doanh thì không một doanh
nghiệp nào không chú ý đến lợi nhuận kiếm được, và chính sức hút quá lớn của
đồng tiền mà các doanh nghiệp sử dụng cả những thủ đoạn không đẹp để cạnh
tranh và khi tồn tại trong nền kinh tế thị trường thì nó càng xuất hiện rõ nét và
không thể tránh khỏi, điều này chỉ có thể kềm chế khi có sự tự giác của các nhà
kinh doanh, sản xuất biết tuân thủ đúng pháp luật và có đạo đức kinh doanh cùng
với đó là sự quản lí chặt chẽ của các cơ quan nhà nước có trách nhiệm trong việc
phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm.
 Thứ hai, hạ gục đối thủ. Doanh nghiệp nào cũng muốn sản phẩm của
mình là duy nhất, không ai cạnh tranh. Do đó, về mặt bên ngoài các doanh nghiệp
kinh doanh cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật, công bằng nhưng tồn tại trong
họ là những kế hoạch lật đổ đối thủ bằng những chiến lược hay sách lược ngắn
hạn, trung hạn và dài hạn với nhiều hình thức khác nhau và đôi lúc là những hành

GVHD: Nguyễn Mai Hân

12

SVTH: Phan Thị Diệp


Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bán hàng đa cấp
vi cạnh tranh không đẹp, không lành mạnh và khi đó pháp luật cần phải can thiệp
để cho nó hoạt động trong khuôn khổ cạnh tranh công bằng, lành mạnh.
 Thứ ba, chiếm lĩnh thị trường, thu hút khách hàng. Khi đã hạ gục đối thủ
muốn có lợi nhuận nhiều thì phải có khách hàng mua sản phẩm, hàng hóa của
mình. Mặt khác, muốn bán được nhiều hàng hóa của mình thì phải có thị trường
rộng lớn, không ai cạnh tranh với mình. Nhưng thực tế thì đa số các thị trường tiêu
thụ cùng một loại sản phẩm nhưng có nhiều hãng sản xuất giống nhau như bột giặt,

13

SVTH: Phan Thị Diệp


Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bán hàng đa cấp
 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh ảnh hưởng đến sự cạnh tranh công
bằng trong kinh doanh: có thể dẫn đến việc làm giảm uy tín của các nhà sản xuất,
lợi nhuận giảm sút và có thể gây hậu quả xấu nhất là doanh nghiệp bị phá sản. Khi
đã bị đối thủ chơi xấu dùng những thủ đoạn không minh bạch dù các doanh nghiệp
bị hại đã biết thì cũng quá muộn vì đây là cạnh tranh không lành mạnh, không
công khai hoặc công khai dưới nhiều hình thức mà không biết được. Khi nhà kinh
doanh phát hiện thì sự việc đã diễn ra rồi, họ chỉ biết khắc phục hậu quả bằng cách
thanh minh, giải thích và có thể gánh chịu toàn bộ hậu quả thua lổ dù mình bị vu
oan, bôi nhọ. Dù có chứng minh với khách hàng là mình bị hại thì uy tín của họ
cũng đã bị giảm sút, người tiêu dùng có quay lại sử dụng sản phẩm, hàng hóa đó
cũng sẽ có tâm lý e ngại, lưỡng lự. Hậu quả này có thể kéo dài trong vài tháng, có
khi cả năm và thiệt hại về vật chất là không thể tránh khỏi.
 Người tiêu dùng: Chính khách hàng là người gánh chịu trực tiếp hậu quả
do hành vi cạnh tranh không lành mạnh đem đến. Một sản phẩm đã được sử dụng
thường xuyên, trong một lúc nào đó lại bị nói xấu, làm cho tâm lý người tiêu dùng
rất lo ngại, hoang mang đôi khi bị kích động vì tâm lý khách hàng thường xuyên
sử dụng sản phẩm và rất nhạy cảm với những thông tin về những tin tức dù có thật
hay không. Dẫn đến làn sóng “tẩy chay” sản phẩm của nhà sản xuất bị hại và
người tiêu dùng sẽ quay sang sử dụng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh nhưng có
thể sản phẩm này không tốt bằng sản phẩm trước đó. Ngoài ra, người tiêu dùng
còn bị tình trạng độc quyền của sản phẩm cạnh tranh không lành mạnh là tăng giá
sản phẩm lên hoặc hạ giá sản phẩm xuống tùy thuộc vào chất lượng hàng hóa tốt
hay xấu mà nhà sản xuất cạnh tranh không lành mạnh thắng sẽ quyết định tận dụng
cơ hội này nhưng có một điều chắc chắn là nhà sản xuất, kinh doanh này sẽ tranh

lan. Phương thức bán hàng đa cấp được nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận là
một hình thức kinh doanh hợp pháp và được ghi nhận trong các đạo luật cạnh tranh
(như Canada, Đài Loan, Oxtraylia) hay trong đạo luật riêng về bán hàng trực tiếp
(như Malaysia).
Bán hàng đa cấp là phương pháp phân phối sản phẩm xuất hiện đầu tiên ở
nước ta vào năm 1998- 2000. Đây là hình thức kinh doanh hiện đại được pháp luật
cạnh tranh Việt Nam thừa nhận và được cơ quan nhà nước cũng như người dân
ủng hộ để đưa vào nền kinh tế.
1.2.1 Khái niệm về bán hàng đa cấp
Trong Luật cạnh tranh Việt Nam, hành vi bán hàng đa cấp được hiểu là:
“Bán hàng đa cấp là một hình thức bán hàng trực tiếp, không thông qua địa điểm
bán lẻ cố định mà thông qua mạng lưới người tham gia độc lập gồm nhiều cấp,
nhiều nhánh khác nhau và được pháp luật các quốc gia bảo hộ”5.
Theo khoản 11 Điều 3 Luật cạnh tranh năm 2004, bán hàng đa cấp là
phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đây:
 Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới
người tham gia bán hàng gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau.
 Hàng hóa được người tham gia bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho
người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác
không phải địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người tham
gia.

5

Ts. Lê Hoàng Oanh: Bình luận khoa học Luật cạnh tranh, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2005, tr.29.

GVHD: Nguyễn Mai Hân

15


hoạt động của mạng lưới tiếp thị bảo hiểm không là bán hàng đa cấp, không thuộc
đối tượng điều chỉnh của Luật cạnh tranh 2004.
1.2.2.2. Doanh nghiệp bán hàng đa cấp tiếp thị hàng hóa thông qua những
người tham gia được tổ chức ở nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau
Người tham gia bán hàng đa cấp được hiểu là những cộng tác viên trong
việc tiếp thị, bán lẻ hàng hóa cho doanh nghiệp (được gọi với những tên gọi như
đại lí, nhà phân phối độc lập, trực tiêu viên). Trong hoạt động của mình, người
tham gia thực hiện việc giới thiệu và bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng
GVHD: Nguyễn Mai Hân

16

SVTH: Phan Thị Diệp


Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bán hàng đa cấp
mà không nhân danh doanh nghiệp. Như vậy, khi giới thiệu và bán lẻ sản phẩm,
doanh nghiệp đã không là người trực tiếp thiết lập quan hệ với người tiêu dùng mà
thực hiện thông qua mạng lưới của người tham gia, cho nên họ độc lập trong quan
hệ khách hàng. Do người tham gia bán hàng đa cấp không phải là nhân viên của
doanh nghiệp nên doanh nghiệp không phải chịu trách nhiệm hành vi của người
tham gia trước khách hàng tiêu thụ sản phẩm mà chỉ chịu trách nhiệm trong giới
hạn phạm vi chất lượng sản phẩm và các thông tin liên quan đến sản phẩm do họ
cung cấp.
Mặt khác, khi tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, người tham gia không
phải là các đại lí phân phối theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, không
là các cửa hàng tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp thành lập. Luật cạnh tranh năm
2004 quy định người tham gia tiếp thị hàng hóa nơi ở, nơi làm việc của người tiêu
dùng mà không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hay của
người tham gia. Tức là, người tham gia trực tiếp gặp gở người tiêu dùng để giới

dụng ban đầu) và hoàn lại với số tiền tối thiểu bằng 90% số tiền mà người tham gia
đã bỏ ra để mua hàng sau khi đã trừ các chi phí hợp lí khác.
Theo chính sách này, để giảm thiểu thiệt hại cho người tham gia bán hàng
đa cấp nếu như họ không bán được hàng thì doanh nghiệp phải mua lại hàng hóa
của người tham gia bằng số tiền tối thiểu là 90% số tiền của hàng hóa mà người
tham gia đã bỏ ra mua hàng của doanh nghiệp, 10% số tiền hàng hóa đã mất là số
tiền mà người tham gia phải chịu khi không bán được hàng, đây là số tiền mà bảo
đảm cho người tham gia bán hàng đa cấp phải cố gắng bán được hàng nếu như
không muốn mất 10% số tiền mua hàng.
1.2.3. Ý nghĩa của bán hàng đa cấp
Bán hàng đa cấp là một mô hình kinh doanh chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam
trong thời gian 1998- 2000 và phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây. Hình
thức bán hàng này có nhiều ý nghĩa như sau:
 Đối với xã hội và đất nước
Xã hội tiết kiệm được một khoản chi phí rất lớn dành cho quảng cáo,
khuyến mãi, cửa hàng trưng bày. Những chi phí khổng lồ này đối với người dân và
xã hội là vô ích khi xét về một mặt nào đó như xã hội phải tốn một số tiền rất lớn
cho một panô hoặc áp phích to đùng, thậm chí mất vẻ mỹ quan đô thị chỉ với mục
đích nhắc người tiêu dùng nhớ đến một sản phẩm- hàng hóa nào đó.
Có thể huy động được nguồn vốn và sức lao động nhàn rỗi hoặc dư thừa
trong nhân dân, tạo ra việc làm cũng là một cách góp phần thực hiện chương trình
xóa đói giảm nghèo, giảm các tệ nạn xã hội cho Nhà nước và cho toàn dân. Giải
quyết vấn đề cấp thiết hiện nay là việc làm cho người lao động, đặc biệt là người
lao động lớn tuổi (vì các công ty truyền thống chỉ tuyển lực lượng lao động có độ
tuổi từ 20-45). Những người không có điều kiện làm việc cũng như không có trình
độ, tay nghề cũng có thể tham gia bán hàng đa cấp. Mặt khác, phương thức kinh
doanh này không giới hạn số lượng người tham gia nên mọi người, mọi lứa tuổi
(từ 18 tuổi trở lên) điều tham gia bán hàng được. Là môi trường rèn luyện ý chí
tìm tòi, sáng tạo cho người tham gia bán hàng đa cấp. Qua đó tạo ra cho xã hội một
đội ngũ bán hàng năng động, sáng tạo.

vực. Mặt khác do mạng lưới phân phối đựơc tổ chức để đưa hàng hóa trực tiếp đến
với người tiêu dùng nên có nhiều thuận lợi trong việc quảng bá hàng hóa một cách
trực tiếp và hữu hiệu.
 Đối với người tham gia
Khi tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, người tham gia có thể tiếp xúc với
nhiều người, có thể phát huy được tối đa khả năng ăn nói, khả năng thuyết phục,
cách tiếp cận hay chăm sóc khách hàng, khả năng thuyết trình, phát biểu trước đám
đông.
Phương thức kinh doanh này không đòi hỏi nhiều vốn, bằng cấp, kiến thức,
không mất nhiều thời gian nên đây được xem là một công việc tốt để làm thêm
ngoài công việc chính, nhưng có thể đem lại thu nhập cao.
 Đối với người tiêu dùng
Người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn và nhiều cơ hội mua hàng trực tiếp từ
nhà sản xuất nên tránh được nạn hàng giả, hàng kém chất lượng mà giá sản phẩm
thấp, phải chăng.
Ngoài việc tiêu dùng, khách hàng còn có thể tham gia vào mạng lưới bán
hàng đa cấp. Có thêm quyền kinh doanh, thêm ý tưởng kinh doanh sáng tạo (trong
GVHD: Nguyễn Mai Hân

19

SVTH: Phan Thị Diệp


Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bán hàng đa cấp
kinh doanh truyền thống, người tiêu dùng chỉ có quyền sở hữu và sử dụng hàng
chứ không có quyền kinh doanh). Đây cũng có thể được xem là một ngành nghề
làm thêm ngoài công việc chính, là nguồn thu nhập phụ nhưng khá đáng kể cho
người dân. Đặt biệt là những người nội trợ, sinh viên mặc dù ở nhà, đi học nhưng
vẫn có thể tham gia bán hàng đa cấp vì phương thức này không tốn nhiều thời gian

hội là các Công ty đang hoạt động trong ngành kinh doanh đa cấp. Tại Đại hội, Ban tổ chức đã công bố Quyết định số
935/QĐ-BNV ngày 15/6/2006 của Bộ Nội Vụ về việc cho phép thành lập Hiệp hội bán hàng đa cấp Việt Nam và tiến
hành bầu cử Ban chấp hành Hiệp hội nhiệm kỳ thứ nhất (2009 – 2014).

GVHD: Nguyễn Mai Hân

20

SVTH: Phan Thị Diệp


Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bán hàng đa cấp
 Hiệp hội là cầu nối giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước
thông qua việc thu thập và tổng hợp những đề xuất, kiến nghị của hội viên phản
ánh với các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Đồng thời, Hiệp hội cũng sẽ
là tổ chức hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước thực hiện công tác tuyên truyền, phổ
biến chính sách pháp luật cho các hội viên, cho người tham gia bán hàng đa cấp và
cho cộng đồng xã hội. Các Sở Công Thương7 và Hiệp hội cần “hợp tác” với nhau
để tăng cường hơn trong việc quản lý, giám sát bán hàng đa cấp, hơn nữa để tạo
điều kiện cho hoạt động bán hàng đa cấp tại Việt Nam ngày càng phát triển bền
vững và tuân thủ theo các quy định của pháp luật.
Từ đó, cho thấy có Hiệp hội bán hàng đa cấp, nhà nước sẽ dễ dàng quản lý
hơn trong việc giám sát, phát hiện ra các doanh nghiệp kinh doanh đa cấp khi chưa
đủ điều kiện, có hành vi bất chính. Đó là “kênh thông tin” để cơ quan quản lý bán
hàng đa cấp loại trừ được các doanh nghiệp kinh doanh đa cấp bất chính; Đồng
thời nâng cao khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bán hàng đa cấp chân
chính phát triển.
1.3. Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp
Quan hệ bán hàng đa cấp giữa doanh nghiệp bán hàng đa cấp với người
tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp được xác định và thực hiện thông qua

đồng tham gia bán hàng đa cấp với doanh nghiệp bán hàng đa cấp.
Theo Luật cạnh tranh 2004, cho rằng chỉ có cá nhân mới có quyền tham gia
mạng lưới bán hàng đa cấp, còn tổ chức không có quyền này. Cơ sở lý luận của
quan điểm này xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu của hoạt động bán hàng đa cấp.
Bán hàng đa cấp là phương thức tiêu thụ sản phẩm dựa vào các mối quan hệ thân
quen và là sự quảng cáo trực tiếp của phân phối viên tới người tiêu dùng. Chủ thể
tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp phải là người trực tiếp sử dụng và đánh giá
chất lượng sản phẩm và dùng những hiểu biết, kinh nghiệm cá nhân để tiếp thị sản
phẩm với những người quen. Do đó, chỉ có cá nhân là chủ thể hội đủ các yêu cầu
và có khả năng thực hiện việc tiếp thị sản phẩm theo phương thức bán hàng đa cấp.
Còn tổ chức là một tập hợp cá nhân, tổ chức không phải là chủ thể vừa có tính sinh
học vừa có tính xã hội như con người. Do đó, tổ chức không có mối thân quen
mang tính gia đình, bạn bè, tổ chức càng không thể trực tiếp sử dụng và cảm nhận
chất lượng sản phẩm. Vì thế, tổ chức không thể là người tham gia mạng lưới bán
hàng đa cấp. Và càng không thể là bên ký kết hợp đồng với doanh nghiệp kinh
doanh đa cấp.
Không phải mọi cá nhân điều có quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa
cấp. Theo điều 4 NĐ110/2005/NĐ-CP người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa
cấp phải là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc trường hợp
bị cấm tham gia bán hàng đa cấp như:
 Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc có tiền án về các tội sản xuất,
buôn bán hàng giả, quảng cáo gian dối, kinh doanh trái phép, trốn thuế lừa dối
khách hàng, các tội về lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tính nhiệm chiếm đoạt
tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản.
 Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài không có giấy
phép lao động tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Đây là những quy định mang tính chất phòng ngừa, xuất phát từ đặc điểm
phức tạp của bán hàng đa cấp, người tham gia trực tiếp tiếp thị sản phẩm cho
người tiêu dùng và trực tiếp lựa chọn, giới thiệu người tham gia mới vào mạng
lưới bán hàng đa cấp. Do đó, nếu cho phép những người có tiền án hoặc đang chấp

đa cấp với nội dung như: Người tham gia là nhà phân phối viên độc lập, không là
nhân viên hay người đại diện của doanh nghiệp với bất kì mục đích nào. Điều này
lí giải tại sao các doanh nghiệp bán hàng đa cấp thường không chịu trách nhiệm về
các hành vi quảng cáo gian dối, sai sự thật, lừa đảo của người tham gia vì người
tham gia không có quyền nhân danh doanh nghiệp trong hoạt động của mình. Vậy
hợp đồng được coi là căn cứ duy nhất để xác lập và điều chỉnh quan hệ giữa họ với
doanh nghiệp.
 Về hình thức của hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp
Hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi nhận kết quả mà các bên
tham gia đã thỏa thuận với nhau. Hợp đồng có thể được lập dưới nhiều hình thức
khác nhau như lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Tuy nhiên, với tính
chất phức tạp của quan hệ bán hàng đa cấp, khả năng phát sinh tranh chấp trong
quá trình thực hiện hợp đồng bán hàng đa cấp là rất lớn nên hợp đồng tham gia bán
hàng đa cấp luôn được thể hiện dưới các dạng hình thức đảm bảo rõ ràng để giúp
cho việc giải quyết tranh chấp trở nên thuận lợi hơn. Vì vậy, theo quy định của
khoản 1 Điều 9 NĐ 110/2005/NĐ-CP quy định: “Doanh nghiệp bán hàng đa cấp
phải kí kết hợp đồng tham gia bằng văn bản với người tham gia vào mạng lưới bán
hàng đa cấp”.
GVHD: Nguyễn Mai Hân

23

SVTH: Phan Thị Diệp


Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bán hàng đa cấp
Mặt khác, do tính phổ biến và lan rộng của hoạt động tham gia bán hàng đa
cấp, nên pháp luật đã xác định hình thức hợp đồng này là văn bản để làm cơ sở
pháp lí chắc chắn cho việc giám sát tính hợp pháp của mạng lưới bán hàng đa cấp,
thiết lập được cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự của từng bên trong giao dịch

dụng của hàng hóa, các điều kiện và phạm vi bảo hành hàng hóa (nếu có).
GVHD: Nguyễn Mai Hân

24

SVTH: Phan Thị Diệp


Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bán hàng đa cấp
Thông thường các sản phẩm được doanh nghiệp bán hàng đa cấp kinh
doanh là thực phẩm chức năng, mỹ phẩm và các sản phẩm này có xuất xứ từ nước
ngoài như Hoa Kì, Anh, Pháp, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan. Những sản
phẩm này người tiêu dùng Việt Nam hầu như chưa từng biết đến. Cho nên nhiều
doanh nghiệp bán hàng đa cấp đã lợi dụng việc thiếu thông tin về sản phẩm để
quảng cáo sai sự thật về tính năng, công dụng, chất lượng của sản phẩm. Chẳng
hạn có doanh nghiệp đã quảng cáo sản phẩm thực phẩm dinh dưởng thành dược
phẩm thậm chí là thần dược chữa được nhiều bệnh để bán sản phẩm với giá cao
hơn nhiều so với giá trị thực của sản phẩm. Để phòng ngừa và ngăn chặn hiện
tượng này, hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp phải có điều khoản quy định rõ về
nguồn gốc, chủng loại, chất lượng, giá cả, công dụng và cách thức sử dụng của
hàng hóa được bán, giá bán lại hàng hóa. Bên cạnh đó, Điều 5 NĐ110/2005/NĐCP còn quy định những hàng hóa không được kinh doanh theo phương thức bán
hàng đa cấp và những điều kiện của hàng hóa kinh doanh theo phương thức bán
hàng đa cấp tất cả các hàng hóa điều được kinh doanh theo phương thức bán hàng
đa cấp, trừ những trường hợp sau đây: Hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa cấm
lưu thông; Danh mục hàng hóa hạn chế kinh doanh, hàng giả, hàng nhập lậu theo
quy định của pháp luật; Hàng hóa là thuốc phòng chữa bệnh cho người; Các loại
vắc xin; Sinh phẩm; Trang thiết bị y tế và dụng cụ y tế; Các loại thuốc thú y (bao
gồm cả thuốc thú y thủy sản), thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất, chế phẩm diệt công
trùng, diệt khuẩn dùng trong lỉnh vực gia dụng và y tế; Nguyên liệu làm thuốc
chữa bệnh; Các loại hóa chất độc hại và các sản phẩm có hóa chất độc hại theo quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status