So sánh pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ ở việt nam và hoa kỳ - Pdf 42

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

THU THY

SO SáNH PHáP LUậT CHốNG CạNH TRANH KHÔNG LàNH MạNH
TRONG LĩNH VựC Sở HữU TRí TUệ ở VIệT NAM Và HOA Kỳ

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

THU THY

SO SáNH PHáP LUậT CHốNG CạNH TRANH KHÔNG LàNH MạNH
TRONG LĩNH VựC Sở HữU TRí TUệ ở VIệT NAM Và HOA Kỳ

Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 60 38 01 07

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: PGS.TS NGUYN TH QU ANH

H NI - 2016



1.1.2. Đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh ....................................... 12
1.2.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ ................ 16

1.2.1. Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ .... 16
1.2.2. Đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
trí tuệ ................................................................................................... 19
1.3.

PHÂN BIỆT GIỮA CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ XÂM PHẠM
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ .............................................................. 20

1.3.1. Sự khác nhau về phạm vi điều chỉnh .................................................. 22
1.3.2. Sự khác nhau về phạm vi áp dụng ...................................................... 23
1.3.3. Sự khác nhau về đối tƣợng xâm phạm ............................................... 23
1.3.4. Sự khác nhau về phƣơng thức xử lý ................................................... 24
1.4.

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT CHỐNG
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC S Ở
HỮU TRÍ TUỆ CỦA VIỆT NAM VÀ HOA KỲ ................................. 24


1.4.1. Sự hình thành và phát triển của pháp luật chống cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Việt Nam ........................ 24
1.4.2. Sự hình thành và phát triển của pháp luật chống cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Hoa Kỳ ........................... 29

2.3.2. Thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu trí tuệ theo pháp luật Hoa Kỳ ................................... 68
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 .................................................................................. 73


Chƣơng 3: THỰC TIẾN VÀ PHƢƠNG HƢỚNG, KIẾN NGHỊ NHẰM
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỐNG CẠNH
TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ
HỮU TRÍ TUỆ TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG MỘT SỐ KINH
NGHIỆM CỦA HOA KỲ ..........................................................................75
3.1.

THỰC TIỄN CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG
LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI VIỆT NAM ............................. 75

3.2.

PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CHỐNG
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC
SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI VIỆT NAM ................................................. 82

3.3.

KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CHỐNG
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC
SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ LOẠI
HÀNH VI NÀY TẠI VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG
KINH NGHIỆM CỦA HOA KỲ........................................................ 85

3.3.1. Giải pháp hoàn thiện về pháp luật ...................................................... 85

Đứng trƣớc đòi hỏi của thực tiễn vận hành kinh tế thị trƣờng ở Việt
Nam và thông lệ quốc tế, hành vi cạnh tranh không lành mạnh không chỉ
đƣợc đề cập trong Luật Cạnh tranh năm 2004 mà Luật Sở hữu trí tuệ năm
2005, đƣợc sửa đối, bổ sung năm 2009 cũng đƣa ra quy định về hành vi cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, các quy định

1


hiện hành về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ vẫn
còn nhiều điểm chƣa rõ ràng, đồng bộ. Từ đó dẫn đến việc xử lý hành vi cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ gặp nhiều khó khăn. Tình
hình trên đã dẫn đến thực tế là các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu trí tuệ ngày càng diễn ra phổ biến nhƣng số lƣợng vụ việc
đƣợc thụ lý và xử lý bởi các cơ quan có thẩm quyền còn rất hạn chế. Điều này
không chỉ ảnh hƣởng đến quyền và lợi ích của doanh nghiệp mà còn xâm
phạm quyền lợi của ngƣời tiêu dùng. Nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm xây
dựng pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
trí tuệ của các nƣớc phát triển trên thế giới là một trong những hƣớng đi có ý
nghĩa trong quá trình hoàn thiện quy định pháp luật chống cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Đặc biệt, Hoa Kỳ là một
trong các nƣớc đi tiên phong trong lĩnh vực pháp luật sở hữu trí tuệ và cạnh
tranh không lành mạnh với những kinh nghiệm, ƣu điểm đáng học hỏi trong
lĩnh vực này.
Với mong muốn tìm hiểu bản chất, đặc điểm của hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, phân tích những nội dung cơ bản
của pháp luật Việt Nam về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu trí tuệ trong tƣơng quan so sánh với pháp luật Hoa Kỳ, từ đó vận dụng kinh
nghiệm của Hoa Kỳ nhằm hoàn thiện pháp luật chống cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, tác giả đã chọn đề tài “So sánh

hữu trí tuệ tại Việt Nam và Hoa Kỳ, từ đó tìm ra những điểm chƣa phù hợp
trong quy định pháp luật của Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu trí tuệ trên cơ sở vận dụng kinh nghiệm của Hoa Kỳ.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn sẽ làm sáng tỏ một cách có hệ thống về pháp luật chống cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, đặc biệt khái niệm, đặc
điểm của cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, sự khác nhau

3


giữa cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời, luận văn cũng phân tích, so sánh những nội
dung cơ bản của pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ về chống cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Qua đó, đƣa ra các nhận xét,
đánh giá và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để thực hiện mục tiêu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu gồm:
- Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh nói
chung và cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói riêng,
sự khác nhau giữa cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;
- Nghiên cứu, phân tích quá trình hình thành và phát triển của pháp luật
chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Việt Nam
và Hoa Kỳ;
- Phân tích, so sánh những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam và
pháp luật Hoa Kỳ về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu trí tuệ;

cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh, đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về pháp luật.
Dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phƣơng pháp hệ thống, phân tích,
tổng hợp, diễn giải, quy nạp, so sánh pháp luật.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Thứ nhất, làm sáng tỏ về mặt lý luận khái niệm, đặc điểm của cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ; phân biệt giữa cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ hai, phân tích, so sánh những nội dung cơ bản của pháp luật về
chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của Việt Nam
với các quy định tƣơng ứng trong pháp luật Hoa Kỳ.

5


Thứ ba, nêu ra những điểm hạn chế của pháp luật Việt Nam về chống
cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Thứ tư, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Những phân tích, so sánh, đánh giá và kiến nghị trong luận văn có ý nghĩa
thiết thực về lý luận và thực tiễn nhằm chống cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu trí tuệ, góp phần làm cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Luận văn còn giúp cho các doanh nghiệp và ngƣời tiêu dùng Việt Nam
hiểu rõ hơn về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí
tuệ và các chế tài đối với hành vi này. Đặc biệt, luận văn có ý nghĩa thiết thực

các doanh nghiệp trong nƣớc mà còn với cả các doanh nghiệp nƣớc ngoài.
Trong quá trình cạnh tranh, doanh nghiệp luôn phải tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu
của khách hàng để đƣa ra các sản phẩm phù hợp với ngƣời tiêu dùng.
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất hàng hóa
và cung ứng dịch vụ, giúp cân bằng cung cầu trên thị trƣờng, tạo động lực
đổi mới và phát triển, cũng nhƣ bảo vệ quyền lợi cho ngƣời tiêu dùng. Tuy
nhiên, để đem lại những lợi ích nhƣ vậy, hoạt động cạnh tranh cần diễn ra
lành mạnh, đặc biệt cần tuân theo những nguyên tắc nhất định với sự can
thiệp của nhà nƣớc.
Mặc dù còn nhiều quan niệm, cách diễn đạt khác nhau về cạnh tranh,
song, điểm chung của các quan niệm về cạnh tranh là: i) có ít nhất từ hai chủ
thể trở lên; ii) các chủ thể này có chung mục đích; iii) các chủ thể đó cùng cố
gắng giành và vƣợt lên các đối thủ cạnh tranh; iv) đƣợc diễn ra trong môi
trƣờng pháp lý bình đẳng cho mọi chủ thể kinh doanh, nếu không có môi
trƣờng pháp lý đó, cạnh tranh có thể đƣa đến những hậu quả tiêu cực về xã
hội. Kết quả của quá trình cạnh tranh là, nếu doanh nghiệp nào đáp ứng đƣợc
yêu cầu trên thị trƣờng sẽ tồn tại và phát triển, nếu doanh nghiệp nào không

7


đáp ứng đƣợc yêu cầu đó sẽ bị loại ra khỏi thị trƣờng, và để không bị loại “ra
khỏi cuộc chơi”, các đối thủ cạnh tranh buộc phải tìm mọi cách, kể cả những
biện pháp không lành mạnh, không phù hợp với đạo đức kinh doanh, đạo đức
của thị trƣờng để dành phần thắng về phía mình [26].
Cạnh tranh không lành mạnh, ngƣợc lại, có thể hiểu đơn giản là một
thứ cạnh tranh quá mức và vì thế gây tác dụng ngƣợc. Nhà nghiên cứu ngƣời
Pháp Dominique Brault đã trích dẫn một so sánh mang tính hình tƣợng về
cạnh tranh không lành mạnh nhƣ sau: “Cạnh tranh là một thứ rượu, dùng
đúng liều nó là chất kích thích, dùng quá liều nó trở thành thuốc độc” [6].

(ii) những khẳng định sai lệch trong hoạt động thƣơng mại
có khả năng gây mất uy tín đối với cơ sở, hàng hoá, hoặc hoạt động
sản xuất hoặc kinh doanh của ngƣời cạnh tranh;
(iii) những chỉ dẫn hoặc khẳng định mà việc sử dụng chúng
trong hoạt động thƣơng mại có thể lừa dối công chúng về bản chất,
quá trình sản xuất, đặc điểm, tính thích hợp để sử dụng hoặc số
lƣợng của hàng hoá.
Nhƣ vậy, theo định nghĩa tại Điều 10bis Công ƣớc Paris, có thể thấy
tiêu chí đánh giá quan trọng nhất về tính lành mạnh/không lành mạnh của
một hành vi cạnh tranh là “tập quán trung thực” không rõ ràng và ổn định, ở
mỗi quốc gia có thể có những khác biệt phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn
hoá, xã hội và lịch sử của quốc gia đó. Trên thực tế, Điều 10bis đã có ý bỏ
ngỏ khái niệm này cho pháp luật quốc gia của các nƣớc thành viên Công ƣớc
tự định đoạt.
Tại Hoa Kỳ, do thiếu định nghĩa trong các văn bản pháp luật, các toà án
đã xác định từ nguồn án lệ định nghĩa cạnh tranh lành mạnh là “các nguyên
tắc giải quyết trung thực và công bằng” hoặc “đạo đức thị trường”. Pháp luật
đã không đƣa ra đƣợc chuẩn mực để nhận diện các hành vi cạnh tranh lành
mạnh, đƣợc chấp nhận trong kinh doanh.

9


Theo pháp luật Hoa Kỳ, có 4 loại hành vi bị coi là hành vi cạnh tranh
không lành mạnh, bao gồm: hành vi cản trở hoạt động kinh doanh thông
thƣờng (thuộc sự điều chỉnh của các luật của các bang khác nhau); hành vi
xâm phạm nhãn hiệu hoặc bản quyền (thuộc sự điều chỉnh của Đạo luật lu mờ
nhãn hiệu liên bang năm 1996 (Federal Trademark Dilution Act) và Đạo luật
Lanham năm 1946 (Lanham Act); hành vi quảng cáo so sánh gian dối hoặc
gây nhầm lẫn (thuộc sự điều chỉnh của Đạo luật Lanham năm 1946); và hành

thỏa mãn các tiêu chí quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh.
Nhìn chung, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi đi
ngƣợc lại các nguyên tắc xã hội, tập quán và truyền thống kinh doanh, xâm
phạm lợi ích của những chủ thể kinh doanh khác, lợi ích của ngƣời tiêu dùng
và lợi ích chung của xã hôi. Bản chất của cạnh tranh không lành mạnh là hành
vi bất chính nhằm vào những đối thủ cạnh tranh cụ thể nào đó, gây cản trở
hoạt động, gây thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến họ.
Mặc dù có nhiều cố gắng, song pháp luật Việt Nam và pháp luật
quốc tế đều không thể đƣa ra khái niệm cạnh tranh không lành mạnh có thể
bao quát đƣợc mọi biểu hiện trên thực tế. Có thể nói, sự đua tranh gay gắt
của thị trƣờng và bản tính hám lợi của con ngƣời đã thúc đẩy các chủ thể
kinh doanh luôn sớm tìm ra những thủ đoạn mới để cạnh tranh bất chính.
Mà pháp luật, với tính ổn định tƣơng đối của nó, sẽ mau chóng trở nên lỗi
thời so với những diễn biến sinh động của thị trƣờng. Vì vậy, khái niệm về
hành vi cạnh tranh không lành mạnh, với cách tiếp cận từ mặt trái vấn đề,
nghĩa là quy định và cấm đoán các hành vi cạnh tranh trái với pháp luật và
truyền thống kinh doanh lành mạnh, đã xác định giới hạn của sự tự do
trong kinh doanh, xác định ranh giới mà các doanh nghiệp đƣợc quyền
sáng tạo trên tinh thần vì lợi ích của bản thân, tôn trọng quyền và lợi ích
của doanh nghiệp khác, của ngƣời tiêu dùng và bảo đảm trật tự kinh tế.
Theo đó, với mục đích đảm bảo tính lành mạnh và tự do của hoạt động

11


cạnh tranh, đối tƣợng mà pháp luật cạnh tranh hƣớng đến để điều chỉnh
chính là biểu hiện không lành mạnh của doanh nghiệp.
1.1.2. Đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh
Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh có đặc điểm là chỉ đƣa
ra một danh mục không đầy đủ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nói

mạnh bao gồm các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, hợp tác xã, hộ
kinh doanh cá thể, các hiệp hội ngành nghề, cá nhân có đăng ký kinh doanh.
Nói cách khác, khái niệm doanh nghiệp đƣợc hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm
mọi tổ chức hay cá nhân tham gia hoạt động tìm kiếm lợi nhuận một cách
thƣờng xuyên và chuyên nghiệp, hay sử dụng khái niệm của pháp luật thƣơng
mại là có tƣ cách thƣơng nhân trên thị trƣờng.
- Hành vi cạnh tranh trái với với các chuẩn mực thông thường về đạo
đức kinh doanh:
Đây là đặc điểm thể hiện bản chất không lành mạnh của hành vi cạnh
tranh. Đặc điểm này có thể đƣợc hiểu là hành vi cạnh tranh không lành mạnh
là hành vi cạnh tranh mang tính chất đối lập, đi ngƣợc lại các thông lệ tốt, các
nguyên tắc đạo đức kinh doanh, những quy tắc xử sự chung đã đƣợc thừa
nhận rộng rãi và lâu dài trong hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng.
Đặc điểm này phần nào thể hiện nguồn gốc tập quán pháp của pháp
luật về cạnh tranh không lành mạnh, các quy định về cạnh tranh không lành
mạnh đƣợc hình thành và hoàn thiện qua bề dày thực tiễn phát triển kinh tế
xã hội, không thể một sớm một chiều mà có đƣợc. Mặt khác, đặc điểm này
cũng đòi hỏi pháp luật cạnh tranh phải luôn đƣợc chỉnh lý, bổ sung cho phù
hợp với thực tiễn. Nhận thức về các dấu hiệu, biểu hiện không lành mạnh cụ
thể luôn thay đổi và có sự khác biệt theo từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể
vì quan niệm về tính không lành mạnh là kết quả của những ý thức xã hội

13


liên quan đến xã hội học, kinh tế học, đạo đức học của một xã hội nhất định
nên có thể dẫn đến hiện tƣợng là hành vi cạnh tranh bị coi là cạnh tranh
không lành mạnh ở nƣớc này, nhƣng đƣợc coi là lành mạnh ở nƣớc khác.
Ngoài ra, những hành vi cạnh tranh luôn đƣợc sáng tạo không ngừng về hình
thức thể hiện và phƣơng thức cạnh tranh, làm xuất hiện những thủ đoạn cạnh

thể hiện thông qua lợi ích của các nhóm chủ thể tham gia thị trƣờng là doanh
nghiệp và ngƣời tiêu dùng.
Dƣới góc độ lịch sử phát triển, những đặc điểm về hậu quả của hành vi
cạnh tranh không lành mạnh thay đổi theo thời gian phụ thuộc vào nhận thức
của con ngƣời về tính nguy hại và mức độ xâm hại của hành vi đó đối với lợi
ích mà pháp luật cần bảo vệ. Trƣớc đây, một số quốc gia có cách tiếp cận
cứng khi xác định một hành vi là cạnh tranh không lành mạnh ngay khi nó
gây thiệt hại cho các doanh nghiệp cạnh tranh trong ngành mà không cần xem
xét ảnh hƣởng đến các đối tƣợng khác, đặc biệt là ngƣời tiêu dùng. Hiện nay,
cách nhìn nhận về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trở nên cân bằng hơn,
cơ quan xử lý thƣờng phải đánh giá cả thiệt hại của ngƣời tiêu dùng và các
đối tƣợng khác để kết luận về vi phạm. Cần thấy rằng trong một phạm vi thị
trƣờng hữu hạn, doanh nghiệp thực hiện một hành vi cạnh tranh bất kỳ cũng
đều có khả năng gây thiệt hại cho các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp đó,
do vậy, nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại của các đối thủ cạnh tranh để xác định
một hành vi là không lành mạnh thì sẽ không đầy đủ. Trên thực tế, các hành
vi cạnh tranh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh khác nhƣng đem lại lợi ích
thực tế cho ngƣời tiêu dùng sẽ không bị coi là cạnh tranh không lành mạnh.
Ví dụ điển hình là trƣờng hợp quảng cáo so sánh, trƣớc đây bị coi là một
trong những hành vi cạnh tranh không lành mạnh điển hình, tuy nhiên từ sự
cân nhắc lợi ích nó đem lại cho ngƣời tiêu dùng (tiết kiệm thời gian tìm kiếm,

15


lựa chọn sản phẩm), mà hành vi này đến nay đã đƣợc chấp nhận tại nhiều
quốc gia với những điều kiện ràng buộc về tính chính xác, đầy đủ của thông
tin để tránh bị các doanh nghiệp lợi dụng công kích đối thủ cạnh tranh.
Tóm lại việc xác định hậu quả thiệt hại của hành vi cạnh tranh không
lành mạnh là không giống nhau giữa các thời điểm lịch sử khác nhau và giữa

tác giả đã nêu ở trên, một khái niệm nữa cần đƣợc làm rõ là khái niệm về sở
hữu trí tuệ.
Mặc dù không có định nghĩa chính thống và trực tiếp thế nào là sở hữu
trí tuệ, ta có thể định nghĩa quyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quyền đối với
tài sản vô hình là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của các
chủ thể, được pháp luật quy định bảo hộ [8, tr. 16-17].
Pháp luật Hoa Kỳ, pháp luật Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc khác trên thế
giới không có định nghĩa trực tiếp nhƣ thế nào là sở hữu trí tuệ, mà chỉ có
định nghĩa gián tiếp thông qua phân loại sở hữu trí tuệ thành quyền tác giả,
quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
Quyền tác giả bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả và
chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật.
Quyền tác giả còn đƣợc gọi là tác quyền hay bản quyền.
Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm quyền đối với sáng chế, giải pháp
hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý (bao gồm cả tên gọi
xuất xứ hàng hóa), tên thƣơng mại, bí mật kinh doanh và các quyền sở hữu
công nghiệp khác do pháp luật quy định. Quyền sở hữu công nghiệp bảo hộ
quyền sử dụng độc quyền vì mục đích kinh tế và quyền định đoạt của các chủ
sở hữu các đối tƣợng sở hữu công nghiệp.
Giống cây trồng là quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại
thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống,
có thể nhận biết đƣợc bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu gen hoặc sự
phối hợp của các kiểu gen quy định và phân biệt đƣợc với bất kỳ quần thể cây

17


trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di
truyền đƣợc. Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối
với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc

2009 không có khái niệm cụ thể về cạnh tranh không lành mạnh nhƣng Luật đã
dành 01 điều (Điều 130) quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
sở hữu trí tuệ với một số điểm mới hơn và rõ hơn so với Luật cạnh tranh. Theo
đó, các hành vi sau đây bị coi là cạnh tranh không lành mạnh:
- Sử dụng chỉ dẫn thƣơng mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh,
hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thƣơng mại của hàng hoá, dịch vụ;
- Sử dụng chỉ dẫn thƣơng mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất,
tính năng, chất lƣợng, số lƣợng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về
điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ;
- Sử dụng nhãn hiệu đƣợc bảo hộ tại một nƣớc là thành viên của điều
ƣớc quốc tế có quy định cấm ngƣời đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn
hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là
thành viên, nếu ngƣời sử dụng là ngƣời đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu
nhãn hiệu và việc sử dụng đó không đƣợc sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu
và không có lý do chính đáng;
- Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc
tƣơng tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thƣơng mại đƣợc bảo hộ của ngƣời
khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích
chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của
nhãn hiệu, tên thƣơng mại, chỉ dẫn địa lý tƣơng ứng.
1.2.2. Đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu trí tuệ
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ trƣớc
hết là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Vì vậy, nó cũng có những đặc
điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhƣ đã nêu tại mục 1.1.2 và cả
đặc điểm riêng có của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu trí tuệ, cụ thể là:

19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status