Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở việt nam hiện nay - Pdf 38

-1-

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................3
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ........... 6
1.1 Khái quát về cạnh tranh không lành mạnh .................................................... 6
1.1.1 Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh ..................................... 6
1.1.2 Đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh ...................................... 7
1.2 Khái quát về quyền sở hữu công nghiệp .......................................................... 9
1.2.1 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp ...................................................... 9
1.2.2 Đặc trưng của quyền sở hữu công nghiệp ............................................. 10
1.3 Khái quát chung về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp ..................................................................................................... 11
1.3.1 Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp ........................................................................................................... 11
1.3.2 Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp ............................................................................................................ 12
1.3.3 Khái quát chung về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp .................................................................................................... 13
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHỐNG
CẠNHTRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP Ở VIỆT NAM ............................................................................................. 14
2.1 Nguồn luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
sở hữu công nghiệp ................................................................................................ 15
2.1.1 Pháp luật quốc tế ................................................................................... 15
2.1.2 Pháp luật quốc gia ................................................................................. 15
2.2 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp ...................................................................................................................... 15
2.2.1 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp theo quy định của pháp luật về cạnh tranh ............................................... 15

Nguyễn Thị Hồng Ngọc - Viện ĐH Mở Hà Nội


-3-

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại công nghiệp hóa - hiện đại hóa ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế đang
trở thành xu hướng chung của toàn cầu. Sau khi chính thức gia nhập vào Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO), Việt Nam đã tham gia nhiều điều ước quốc tế trên các
lĩnh vực, hệ thống pháp luật quốc gia cũng được bổ sung và hoàn thiện theo hướng phù
hợp với pháp luật quốc tế và khu vực1. Đặc biệt là khi mà Việt Nam đã cam kết tuân
thủ các quy định của Hiệp định TRIPS năm 1994 về các khía cạnh của quyền SHTT
liên quan đến thương mại của WTO. Trong đó, có các quy định về chống cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Quyền sở hữu công nghiệp là tài sản vô hình vô cùng giá trị, chiếm tỷ trọng ngày
càng lớn trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp, tạo nên giá trị thương hiệu và tính
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Do đó, nhiều doanh nghiệp đã và đang
tích cực thực hiện các hoạt động bảo vệ các đối tượng sở hữu công nghiệp của mình.
Tuy nhiên, không phải tất cả doanh nghiệp đều có đủ khả năng tạo lập quyền sở hữu
công nghiệp cho riêng doanh nghiệp mình hoặc là không thực sự muốn tạo lập nên nó
bằng khả năng lao động chân chính mà chỉ muốn có được quyền tài sản vô hình này
thông qua những hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Cạnh tranh là quy luật tất yếu
của bất cứ một nền kinh tế thị trường nào và Việt Nam cũng không phải là một ngoại
lệ. Quy luật đào thải của cạnh tranh luôn song hành cùng với mưu cầu lợi nhuận của
các doanh nghiệp đã tạo cho thị trường một áp lực không hề nhỏ. Do đó, Nhà nước đã
ban hành một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các chủ thể kinh doanh khi họ tham gia vào hoạt động cạnh tranh. Quyền
chống cạnh tranh không lành mạnh là một trong số những quyền năng quan trọng nhất
để bảo hộ thành quả lao động của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp và chống lại các

tiễn về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở
Việt Nam hiện nay” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Pháp luật cạnh tranh và pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, chống cạnh
tranh không lành mạnh là một đề tài đang được quan tâm và nghiên cứu hiện nay.
Trước khóa luận này, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu đề cập ở nhiều giác
độ, mức độ khác nhau về vấn đề cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp
có thể kể đến là: Ths. Nguyễn Vũ Quỳnh Lâm (2006), Pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn,
Luận văn Cao học Luật, Trường Đại học Luật Hà Nội; Ths. Nguyễn Như Quỳnh
(2009), Về xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh
tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam,
Tạp chí Luật học số 05; Bùi Minh Nguyệt (2007), Tìm hiểu pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp,
Đại học Luật Hà Nội.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là:
Nghiên cứu và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về chống cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;
Phân tích thực trạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp ở Việt Nam hiện nay;
Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật về chống cạnh
tranh không lành mạnh đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam quy định tại: Luật Cạnh tranh 2004; Luật sở hữu
trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009; Nghị định 54/2000/NĐ-CP quy định về
bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương
mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công

cứu các vấn đề tại chương 1 và chương 2, trình bày một số đánh giá khái quát về các
quy định của pháp luật thông qua việc đưa ra những nhận xét chung về những mặt tích
cực và những mặt hạn chế còn tồn tại trong các quy định của pháp luật. Từ đó đề xuất
một số kiến nghị để góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành đồng
thời để nâng cao hiệu quả hoạt động chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

Nguyễn Thị Hồng Ngọc - Viện ĐH Mở Hà Nội


-6-

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
1.1 Khái quát về cạnh tranh không lành mạnh
1.1.1 Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Trong quá trình hoạt động kinh doanh trên thị trường, các chủ thể kinh doanh hầu
như đều hướng đến một mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận. Lợi nhuận cao cùng với sự
ganh đua khốc liệt của thị trường là cơ sở để cạnh tranh xuất hiện. Quan điểm về cạnh
tranh hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất, do vậy có khá nhiều định nghĩa và cách hiểu
khác nhau về khái niệm này:
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Cạnh tranh là cố gắng giành phần hơn, phần thắng
về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau”.
Còn trong cuốn Từ điển kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992 thì: “Cạnh tranh là
sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài
nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”2.
Theo Dominique Brault - nhà nghiên cứu người Pháp đã trích dẫn một so sánh mang


-7-

tính đạt được thành công trên thị trường mà không dựa trên nỗ lực của chính doanh
nghiệp để cải thiện chất lượng, giá cả của sản phẩm, mà toan tính phát triển bằng cách
chiếm đoạt những ưu thế trong sản phẩm của doanh nghiệp khác hoặc tạo ra những tác
động sai trái lên thị trường.
Trên thế giới, pháp luật điều chỉnh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã
ra đời từ thế kỷ XIX. Có thể nói, đây là một sự mở đầu mang tính khai phá, khi mà
những điều luật đầu tiên được ra đời để điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trên thị trường. Điều 10 bis Công ước Paris năm 1883 về Bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp. Điều khoản này được bổ sung vào Công ước năm 1900 và được sửa đổi
lần cuối theo Văn bản Stockholm năm 1967, theo đó: “Bất kỳ hành vi cạnh tranh nào
đi ngược lại các thông lệ trung thực trong công nghiệp hoặc trong thương mại đều là
hành vi cạnh tranh không lành mạnh”. Quy định này cho thấy, tiêu chí để đánh giá
hành vi cạnh tranh không lành mạnh là phụ thuộc vào hành vi đó có phù hợp với:
“thông lệ trung thực, thiện chí” hay không? Công ước không quy định rõ khái niệm
“thông lệ trung thực, thiện chí” mà có ý để pháp luật quốc gia của các nước thành viên
Công ước tự định đoạt dựa trên điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội và lịch sử của chính
các quốc gia đó. Trong pháp luật nhiều nước, tại Bỉ và Luxembourg các tiêu chí này
được gọi là “thông lệ thương mại trung thực”, tại Tây Ban Nha và Thụy Sỹ là “nguyên
tắc ngay tình”, tại Italia là “tính chuyên nghiệp đúng đắn”, tại Đức, Hy Lạp và Ba Lan
là “đạo đức kinh doanh”. Còn tại Hoa Kỳ, do thiếu định nghĩa trong các văn bản pháp
luật, các toà án đã xác định từ nguồn án lệ định nghĩa cạnh tranh lành mạnh là “các
nguyên tắc giải quyết trung thực và công bằng” hoặc “đạo đức thị trường”3.
Luật Cạnh tranh Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về cạnh tranh không lành mạnh tại
khoản 4, Điều 3 như sau: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh
của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về
đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”. Khái niệm

kinh tế. Đặc điểm này khiến cho pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh tại một số
quốc gia có thể có phạm vi áp dụng rất rộng và điều chỉnh những hành vi đa dạng. Một
ví dụ gần đây được nhiều người biết đến là Luật chống cạnh tranh không lành mạnh
Nhật Bản quy định “hối lộ” cũng bị coi là một dạng hành vi cạnh tranh không lành
mạnh.
- Thứ hai, chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các doanh
nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường. Ở đây, khái niệm doanh nghiệp
được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm mọi tổ chức hay cá nhân tham gia hoạt động tìm
kiếm lợi nhuận một cách thường xuyên và chuyên nghiệp, hay sử dụng khái niệm của
pháp luật thương mại là “thương nhân” trên thị trường. Trên một phạm vi rộng hơn,
các quy định về cạnh tranh không lành mạnh còn có thể áp dụng đối với hành vi của
các nhóm doanh nghiệp hoạt động có tổ chức (hiệp hội) và các cá nhân hành nghề tự
do (bác sỹ, luật sư, kiến trúc sư…)4.
Có thể thấy, hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã và đang diễn ra rất phổ biến
trong mọi ngành, nghề; mọi công đoạn của của quá trình kinh doanh và trong mọi lĩnh
vực của nền kinh tế thị trường.
• Hành vi cạnh tranh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh
Đặc điểm này phần nào thể hiện nguồn gốc tập quán pháp của pháp luật về cạnh
tranh không lành mạnh, các quy định về cạnh tranh không lành mạnh được hình thành
và hoàn thiện qua bề dày thực tiễn phát triển kinh tế xã hội. Mặt khác, đặc điểm này
cũng đòi hỏi cơ quan xử lý về hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải có những hiểu
biết và đánh giá sâu sắc về thực tiễn thị trường để phán định tính đúng đắn của một
hành vi cạnh tranh.
“Chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh” là những quy tắc xử sự chung đã
được thừa nhận rộng rãi và lâu dài trong hoạt động kinh doanh. Là tiêu chí để cơ quan
có thẩm quyền và các chủ thể kinh doanh có thể nhận diện được một hành vi là hành vi
cạnh tranh không lành mạnh. Do đặt tiêu chí đánh giá tính lành mạnh của hành vi cạnh
tranh dựa trên các thông lệ, chuẩn mực đạo đức kinh doanh trung thực, thiện chí, nên
pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh luôn có trọng tâm bảo vệ quyền lợi của các
doanh nghiệp kinh doanh trung thực, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

tới là Nhà nước. Đây là một quy định rộng hơn, bao quát hơn so với quy định của pháp
luật một số nước trên thế giới.
1.2 Khái quát về quyền sở hữu công nghiệp
Ngày nay ở nước ta quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói
riêng không còn xa lạ trong đời sống hàng ngày. Thuật ngữ “Quyền sở hữu công
nghiệp” đang được nhắc tới ngày một nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng
và ngày cả trong các hoạt động của đời sống từ lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, …, đến
khoa học, công nghệ. Là một phạm trù pháp luật khá trừu tượng liên quan đến thực thi
và bảo hộ quyền tài sản trí tuệ của các chủ thể sản xuất, kinh doanh do đó nhận thức
đúng đắn và đầy đủ các vấn đề lý luận liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp là một
yêu cầu hết sức cần thiết.
1.2.1 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp
Sở hữu công nghiệp là một loại hình của quyền sở hữu trí tuệ, chỉ lĩnh vực pháp lý
bảo hộ quyền sở hữu đối với các thành quả nghiên cứu triển khai có thể áp dụng công
nghiệp. Quyền sở hữu công nghiệp là một chế định pháp luật bao gồm hệ thống những
quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sáng tạo, sử dụng, định đoạt các sản phẩm do
lao động trí tuệ làm ra trong lĩnh vực công nghiệp.
Theo quy định tại khoản 4, Điều 4, Luật SHTT thì: “Quyền sở hữu công nghiệp là
quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh
do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”.

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

Nguyễn Thị Hồng Ngọc - Viện ĐH Mở Hà Nội


- 10 -


xuất, kinh doanh.
Điều 1 Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp quy định:
“Sở hữu công nghiệp phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất, không những chỉ áp
dụng cho công nghiệp và thương mại theo đúng nghĩa của chúng mà cho cả các ngành
sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác và tất cả các sản phẩm công nghiệp và
sản phẩm tự nhiên như rượu, ngũ cốc, thuốc lá, hoa quả, gia súc, khoáng sản, nước
khoáng, bia và bột.”

5

Đại học Luật Hà Nội ,Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, 2008, tr.110-112

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

Nguyễn Thị Hồng Ngọc - Viện ĐH Mở Hà Nội


- 11 -

Chính vì lẽ đó mà một trong những điều kiện để được bảo hộ sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp, thiết kế bố trí là chúng phải có khả năng áp dụng trong lĩnh vực khoa học,
công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị cho đời sống con người. Còn đối với nhãn
hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, bí mật kinh doanh phải chứa đựng các chỉ dẫn
thương mại, chúng được xem như chiếc cầu nối giữa nhà sản xuất hay cung cấp dịch
vụ đối với người tiêu dùng. Chủ thể nào nắm giữ được các đối tượng này sẽ có những
lợi thế cạnh tranh hơn hẳn so với chủ thể khác. Trong điều kiện của nền kinh tế thị
trường với mục đích cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì việc quan tâm, đầu tư và trở
thành chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp là công việc thực sự cần thiết.
• Thứ hai, quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ thông qua thủ tục đăng ký tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyền

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

Nguyễn Thị Hồng Ngọc - Viện ĐH Mở Hà Nội


- 12 -

Trong nền kinh tế công nghiệp hóa - hiện đại hóa như ngày nay, cạnh tranh đang
diễn ra mọi lúc, mọi nơi. Một trong những nhân tố cạnh tranh đem lại nhiều lợi nhuận
nhất được các doanh nghiệp lựa chọn phổ biến hiện nay đó chính là quyền sở hữu công
nghiệp. Nó là loại tài sản trí tuệ vô hình, chiếm tỷ trọng lớn trong khối tài sản của
doanh nghiệp, góp phần khẳng định giá trị và nâng cao sức cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thị trường. Nhận thức được tầm quan trọng đó, một số doanh nghiệp không
muốn tự vươn lên phát triển bằng chính khả năng lao động chân chính của mình đã lựa
chọn con đường phát triển thông qua việc đánh cắp thành quả lao động của các doanh
nghiệp khác.
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp là hành vi
vừa mang các đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh vừa liên quan đến
việc sử dụng và chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp. Hành vi cạnh tranh không lành
mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp có thể được định nghĩa: là hành vi do
chủ thể kinh doanh tiến hành trong quá trình kinh doanh liên quan đến việc sử dụng
hoặc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp trái với chuẩn mực đạo đức thông thường
trong kinh doanh gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của
doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.
1.3.2 Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong sở hữu công nghiệp có những đặc điểm
giống với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung, nhưng có thêm các đặc
trưng riêng biệt. Cụ thể, hạnh vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp có bốn đặc điểm sau đây:

1.3.3 Khái quát chung về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp
Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh lần đầu tiên đã được thừa nhận là một bộ
phận cấu thành của bảo hộ Sở hữu công nghiệp vào năm 1900 tại Hội nghị ngoại giao
Brusels về Sửa đổi Công ước Paris về Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp bằng việc bổ
sung Điều 10bis vào Công ước.
Tại khoản 4, Điều 4, Luật SHTT Việt Nam cũng có quy định: “Quyền sở hữu công
nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế
bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh
doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”.
Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là bởi đối tượng sở hữu công nghiệp là một yếu tố
thể hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại. Trong nền kinh tế thị trường các doanh
nghiệp phần lớn hoạt động vì lợi nhuận của chính doanh nghiệp mình nên cần phải có
cạnh tranh giữa các đơn vị kinh tế tự chủ. Thông qua cạnh tranh người tiêu dùng là
người được hưởng lợi và xã hội cũng phát triển. Mọi doanh nghiệp luôn nỗ lực cung
cấp các sản phẩm có ích, hiệu quả, tiết kiệm nhất; giá thành rẻ nhất và chất lượng tốt
nhất nhằm được người tiêu dùng lựa chọn. Tuy nhiên sự nỗ lực của một doanh nghiệp
chân chính sẽ trở nên vô nghĩa nếu như có những hiện tượng không tuân thủ quy tắc cơ
bản của cạnh tranh, cố ý lừa dối người tiêu dùng và giành lợi thế cạnh tranh bằng cách
hạ thấp đối thủ cạnh tranh. Ở đâu có tự do cạnh tranh là ở đó có khả năng xảy ra hành
vi cạnh tranh không lành mạnh. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hệ quả tất yếu
của một hệ thống kinh tế thị trường tự do cạnh tranh. Tuy nhiên, nếu không có biện
pháp để chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì sẽ ảnh hưởng đến quyền
lợi của người tiêu dùng và kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế.
Với mục đích bảo hộ thành quả sáng tạo, trí tuệ của các chủ thể kinh doanh, pháp
luật nước ta đã thừa nhận cho các chủ thể kinh doanh quyền chống cạnh tranh không
lành mạnh như là một nội dung của quyền sở hữu công nghiệp theo cả pháp luật sở hữu
trí tuệ và pháp luật về cạnh tranh khi họ gặp phải hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Ví dụ, khi một nhãn hiệu chưa được đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì
đương nhiên không thể áp dụng các quy định về hành vi vi phạm quyền sở hữu công

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

Nguyễn Thị Hồng Ngọc - Viện ĐH Mở Hà Nội


- 15 -

2.1 Nguồn luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp
2.1.1 Pháp luật quốc tế
Trên phương diện luật pháp quốc tế, có thể thấy rằng pháp luật về cạnh tranh không
lành mạnh ra đời sớm hơn pháp luật về hạn chế cạnh tranh. Các quy định chống hành
vi hạn chế cạnh tranh chỉ ra đời khi thị trường đã phát triển và đạt được mức độ tập
trung hoá nhất định dẫn đến sự hình thành các doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp
mang quyền lực thị trường cần phải bị kiểm soát. Pháp luật về cạnh tranh không lành
mạnh gắn liền với sự ra đời của thương mại tự do tại Châu Âu thế kỷ XIX, mà theo
một số nhà nghiên cứu, khởi đầu từ Cách mạng Pháp 1791.Các quy định về chống cạnh
tranh không lành mạnh ra đời từ rất sớm, lần đầu tiên được ghi nhận trong Bộ luật Dân
sự của Pháp năm 1804 (Điều 1382 và 1383), Luật chống kinh doanh lừa dối năm 1905,
Luật về thông tin đối với người tiêu dùng và chống quảng cáo man trá năm 1978,
1989…
Bên cạnh đó, Luật Sở hữu trí tuệ quốc tế cũng đóng một vai trò quan trọng và là nền
tảng để hoàn thiện hóa các quy định của pháp luật quốc gia. Khi nhắc đến nguồn của
pháp luật quốc tế về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp không thể không kể tới: Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
năm 1883 là một trong những Công ước quốc tế đầu tiên ghi nhận quyền chống hành vi
cạnh tranh không lành mạnh (khoản 2, khoản 3 Điều 10bis); bên cạnh đó còn có Hiệp
định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ - TRIPS năm
1994 (Điều 8.2 và Điều 40)…
2.1.2 Pháp luật quốc gia

9. Bán hàng đa cấp bất chính;
10. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định tại khoản
4 Điều 3 của Luật này do Chính phủ quy định”.
Có thể thấy rằng LCT đã liệt kê ra một loạt các hành vi bị coi là hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực kinh doanh nói chung. Trong quá trình hoạt động, kinh
doanh trên thị trường các chủ thể kinh doanh thực hiện một trong số các hành vi cạnh
tranh tại Điều 39 LCT 2004 nhằm xâm hại trực tiếp đến đối thủ cạnh tranh thông qua
thực hiện các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh, gièm pha, quấy rối doanh nghiệp
khác hoặc một số hành vi có thể ảnh hưởng đến đối thủ cạnh tranh đồng thời lại vi
phạm quyền lợi của người tiêu dùng như chỉ dẫn gây nhầm lẫn, quảng cáo và khuyến
mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh thì đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành
mạnh.
LCT 2004 có quy định hai hành vi cạnh tranh là hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp như sau:
• Hành vi chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn
Khoản 1 Điều 39 Luật Cạnh tranh năm 2004 đã đề cập đến hành vi chỉ dẫn gây
nhầm lẫn và nó được làm rõ hơn tại Điều 40:
“1. Cấm doanh nghiệp sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên
thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn đại lý và
các yếu tố khác theo quy định của chính phủ để làm sai lệch nhận thức của khách hàng
về hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh.
2. Cấm kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có chỉ dẫn ghi tại khoản 1 Điều này.”
Từ những quy định trên của LCT có thể nhận thấy hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn là
hành vi có một số đặc điểm sau6:
- Thứ nhất, đặc điểm về chủ thể. Chủ thể thực hiện hành vi là “doanh nghiệp”, khái
niệm doanh nghiệp ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, không đồng nghĩa hoàn toàn với
khái niệm "doanh nghiệp" được quy định tại khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014
mà còn bao gồm cả cá nhân kinh doanh, trong đó gồm cá nhân có đăng ký kinh doanh
và cá nhân không có đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp
nước ngoài (khoản 1 Điều 2 LCT).

hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự”. Có thể thấy rằng, các chỉ dẫn thương mại suy cho
cùng là các dấu hiệu về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương
mại của hàng hóa dịch vụ, xuất xứ địa lý, cách sản xuất, tính năng, chất lượng…để
người tiêu dùng có thể phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp khác nhau
trên thị trường sản phẩm cùng loại. Xét về mặt kinh tế, các đối tượng nói trên là thành
quả đầu tư của doanh nghiệp trong việc xây dựng uy tín và thương hiệu cho các sản
phẩm mà mình sản xuất hoặc cung ứng.
- Thứ ba, mục đích cuối cùng của các doanh nghiệp thực hiện hành vi là gây ra sự lầm
tưởng cho khách hàng, khiến họ nhầm lẫn giữa sản phẩm của doanh nghiệp mình với
sản phẩm của doanh nghiệp khác và thu lợi bất chính từ đó. Điều này chẳng khác nào
“bóc lột” thành quả lao động của người khác một cách bất lương và bất hợp pháp. Rõ
ràng, hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu
dùng, xâm phạm đến quyền tự do được lựa chọn của họ mà còn ảnh hưởng trực tiếp
đến lợi ích của doanh nghiệp là nạn nhân của hành vi xâm phạm.
Thông qua những đặc điểm trên, có thể nhận thấy rằng phương pháp để xác định
hành vi vi phạm là so sánh giữa các dấu hiệu để nhận biết hàng hoá của doanh nghiệp
bị xâm phạm với đặc tính để nhận biết hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp đang sử
dụng bị coi là đã có hành vi sử dụng những thông tin gây nhầm lẫn cho khách hàng.
Kết quả so sánh cho thấy có việc doanh nghiệp lợi dụng các đặc tính để nhận biết về
hàng hoá, dịch vụ có uy tín đang có trên thị trường của doanh nghiệp khác, sử dụng
trên sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp mình sẽ là căn cứ quan trọng để kết
luận việc có hay không hành vi vi phạm xảy ra trên thực tế. Dấu hiệu này phản ánh bản
chất không lành mạnh của hành vi sử dụng các chỉ dẫn gây nhầm lẫn; đồng thời, cũng
đặt ra cho luật pháp cũng như các cơ quan, cán bộ hữu quan nhiều vấn đề cần giải
quyết khi xác định hành vi và các đặc tính để nhận biết hàng hoá.
• Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

Nguyễn Thị Hồng Ngọc - Viện ĐH Mở Hà Nội

Theo quy định của pháp luật cạnh tranh, tại Điều 41 Luật Cạnh tranh 2004 có liệt kê
bốn hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh, bao gồm:
“1. Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện
pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó;
2. Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở
hữu bí mật kinh doanh;
3. Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ
bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh của chủ
sở hữu bí mật kinh doanh đó;
4. Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi người này
làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ tục lưu
hành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan nhà
nước hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh doanh, xin cấp giấy phép
liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm.”

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

Nguyễn Thị Hồng Ngọc - Viện ĐH Mở Hà Nội


- 19 -

Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh không được liệt kê trong các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh theo quy định tại Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, quy
định tại Điều 41 về các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh trong Luật Cạnh tranh lại
tương tự với quy định về hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh tại Điều
127 Luật Sở hữu trí tuệ.
Qua quy định này có thể thấy rằng pháp luật điều chỉnh những hành vi tiếp cận, thu
thập thông một cách bất chính nhằm mục đích chiếm đoạt thông tin thuộc bí mật kinh
doanh của chủ thể kinh doanh khác. Pháp luật chỉ thừa nhận việc tiếp cận những thông

nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ (misleading), lợi dụng thành quả đầu tư của người khác
7

Đoàn Tử Tích Phước (2009), Chế định cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật về cạnh tranh,
Diễn đàn cạnh tranh - Trang tin Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương.

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

Nguyễn Thị Hồng Ngọc - Viện ĐH Mở Hà Nội


- 20 -

(free reading), xâm phạm bí mật kinh doanh…Bản chất của hành vi này là việc chiếm
đoạt hay sử dụng trái phép lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác. Đây cũng là
dạng hành vi gần với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, sự khác biệt chỉ nằm
ở đối tượng bị xâm phạm. Trong trường hợp hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ,
lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở số đối tượng nhất định được coi là tài
sản trí tuệ sau khi chủ sở hữu xác lập quyền thông qua việc đăng ký và được cấp văn
bằng bảo hộ. Còn trong trường hợp cạnh tranh không lành mạnh, phạm vi lợi thế cạnh
tranh bị xâm phạm có thể rộng hơn rất nhiều, bao gồm tất cả các giá trị, thành quả mà
doanh nghiệp cạnh tranh đạt được một cách hợp pháp thông qua quá trình kinh doanh,
bao gồm cả những yếu tố công khai như uy tín tên tuổi, chỉ dẫn thương mại hay không
công khai như bí quyết kinh doanh.
- Các hành vi mang tính chất công kích: Đây là nhóm hành vi có chung bản chất là tấn
công vào đối thủ cạnh tranh, triệt tiêu hoặc làm suy giảm các lợi thế cạnh tranh của đối
thủ cạnh tranh. Các hành vi cụ thể rất đa dạng, phụ thuộc vào cách thức, mục tiêu công
kích, có thể là những thông tin sai trái làm mất uy tín đối thủ cạnh tranh, hoặc các hành
vi trực tiếp gây cản trở hoạt động kinh doanh của đối thủ, hoặc lôi kéo, mua chuộc
nhân viên hoặc đối tác của đối thủ cạnh tranh. Một số quốc gia còn xếp những hành vi


- 21 -

Nhận thấy, việc phân nhóm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh như trên mang
tính khái quát phục vụ công tác nghiên cứu. Trên thực tế, giữa các nhóm hành vi nói
trên có sự giao thoa và một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể xếp vào hơn
một nhóm nếu xem xét mục đích vi phạm cũng như đối tượng tác động của chúng.
Chẳng hạn như hành vi quảng cáo so sánh vừa có mục đích công kích đối thủ cạnh
tranh, vừa mang tính chất lôi kéo bất chính khách hàng, đặc biệt nếu sự so sánh dựa
trên thông tin sai lệch. Hay hành vi sử dụng trái phép các dấu hiệu, chỉ dẫn thương mại
của đối thủ cạnh tranh trước tiên mang tính chất lợi dụng uy tín nhưng về lâu dài dẫn
đến hậu quả là làm giảm tính chất độc đáo, khả năng phân biệt của chỉ dẫn thương mại
(dillusion), làm triệt tiêu lợi thế cạnh tranh của đối thủ. Hành vi lôi kéo nhân viên của
doanh nghiệp khác trong nhiều trường hợp cũng phát sinh khả năng xâm phạm bí mật
kinh doanh… Nhìn chung, việc đánh giá hành vi cạnh tranh không lành mạnh phụ
thuộc nhiều vào thực tiễn xử lý, dựa trên quan điểm của cơ quan cạnh tranh, mức độ
ảnh hưởng của hành vi cũng như sự cân bằng giữa lợi ích của doanh nghiệp và của
người tiêu dùng, giữa yêu cầu bảo hộ các quyền chính đáng của doanh nghiệp và
khuyến khích cạnh tranh tự do, phát triển kinh tế xã hội.
Ở Việt Nam, cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp lần đầu tiên được
quy định tại Điều 24 Nghị định 54/2000/NĐ-CP về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh
tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp, bao gồm các hành vi sau8:
Một là, sử dụng các chỉ dẫn thương mại để làm sai lệch nhận thức và thông tin về
chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ, nhằm
mục đích: (a) Lợi dụng uy tín, danh tiếng của người sản xuất kinh doanh khác trong
sản xuất kinh doanh của mình; (b) Làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của người sản
xuất kinh doanh khác trong sản xuất kinh doanh của mình; (c) Gây nhầm lẫn về xuất
xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá,
dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ... cho người tiêu dùng trong quá trình

quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu
đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là
người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự
đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng;
d) Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây
nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa
lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc
làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương
ứng.”
Luật SHTT quy định ba hành vi cạnh tranh là hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, như sau:
• Hành vi chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn
Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn được đề cập tại điểm a, b khoản 1 Điều 130 Luật Sở
hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009):
“a) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh
doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ;
b) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất
lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp
hàng hoá, dịch vụ”
Đồng thời tại khoản 2 và khoản 3 của điều luật này cũng đã làm rõ dấu hiệu nhận
biết các đối tượng bị xâm phạm và các hành vi xâm phạm. Các quy định của LSHTT
nhằm bổ sung và hoàn thiện hơn các quy định của LCT. Hành vi chỉ dẫn thương mại
gây nhầm lẫn theo quy định của LSHTT 2005 có các đặc điểm sau:
- Thứ nhất, đặc điểm về chủ thể thực hiện. Chủ thể thực hiện hành vi chỉ dẫn thương
mại gây nhầm lẫn theo quy định của LSHTT bao gồm: tổ chức, cá nhân kinh doanh tại
Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của
LSHTT và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Như vậy, chủ thể thực hiện
hành vi CTKLM liên quan đến chỉ dẫn thương mại theo quy định của Luật SHTT
2005 rộng hơn so với Luật Cạnh tranh 2004. Và do đó sẽ có những khả năng sau đây
xảy ra liên quan đến chủ thể thực hiện hành vi khi tiến hành áp dụng pháp luật:

tranh không lành mạnh được nêu trong Luật Cạnh tranh nhưng là không nằm trong
phạm vi các đối tượng mà đạo luật điều chỉnh thì đồng nghĩa với việc đó không phải là
hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật về cạnh tranh. Do có đối tượng áp
dụng rộng hơn, Luật Sở hữu trí tuệ có thể điều chỉnh được một số hành vi bất hợp pháp
của các chủ thể mà Luật Cạnh tranh chưa bao quát được.
- Thứ hai, đặc điểm về các đối tượng thuộc chỉ dẫn thương mại bị xâm phạm theo quy
định của Luật SHTT 2005, nếu đối chiếu với Điều 40 Luật Cạnh tranh 2004 (không
tính quy phạm "mở" được quy định tại Điều 39) là "rộng" và cụ thể hơn so với Luật
Cạnh tranh 2004. Bởi như đã trình bày ở trên, Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung
2009) còn quy định cả các chỉ dẫn gây nhầm lần về nhãn hiệu hàng hoá. Bên cạnh đó,
chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn còn được cụ thể hoá trong đạo luật này, theo đó chỉ
dẫn gây nhầm lẫn ở đây có thể là về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn
gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ; về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất
lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng
hoá, dịch vụ; được quy định cụ thể như sau:
+ Đối với nhãn hiệu, yếu tố xâm phạm được xác định là các dấu hiệu gắn trên hàng
hóa, bao bì hàng hóa, biển hiệu, phương tiện quảng cáo...trùng hoặc tương tự tới mức
gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được bảo hộ của chủ thể kinh doanh khác. Dấu hiệu bị
coi là trùng nếu có cùng cấu tạo, cách trình bày (kể cả về màu sắc) với nhãn hiệu đã
được bảo hộ; dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo
hộ nếu có một số đặc điểm hoàn toàn trùng nhau hoặc tương tự nhau đến mức không
thể dễ dàng phân biệt được chúng với nhau dựa trên các đặc điểm về cấu tạo, cách phát
âm, phiên âm nhằm mục đích gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
Hàng hóa, dịch vụ bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự về bản chất hoặc có liên hệ về
chức năng, công dụng, kênh tiêu thụ với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ.

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

Nguyễn Thị Hồng Ngọc - Viện ĐH Mở Hà Nội


cạnh tranh, không vì mục đích cạnh tranh, không hướng tới xâm phạm đến các đối thủ
cạnh tranh thì sẽ không bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật
cạnh tranh mà có thể bị xử lý theo quy định của LSHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009)
do xâm phạm đến các đối tượng chỉ dẫn thương mại do luật này quy định.
• Hành vi sử dụng bất hợp pháp nhãn hiệu đã được bảo hộ tại một nước thành
viên là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại
lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó
Theo quy định tại khoản 5 Điều 124 LSHTT 2005, các hành vi sử dụng nhãn hiệu
bao gồm:
“a) Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện kinh
doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh;
b) Lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hoá mang nhãn
hiệu được bảo hộ;
c) Nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ.”
Tại điểm c khoản 1 Điều 130 Luật này có quy định: các chủ thể khi thực hiện hành
Khóa luận tốt nghiệp Đại học

Nguyễn Thị Hồng Ngọc - Viện ĐH Mở Hà Nội


- 25 -

vi sử dụng nhãn hiệu nêu trên mà nhãn hiệu đó đã được bảo hộ tại một nước là thành
viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu
nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành
viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc
sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính
đáng.
Thông qua khái niệm này có thể nhận thấy hành vi sử dụng nhãn hiệu bị coi là hành
vi cạnh tranh không lành mạnh khi thỏa mãn đầy đủ bốn điều kiện sau đây:

Hiện nay, tình trạng tranh chấp về tên miền ngày càng gia tăng. Các tranh chấp chủ
yếu liên quan đến việc đăng ký tên miền xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân khác. Tranh chấp về tên miền xảy ra trong trường hợp một chủ thể tiến

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

Nguyễn Thị Hồng Ngọc - Viện ĐH Mở Hà Nội



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status