Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp - Pdf 48

NGUYỄN XUÂN PHÚC

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC
SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

NGUYỄN XUÂN PHÚC

2014 - 2016
HÀ NỘI – NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC
SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

NGUYỄN XUÂN PHÚC

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

Nguyễn Xuân Phúc


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS. ĐẶNG VŨ HUÂN
TỔNG BIÊN TẬP TẠP TRÍ DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH
TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP…………………………………………………………………………….8
1.1. Khái quát về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp…………………………………………………………………………8
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh………8
1.1.2. Nhận diện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp……………………………………………………………………16
1.2. Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp………………………………………………………………………..20
1.2.1. Chế định điều chỉnh của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp...........................................................................20
1.2.2. Mối quan hệ giữa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh với
pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và nguyên tắc áp dụng pháp luật...24
1.2.3. Xác định và xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
sở hữu công nghiệp………………………………………………………………...27
Kết luận Chương 1………………………………………………………...30
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG

Việt Nam…………………………………………………………………………..65
3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về xác định hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam………………...65
3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam………………...68
Kết luận Chương 3.......................................................................................72
KẾT LUẬN..............................................................................................................73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................75


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Quyền sở hữu công nghiệp là tài sản vô hình chiếm tỷ trọng ngày càng lớn
trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Đối tượng sở hữu công nghiệp là một
yếu tố thể hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại nên các đối thủ cạnh tranh có
thể thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhằm xâm hại các đối tượng
này để thu lợi bất chính trong kinh doanh. Chính vì vậy, các doanh nghiệp đã và
đang tích cực thực hiện các hoạt động bảo vệ các đối tượng sở hữu công nghiệp của
mình, trong đó, có quyền chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong quá
trình hoạt động kinh doanh.
Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh là một trong hai lĩnh vực chủ
yếu của pháp luật cạnh tranh và ra đời từ rất sớm. Ở bình diện quốc tế, Công ước
Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1883 cũng quy định về hành vi cạnh
tranh không lành mạnh và các hành vi bị cấm tại Điều 10bis, đó là: “Bất kỳ hành vi
nào trái với các thông lệ trung thực trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại đều
bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh”. Các hành vi bị cấm bao gồm: Hành
vi có khả năng gây nhầm lẫn về nơi sản xuất hàng hoá của đối thủ cạnh tranh, làm
mất uy tín đối thủ cạnh tranh, lừa dối công chúng... Hiệp định về các khía cạnh
thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) năm 1994 của WTO cũng đã đề cập
vấn đề cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ tại Điều 8.2 và Điều 40.

năm 2004 rộng hơn so với Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 trong trường hợp bị các
hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại.
Trên thực tế, việc thực thi Luật Cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp vẫn tiếp tục là vấn đề nóng, diễn ra thường xuyên, ở tất cả mọi lĩnh vực
ngành nghề, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của doanh nghiệp, tạo nên
nhiều nhầm lẫn, lừa dối đối với người tiêu dùng. Nguyên nhân là do nhận thức và
hiểu biết về pháp luật của các doanh nghiệp chưa đầy đủ, đồng thời, không loại trừ
những trường hợp cố ý, nhằm mục đích gây ra thiệt hại hay làm cản trở đến hoạt
động thương mại bình thường của đối thủ cạnh tranh. Đối với quá trình thực thi
pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp,
bất cập có thể thấy rõ nhất hiện nay là nguyên tắc áp dụng pháp luật và thẩm quyền

2


xử lý vi phạm. Nếu xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Luật Cạnh
tranh, thì thẩm quyền thuộc về Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương), còn nếu
xử lý theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, thì thẩm quyền có phạm vi rộng, rất
nhiều cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính như: Cục Quản lý thị trường,
Công an kinh tế, Thanh tra chuyên ngành, Hải quan… Bên cạnh đó, việc xác định
chính xác hành vi vi phạm là hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay là các hành
vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là một việc làm khá phức tạp, song điều này lại
quyết định việc lựa chọn nguyên tắc áp dụng pháp luật để xử lý nên đã gây không ít
khó khăn trong việc xử phạt, khó tìm được sự thống nhất trong chế tài xử phạt và có
thể xảy ra khả năng cùng một hành vi sẽ bị phạt hai lần…
Với những lý do trên, việc đặt yêu cầu nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực
tiễn của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp ở Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật là có tính cấp thiết và
có ý nghĩa về mặt khoa học cũng như về mặt thực tiễn. Bởi vậy, em đã mạnh dạn lựa
chọn đề tài “Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu

Thanh Mai (2005), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; “Bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp đối với bí mật kinh doanh theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ
luật học của tác giả Trương Thị Thanh Tuyết (2011), Khoa Luật, Đại học Quốc gia
Hà Nội; “Kiểm soát hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp
luật về cạnh tranh và pháp luật Sở hữu trí tuệ”, Luận văn Thạc sĩ luật học của tác
giả Trần Thị Hồng Thúy (2012), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; “Hành vi
cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới nhãn hiệu theo Luật Sở hữu trí tuệ năm
2005”, Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Kim Liên (2013), Khoa
Luật, Học viện Khoa học Xã hội… Ngoài ra, còn có nhiều các công trình nghiên
cứu chuyên sâu các bài viết đăng trong các kỷ yếu hội thảo hay tọa đàm khoa học
đề cập các khía cạnh khác nhau của pháp luật về cạnh tranh và pháp luật chống cạnh
tranh không lành mạnh ở cả khía cạnh lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, nghiên cứu
chuyên biệt pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp nhằm làm rõ thực trạng môi trường pháp lý và kiến nghị giải pháp
hoàn thiện pháp luật điều chỉnh thì vẫn chưa có một công trình nào đề cập đến.
Trên cơ sở nghiên cứu, kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu
nói trên, tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp

4


luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, từ đó,
đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực
này ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn này là nhằm khảo cứu, hệ thống và phân
tích các vấn đề lý luận cũng như thực trạng pháp luật chống cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện
pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về chống cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam.

biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin, kết hợp các phương pháp
nghiên cứu khoa học cơ bản như: phương pháp tổng hợp, phân tích, khái quát hóa
trong khi tìm hiểu, đánh giá pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu công nghiệp nhằm tìm ra những hạn chế và đề xuất các giải pháp
hoàn thiện cho phù hợp.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được pháp luật điều chỉnh và quy
định cụ thể trong Luật Cạnh tranh. Trong lĩnh vực bảo vệ quyền sở hữu công
nghiệp, quyền chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng được quy
định hết sức cụ thể trong Luật Sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật
về chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật về sở hữu công nghiệp hiện
hành chủ yếu là các quy phạm nội dung và chưa được hướng dẫn một cách cụ thể,
đặc biệt là nguyên tắc áp dụng pháp luật để xử lý các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Trên tinh thần đó, nội dung nghiên cứu
của luận văn này sẽ góp phần đáng kể vào việc:
(i) Làm rõ các vấn đề lý luận của pháp luật về chống cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;
(ii) Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật về
chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam
thời gian qua;
(iii) Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, cũng như nâng cao
hiệu quả cơ chế thi hành pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam.

6


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm 03 chương:

chung, mà theo đó doanh nghiệp toan tính đạt được thành công trên thị trường
không dựa trên nỗ lực của bản thân cải thiện chất lượng, giá cả của sản phẩm, mà
bằng cách chiếm đoạt những ưu thế của sản phẩm người khác hoặc tác động sai trái
lên khách hàng. Tuy nhiên, xét cả về lý luận lẫn thực tiễn, khi cơ chế thị trường
khuyến khích các doanh nghiệp cạnh tranh tự do và sáng tạo, việc đánh giá tính
1

Dominique Brault (2006), Chính sách và thực tiễn pháp luật cạnh tranh của Cộng hoà Pháp,
NXB Chính trị quốc gia, tập 1.

8


chính đáng trong hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp và đặt ra các giới hạn cho
cạnh tranh lành mạnh là khó khăn mà các nhà lập pháp có vẻ đã không giải quyết
được triệt để và trong nhiều trường hợp chỉ đề ra các tiêu chí khái quát chung và
trao quyền cho cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh tự đánh giá và quyết định ở
những vụ việc cụ thể.
Sự không rõ ràng trong khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh được thể
hiện ngay tại một trong những định nghĩa pháp lý phổ biến nhất và lâu đời nhất của
nó, nằm tại Điều 10bis Công ước Paris về Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Cạnh
tranh không lành mạnh được hiểu là những hành vi cạnh tranh không trung thực, vi
phạm những nguyên tắc cơ bản của đạo đức kinh doanh, được tiến hành trong quá
trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, nhằm hưởng lợi bất hợp pháp từ thành quả kinh
doanh của người khác hoặc dèm pha đối thủ cạnh tranh, qua đó, giành giật khách
hàng về phía mình. Điều khoản này được bổ sung được bổ sung vào Công ước năm
1900 và được sửa đổi lần cuối theo Văn bản Stockholm năm 1967, theo đó, bất kỳ
hành vi cạnh tranh nào đi ngược lại các thông lệ trung thực, thiện chí trong công
nghiệp hoặc trong thương mại đều là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Có thể
thấy, tiêu chí đánh giá quan trọng nhất về tính lành mạnh/không lành mạnh của một

thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”.
Nhìn chung, định nghĩa về cạnh tranh không lành mạnh của Luật Cạnh tranh năm
2004 tương tự với định nghĩa của Công ước Paris và pháp luật các nước có nền kinh
tế thị trường phát triển trên thế giới. Tuy nhiên, tại định nghĩa này, một lần nữa có
thể thấy tiêu chí đánh giá về tính chất không lành mạnh của hành vi cạnh tranh chỉ
được nêu chung chung là “các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh”.
Công ước Paris ít nhất còn đưa ra hai tiêu chí cụ thể là tính trung thực và tính thiện
chí, để dựa vào đó cơ quan công quyền đánh giá một hành vi cụ thể trên thực tế có
tỏ ra trung thực và thiện chí hay không. Đồng thời Công ước cũng khuyến nghị các
nước tham gia cụ thể hóa các tiêu chí đánh giá trong nội luật của mình để thuận tiện
cho việc áp dụng pháp luật.
1.1.1.2. Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh

2

WIPO (2001), Cẩm nang sở hữu trí tuệ, tr.132-133

10


Xuất phát từ khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh nêu trên, có thể
xác định một số đặc điểm cơ bản của hành vi cạnh tranh không lành mạnh như sau:
Thứ nhất, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh do các
chủ thể kinh doanh thực hiện trên thị trường, hướng tới đối thủ cạnh tranh và nhằm
mục đích lợi nhuận
Trong quá trình kinh doanh trên thị trường cạnh tranh, mỗi hành vi kinh
doanh của một doanh nghiệp cũng chính là hành vi cạnh tranh trong tương quan với
các doanh nghiệp khác, do đó, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều có thể bị xem
xét về tính chính đáng, phù hợp với thông lệ hay đạo đức kinh doanh và pháp luật

số tổ chức phi kinh tế, các đơn vị truyền thông… thực hiện những hành vi xâm
phạm đến quyền cạnh tranh lành mạnh của doanh nghiệp, ví dụ như tung tin không
trung thực về doanh nghiệp, về hàng hóa, dịch vụ…. Các hoạt động này tuy liên
quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động cạnh tranh của các chủ thể là doanh
nghiệp nhưng không được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Trong trường
hợp này, các hành vi trên bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh, đồng thời còn vi
phạm các quy định của pháp luật trong các lĩnh vực khác như pháp luật dân sự, báo
chí… Việc xử lý các trường hợp đó sẽ tuân theo quy định của Luật hành chính hoặc
Luật dân sự (theo chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng).
Không thể nói đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh khi các chủ thể
không ở trong vị thế "cạnh tranh" với nhau. Các chủ thể thực hiện hành vi cạnh
tranh không lành mạnh phải thực hiện hành vi trong quá trình kinh doanh và vì mục
đích cạnh tranh. Xuất phát từ mục đích của doanh nghiệp, hiệp hội là kinh doanh
thu lợi nhuận nên việc thực hiện các hành vi này nhất thiết đòi hỏi doanh nghiệp,
hiệp hội đó phải thực hiện trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh doanh. Nếu
các hành vi nằm ngoài chức năng kinh doanh của chủ thể và không vì mục tiêu lợi
nhuận thì không được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Cuối cùng, liên quan đến trách nhiệm cá nhân, một số quốc gia còn mở rộng
phạm vi đối tượng chịu trách nhiệm pháp lý về vi phạm đến các cá nhân là lãnh đạo
doanh nghiệp và không loại trừ các chế tài mang tính hình sự. Cũng theo quy định
của Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh Nhật Bản, hình phạt tối đa đối với các
cá nhân vi phạm có thể lên đến 10 năm tù và 10 triệu yên tiền phạt.
Thứ hai, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi có tính chất đối
lập, đi ngược lại các thông lệ, truyền thống kinh doanh tốt đẹp, các nguyên tắc đạo

12


đức kinh doanh, những quy tắc xử sự chung đã được chấp nhận rộng rãi và lâu dài
trong hoạt động kinh doanh trên thị trường

13


mang tính quyết định. Về nguyên tắc, một hành vi của doanh nghiệp cho dù chỉ là
vô ý, bất cẩn nhưng gây thiệt hại cho người tiêu dùng cũng vẫn phải bị ngăn chặn.
Bên cạnh đó, đặc điểm này còn thể hiện bản chất không lành mạnh của hành
vi cạnh tranh. Tuy nhiên, các thuật ngữ "các thông lệ, truyền thống kinh doanh tốt
đẹp, các nguyên tắc đạo đức kinh doanh" đều là những thuật ngữ mang tính chất
trừu tượng cả về pháp lý lẫn lý thuyết. Trên thực tế chưa có bất kỳ căn cứ pháp lý
hoặc cấu thành pháp lý cụ thể nào để xác định chuẩn mực đạo đức trong kinh
doanh. Do đó, cơ quan có thẩm quyền không thể sử dụng khái niệm "hành vi không
lành mạnh" để quy kết một hành vi cụ thể của doanh nghiệp là không lành mạnh.
Để khắc phục tình trạng này, pháp luật cạnh tranh ở nước ta đã quy định được một
số nội dung cơ bản như sau:
Một là, Luật Cạnh tranh 2004 đã liệt kê các hành vi cạnh tranh bị coi là
không lành mạnh và quy định cấu thành pháp lý của chúng. Theo đó, các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh bao gồm: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật
kinh doanh; Ép buộc trong kinh doanh; Gièm pha doanh nghiệp khác; Gây rối hoạt
động kinh doanh của người khác; Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh; Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Phân biệt đối xử trong hiệp
hội; Bán hàng đa cấp bất chính và một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác
trong các lĩnh vực về giá, về sở hữu trí tuệ được quy định trong các văn bản pháp
luật tương ứng.
Hai là, các nguyên tắc về đạo đức kinh doanh được xác định dựa trên (i) căn
cứ luật định, và (ii) các tập quán kinh doanh thông thường đã được thừa nhận rộng
rãi. Căn cứ luật định là những tiêu chuẩn đã được định lượng hoá bằng pháp luật,
một khi hành vi đi trái với các quy định pháp luật sẽ được xem là không lành mạnh.
Trong trường hợp này, hành vi cạnh tranh không lành mạnh đồng nghĩa với hành vi
cạnh tranh bất hợp pháp. Theo đó, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể là
hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh vi phạm điều cấm của pháp luật (bao gồm

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có đối tượng xâm hại cụ thể là quyền,
lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp khác và người tiêu dùng. Bên cạnh đó, hành
vi cạnh tranh không lành mạnh có thể trực tiếp đã gây ra hậu quả thiệt hại (vật chất
và tinh thần) cho các đối tượng được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, hậu quả của hành
vi cạnh tranh không lành mạnh cũng có thể chỉ là tiềm năng, được xác định thông

15


qua một số căn cứ có thể gây ra thiệt hại cho các chủ thể trên, có nghĩa là một thiệt
hại sẽ xảy ra trong tương lai nếu không ngăn chặn hành vi cạnh tranh không lành
mạnh. Do đó, một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh có cấu thành vật chất
(thiệt hại là dấu hiệu bắt buộc) như dèm pha doanh nghiệp khác; một số hành vi có
cấu thành hình thức (thiệt hại không là dấu hiệu bắt buộc mà có thể chỉ là sự suy
đoán nếu hành vi tiếp tục được thực hiện), ví dụ hành vi quảng cáo không trung
thực…
Đặc điểm về hậu quả của hành vi giúp cho chúng ta phân biệt dưới góc độ lý
thuyết hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh. Hành vi
hạn chế cạnh tranh là những xử sự của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp làm
thay đổi một cách tiêu cực tình trạng cạnh tranh hoặc làm giảm tác dụng của cạnh
tranh đối với thị trường. Hành vi hạn chế cạnh tranh có thể gây thiệt hại cho một,
một số đội tượng cụ thể, song nghiêm trọng hơn là làm cản trở, làm suy giảm hoặc
sai lệch cạnh tranh. Trong khi đó, hành vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ gây thiệt
hại cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh khác hoặc cho người tiêu dùng, xâm hại
đến trật tự quản lý cạnh tranh của nhà nước mà không cản trở, sai lệch hay làm
giảm tình trạng cạnh tranh của thị trường. Vì vậy, cách thức và mức độ xử lý đối
với hai loại hành vi này khác nhau.
Dưới góc độ lịch sử phát triển, những đặc điểm về hậu quả của hành vi cạnh
tranh không lành mạnh thay đổi theo thời gian phụ thuộc vào nhận thức của con
người về tính nguy hại và mức độ xâm hại của hành vi đó đối với lợi ích mà pháp

(i) Hành vi gây nhầm lẫn
Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động
kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ được hiểu là tất cả các
hành vi có thể dẫn tới sự nhầm lẫn của khách hàng về nơi sản xuất, sản phẩm hàng
hoá, tên thương mại hoặc xuất xứ hàng hoá của một chủ thể kinh doanh đối với đối
thủ cạnh tranh khác... Chỉ cần có sự nhầm lẫn xảy ra trên thực tế là đủ để cấu thành
hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Việc cố ý tạo nên sự nhầm lẫn là tình tiết tăng
nặng có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt. Việc pháp luật quy định, nghiêm
cấm và xử lý các hành vi gây nhầm lẫn có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo hộ các
5

TS. Nguyễn Thanh Tâm, “Cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp”, Tạp chí Luật
học của Trường Đại học Luật Hà Nội, số 6 năm 2006, http://vnlaw.net/tin-tuc/bai-viet-phan-tichphap-ly/76-c-nh-tranh-lien-quan-d-n-quy-n-s-h-u-cong-nghi-p

17


nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng, tên thương mại nhằm chống lại các hành vi sử dụng
trái phép nhãn hiệu nổi tiếng của những hàng hoá, dịch vụ, cũng như hành vi sử
dụng trái phép các chỉ dẫn thương mại của các cơ sở kinh doanh. Tương tự như vậy,
các quy định ngăn cấm của pháp luật cũng phát huy tác dụng trong xử lý việc sử
dụng kiểu dáng sản phẩm gây nhầm lẫn hoặc tạo sự lừa dối người tiêu dùng về
nguồn gốc thương mại của sản phẩm hàng hoá.
(ii) Hành vi lừa dối
Hành vi lừa dối được hiểu là việc tạo ra một ấn tượng giả về các sản phẩm
hàng hoá hoặc dịch vụ của một đối thủ cạnh tranh. Theo Khoản 3.3, Điều 10bis
Công ước Paris năm 1883, những chỉ dẫn hoặc khẳng định mà việc sử dụng chúng
trong hoạt động thương mại có thể gây nhầm lẫn cho công chúng về bản chất, quá
trình sản xuất, tính chất, tính thích hợp để sử dụng hoặc số lượng của hàng hoá đều
bị coi là cạnh tranh không lành mạnh. Đây là hình thức thường gặp nhất của cạnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status