TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH – THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC
SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
ThS. NGUYỄN MAI HÂN
NGUYỄN LÝ HỒNG NHUNG
MSSV: 5086062
LỚP: LK0864A1
Cần Thơ, 05/2012
Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
1.1.1 Khái niệm về hành vi cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh.... 4
1.1.1.1 Khái niệm về hành vi cạnh tranh.......................................................... 4
1.1.1.2 Khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh .............................. 6
1.1.2 Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh...................................... 7
1.1.2.1 Chủ thể thực hiện hành vi phải là những chủ thể kinh doanh trên thị
trường ............................................................................................................. 7
1.1.2.2 Hành vi cạnh tranh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức
kinh doanh....................................................................................................... 8
1.1.2.3 Đặc điểm về hậu quả của hành vi......................................................... 9
1.2 Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp..................................................... 9
1.2.1 Khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu công nghiệp ................. 9
1.2.1.1 Khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ ....................................................... 9
1.2.1.2 Khái niệm về quyền sở hữu công nghiệp.............................................10
1.2.2 Một số đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp ........................................11
1.2.2.1 Nhãn hiệu hàng hóa ............................................................................11
1.2.2.2 Chỉ dẫn thương mại và chỉ dẫn địa lý..................................................12
1.2.2.3 Tên thương mại ..................................................................................13
1.2.2.4 Bí mật kinh doanh...............................................................................14
1.2.3 Vai trò của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp......................................15
1.3 Khái quát chung về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp...............................................................................................................16
CHƯƠNG 2. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI CẠNH
TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP ..................................................................................................................19
2.1 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong sở hữu công nghiệp....................19
2.1.1 Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn .....................................................................19
2.1.1.1 Điều chỉnh theo Luật Cạnh tranh 2004................................................19
2.1.1.2 Điều chỉnh theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005............................................21
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân
Trang 4
SVTH: Nguyễn Lý Hồng Nhung
Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại mà nền kinh tế tri thức đang nắm hoàn toàn ưu thế và hội nhập
kinh tế quốc tế trở thành xu hướng chung của toàn cầu, quyền sở hữu công nghiệp,
một thứ tài sản vô hình vô cùng giá trị, ngày càng chiếm giữ vai trò quan trọng. Nó là
một trong những yếu tố quyết định sản xuất và là công cụ để đánh giá uy tín, sự phát
triển khoa học – công nghệ của một doanh nghiêp, một quốc gia. Do vậy, khi một
doanh nghiệp đã tạo lập được quyền sở hữu công nghiệp và đầu tư, nâng cao giá trị
của nó, thì ngay lập tức, nó trở thành một lợi thế đáng kể trong hoạt động kinh doanh
của họ so với các đối thủ cạnh tranh khác.
Thế nhưng, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ khả năng tạo lập quyền sở
hữu công nghiệp cho riêng mình hoặc thành công trong công việc đó, trong khi áp lực
canh tranh của nền kinh tế thị trường là vô cùng lớn, sự đào thải khốc liệt của nó cùng
với mục tiêu lợi nhuận đã khiến nhiều doanh nghiệp tìm cách lợi dụng quyền sở hữu
công nghiệp của người khác mà tìm kiếm lợi ích bất chính cho mình. Hành vi này
diễn ra ngày càng phức tạp, tăng lên về cả về quy mô cũng như mức độ tinh vi, ảnh
hưởng tiêu cực đến lợi ích của các doanh nghiệp làm ăn chân chính, lợi ích chính
đáng của người tiêu dùng và trật tự chung của xã hội. Luật Cạnh tranh 2004 và Luật
Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) (sau đây gọi tắt là Luật Sở hữu trí
tuệ 2005) ra đời với các quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan
đến quyền sở hữu công nghiệp đã đặt ra nền tảng pháp lý quan trọng trong việc bảo
hộ các thành quả lao động của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp, bảo vệ lợi ích của
phần hoàn thiện những quy định pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu vào những quy định của pháp luật về hành
vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp được quy
định trong Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và các văn bản
quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu về các quy định của pháp luật đối với hành vi cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, người viết đã lựa chọn ba
phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân tích, so sánh và tổng hợp, cùng với một số
phương pháp nghiên cứu khác.
- Dùng phương pháp phân tích câu chữ của luật để tìm hiểu pháp luật quy định
như thế nào về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp.
- Dùng phương pháp so sánh luật để so sánh những quy định pháp luật về hành
vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp giữa pháp luật của
một số nước là thành viên của Hiệp định TRIPS và Hiệp định Paris với pháp luật của
Việt Nam.
- Bên cạnh đó tổng hợp từ thực tế hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan
đến quyền sở hữu công nghiệp đang diễn ra như thế nào, đưa ra một số ý kiến cá nhân
về hiệu quả tích cực cũng như những mặt còn hạn chế trong việc áp dụng các quy
định pháp luật liên quan. Căn cứ vào đó để đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn
thiện pháp luật.
5. Bố cục của đề tài
Đề tài được chia thành ba phần: Lời mở đầu, phần nội dung và kết luận. Phần
nội dung bao gồm ba chương:
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân
Trang 6
Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tuy bản thân đã có nhiều nỗ lực, cũng
như đã nhận được sự hướng dẫn và chỉ dạy tận tình của giáo viên hướng dẫn, nhưng
do có sự giới hạn về thời gian nghiên cứu cũng như vốn kiến thức chuyên sâu, việc
tìm hiểu của người viết cũng khó có thể tránh khỏi thiếu sót, hạn chế về những quan
điểm, nhận xét mang ý kiến chủ quan, cách đánh giá, tổng hợp vấn đề cũng như tầm
nhìn. Vì vậy, người viết rất mong nhận được sự phê bình, đóng góp ý kiến chân thành
từ quý Thầy Cô để đề tài nghiên cứu về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu công nghiệp được đầy đủ và hoàn thiện hơn.
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân
Trang 7
SVTH: Nguyễn Lý Hồng Nhung
Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
1.1 Khái quát chung về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
1.1.1 Khái niệm về hành vi cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành
mạnh
1.1.1.1 Khái niệm về hành vi cạnh tranh
Cạnh tranh là một trong những quy luật cơ bản và đồng thời cũng là thuộc tính
của cơ chế thị trường, nơi pháp luật thừa nhận và bảo đảm chế độ sở hữu đa thành
phần, quyền tự do ý chí trong đó có tự do kinh doanh của cá nhân. Xét theo phương
diện tích cực, có tự do cạnh tranh, nền kinh tế thị trường mới vận hành theo đúng quy
Trang 8
SVTH: Nguyễn Lý Hồng Nhung
Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Mặc dù nhìn nhận cạnh tranh dưới những góc độ khác nhau, song các lý thuyết
về kinh tế vẫn nhất trí rằng cạnh tranh là sản phẩm riêng có của kinh tế thị trường, là
linh hồn, là động lực cho sự phát triển của thị trường. Từ đó cạnh tranh được mô tả
bởi những dấu hiệu căn bản sau:
Đặc trưng thứ nhất, cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh
doanh. Với tư cách là một hiện tượng xã hội, cạnh tranh chỉ xuất hiện khi có những
tiền đề nhất định, đó là:
Có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các hình
thức sở hữu khác nhau. Bởi vì một khi trong thị trường nhất định nào đó chỉ có một
doanh nghiệp tồn tại thì chắc chắn nơi đó sẽ không có đất cho cạnh tranh nảy sinh và
phát triển. Hoặc là có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp, song chúng chỉ thuộc về một
thành phần kinh tế duy nhất thì sự cạnh tranh chẳng còn ý nghĩa nữa. Cạnh tranh chỉ
trở thành động lực thúc đẩy các doanh nghiệp kinh doanh tốt hơn nếu các doanh
nghiệp thuộc về các thành phần kinh tế khác nhau với những lợi ích và tính toán khác
nhau.
Đặc trưng thứ hai, về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch
giữa các doanh nghiệp. Nói cách khác, cạnh tranh suy cho cùng là phương thức giải
quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định
là người tiêu dùng.
Hành vi cạnh tranh có thể hình tượng hóa thành quan hệ tay ba giữa cac doanh
nghiệp với nhau và với khách hàng. Trong đó các doanh nghiệp đua nhau lấy lòng
khách hàng, còn khách hàng là người có quyền lựa chọn người sẽ cung ứng sản phẩm
cho mình. Quan hệ này cũng được mô tả tương tự khi các doanh nghiệp tranh giành
diện mạo mới, linh hoạt, đa dạng, phong phú và ngày càng phát triển. Để tồn tại, các
doanh nghiệp buộc phải làm mình mạnh thêm, làm cho đối thủ suy yếu đi, hoặc bị mờ
nhạt dần và biến mất khỏi thị trường. Chính sự khốc liệt đó đã đem lại những hiện
tượng xã hội tiêu cực, mà trong đó, cạnh tranh không lành mạnh nổi lên như một ung
nhọt của nền kinh tế thị trường.
1.1.1.2 Khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Trên thế giới, sự điều chỉnh của pháp luật đối với hành vi cạnh tranh không lành
mạnh đã bắt đầu từ thế kỷ XIX. Tại điều 10 bis Công ước Paris về Bảo vệ quyền sở
hữu công nghiệp năm 1883 quy định: “Bất cứ hành vi nào trái với tập quán trung
thực trong công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành
mạnh”. Theo Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam thì: “Hành vi cạnh tranh không
lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái
với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể
gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp
khác hoặc người tiêu dùng”. Tiếp theo đó, Điều 39 Luật Cạnh tranh 2004 quy định rõ
một số loại hành vi được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh như chỉ dẫn gây
nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh
nghiệp khác, gây rối hoạt động của doanh nghiệp khác, quảng cáo và khuyến mại
nhằm cạnh tranh không lành mạnh, phân biệt đối xử của hiệp hội, bán hàng đa cấp bất
chính và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác do Chính phủ quy định thỏa
mãn các tiêu chí quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh.
Nhìn chung, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi đi ngược lại
các nguyên tắc xã hội, tập quán và truyền thống kinh doanh, xâm phạm lợi ích của
những chủ thể kinh doanh khác, lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích chung của xã
hội. Bản chất của cạnh tranh không lành mạnh là hành vi bất chính nhằm vào những
đối thủ cạnh tranh cụ thể nào đó, gây cản trở hoạt động, gây thiệt hại trực tiếp hoặc
gián tiếp đến họ.
Mặc dù có nhiều cố gắng, song pháp luật Việt Nam và các nước trên thế giới
đều không thể đưa ra được khái niệm cạnh tranh không lành mạnh có thể bao quát
được mọi biểu hiện trên thực tế. Có thể nói, sự đua tranh gay gắt của thị trường và
được xem xét, đánh giá về tính chính đáng, phù hợp với pháp luật và các chuẩn mực
đạo đức kinh doanh. Điều này dẫn đến thực tế là pháp luật về cạnh tranh tham gia
điều chỉnh rất nhiều các khía cạnh khác nhau của đời sống kinh tế. Do đó mà pháp
luật về cạnh tranh không lành mạnh ở các quốc gia có thể quy định phạm vi áp dụng
rất rộng và điều chỉnh các hành vi đa dạng. Ví dụ: Luật chống cạnh tranh không lành
mạnh của Nhật Bản quy định hành vi hối lộ cũng là một hình thức cạnh tranh không
lành mạnh5.
- Thứ hai, chủ thể thực hiện hành vi là các doanh nghiệp tham gia hoạt động
kinh doanh trên thị trường. Ở đây, khái niệm doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa
rộng, bao gồm mọi tổ chức hay cá nhân tham gia hoạt động tìm kiếm lợi nhuận một
cách thường xuyên và chuyên nghiệp, hay sử dụng khái niệm của pháp luật thương
mại là có tư cách thương nhân. Trên một phạm vi rộng hơn, các quy định về cạnh
5
Đoàn Tử Tích Phước, Trang tin Cục Quản lý cạnh tranh, Chế định cạnh tranh không lành mạnh trong pháp
luật cạnh tranh, [truy cập ngày
15/2/2012].
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân
Trang 11
SVTH: Nguyễn Lý Hồng Nhung
Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
tranh không lành mạnh còn có thể áp dụng đối với hành vi của các nhóm doanh
nghiệp hoạt động có tổ chức (hiệp hội) và các cá nhân hành nghề tự do (bác sỹ, luật
sư, kiến trúc sư…). Có thể thấy, hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra trong
kinh doanh ở mọi ngành, mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế, mọi công đoạn của quá
tượng xung đột về việc đánh giá tính lành mạnh của một hành vi cạnh tranh ở các
quốc gia khác nhau, các lĩnh vực khác nhau, các giai đoạn lịch sử khác nhau… Mức
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân
Trang 12
SVTH: Nguyễn Lý Hồng Nhung
Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
độ nhận thức cũng như mức độ đánh giá ảnh hưởng của các hành vi luôn thay đổi và
phát triển. Vì vậy người ta thường chủ yếu dựa vào việc phân tích các hậu quả của
hành vi cạnh tranh đối với đời sống kinh tế - xã hội để xác định tính lành mạnh và
mức độ biểu hiện của chúng.
1.1.2.3 Đặc điểm về hậu quả của hành vi
Câu hỏi đặt ra là liệu việc chứng minh thiệt hại thực tế được coi là bắt buộc để
bắt đầu tiến trình xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không? Tuỳ thuộc
vào quy định của từng quốc gia cũng như quan điểm của cơ quan xử lý, có các cách
thức nhìn nhận khác nhau về hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Trong
nhiều trường hợp, cơ quan xử lý có thể chấp nhận việc “đe doạ gây thiệt hại”, cũng
như các thiệt hại không tính toán được cụ thể về cơ hội kinh doanh là đủ để coi một
hành vi cạnh tranh là không lành mạnh và đáng bị ngăn cấm. Vậy một hành vi cạnh
tranh bị kết luận là không lành mạnh và cần phải ngăn chặn khi nó gây thiệt hại hoặc
có khả năng gây thiệt hại cho các đối tượng khác.
Về đối tượng chịu thiệt hại, dễ thấy hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể
tác động đến nhiều đối tượng khác nhau tham gia thị trường khác nhau, trong đó hai
nhóm cơ bản là các đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng. Luật Cạnh tranh Việt Nam
có đưa thêm một đối tượng có thể bị xâm hại là Nhà nước, tuy nhiên đối tượng này
không mang tính tiêu biểu, không phổ biến trong quy định về cạnh tranh không lành
mạnh của nhiều quốc gia, do chỉ có thể đặt vấn đề bảo vệ lợi ích của Nhà nước trước
loại tài sản đặc biệt, nó vô hình, đó cũng là điểm đặc trưng dễ phân biệt nó với các
loại tài sản vật chất khác, như là động sản và bất động sản. Sở hữu trí tuệ là loại hình
sở hữu liên quan đến những mẫu thông tin kết hợp chặt chẽ với nhau trong những vật
thể hữu hình xuất hiện trong cùng một thời gian với số lượng bản sao không giới hạn
ở những địa điểm khác nhau trên thế giới. Quyền sở hữu trong trường hợp này không
phải là quyền sở hữu bản thân các bản sao mà chính là thông tin chứa đựng trong các
bản sao đó6.
Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân, bao gồm: quyền tác
giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với
giống cây trồng.
1.2.1.2 Khái niệm về quyền sở hữu công nghiệp
Thuật ngữ “sở hữu công nghiệp” đôi khi bị hiểu nhầm là sở hữu động sản hay
bất động sản được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, ví dụ như nhà xưởng, máy
móc hay thiết bị sản xuất. Thực ra, sở hữu công nghiệp là một loại hình của quyền sở
hữu trí tuệ, chỉ lĩnh vực pháp lý bảo hộ quyền sở hữu đối với các thành quả nghiên
cứu triển khai có thể áp dụng công nghiệp. Cụ thể tại khoản 4 Điều 4 Luật Sở hữu trí
tuệ năm 2005 nêu rõ: “Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối
với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn
hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở
hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”.
Có thể thấy rằng, pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp bảo hộ cho nội dung
sáng tạo và uy tín kinh doanh nằm bên trong các đối tượng được bảo hộ, chứ không
phải là các tài sản hữu hình đang chứa đựng các đối tượng đó. Cái mà pháp luật về
quyền sở hữu công nghiệp muốn hướng đến bảo vệ không phải đơn giản là dấu hiệu
đính kèm trên một bộ quần áo hay đường nét hình học của một biểu tượng kinh
doanh, đối tượng thật sự được quan tâm chính là các tài sản vô hình tồn tại đằng sau
những thứ đó, đó là thành quả lao động sáng tạo, tạo lập uy tín trên thương trường
của chủ sở hữu các đối tượng trên. Đối với một số đối tượng bảo hộ như nhãn hiệu
hàng hóa, tên thương mại hay chỉ dẫn địa lý, ta thấy khía cạnh sáng tạo về mặt trí tuệ
6
với hàng hoá của doanh nghiệp khác”. Như vậy, nhãn hiệu hàng hóa nói chung là
dấu hiệu nhằm phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh
nghiệp khác. Nó có thể bao gồm từ ngữ, hình khối, màu sắc hay là sự kết hợp của
những yếu tố đó.
Trong mọi trường hợp, mục đích của việc bảo hộ nhãn hiệu không phải là những
dấu hiệu ghi trên nhãn sản phẩm, mà là những thông tin được thể hiện thông qua nhãn
hiệu đó, ví dụ như xuất xứ, chất lượng hàng hóa, uy tín,… Đó cũng là đặc điểm dùng
để phân biệt nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hàng hóa. Và cũng cần thiết phải phân biệt
nhãn hiệu và thương hiệu. Khác với nhãn hiệu – một khái niệm pháp lý, thương hiệu
là một khái niệm thương mại, bao gồm rất nhiều yếu tố tạo nên hình ảnh của một
công ty và các sản phẩm của nó. Nhãn hiệu chỉ là một trong những hình thức thể hiện
ra bên ngoài của thương hiệu, cùng với các yếu tố khác như kiểu dáng công nghiệp,
quyền tác giả (về mặt pháp lý); truyền thông, quảng cáo hay marketing (về mặt
thương mại). Bên trong của thương hiệu còn có các yếu tố khác như đặc tính của
doanh nghiệp, chiến lược phát triển sản phẩm, khả năng định vị của sản phẩm trong
7
TS. Lê Xuân Thảo, Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ, Nxb. Tư pháp, 2005, tr.15.
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân
Trang 15
SVTH: Nguyễn Lý Hồng Nhung
Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
tâm trí người tiêu dùng. Khi nói “chiến lược xây dựng thương hiệu” là nói đến những
giải pháp tổng thể, chứ không chỉ là việc thiết kế hay đăng ký nhãn hiệu8.
định TRIPS - Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu
trí tuệ ( năm 1994): “Chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về hàng hoá bắt nguồn từ lãnh
thổ của một thành viên hoặc từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất
8
TS. Lê Nết, Quyền sở hữu trí tuệ, Nxb. Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2006, tr.85.
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân
Trang 16
SVTH: Nguyễn Lý Hồng Nhung
Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định.” Các chỉ
dẫn này phải được thể hiện trên hàng hóa, bao bì hàng hóa hay giấy tờ giao dịch liên
quan nhằm chỉ dẫn nguồn gốc hàng hóa. Nhờ sự thể hiện này mà người tiêu dùng có
thể nhận biết và lựa chọn những sản phẩm phù hợp với thị hiếu của mình và điều này
đồng nghĩa với việc mang lại lợi nhuận cho nhà sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ9.
Cũng chính vì sự hữu dụng ở khả năng phân biệt, tính truyền dẫn thông tin và giá trị
thương mại mà chỉ dẫn địa lý cần phải được bảo hộ ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế,
để đảm bảo tính trung thực trong việc sử dụng các thông tin chỉ dẫn.
Tại khoản 22 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 định nghĩa: “Chỉ dẫn địa lý là dấu
hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay
quốc gia cụ thể.” Các dấu hiệu dùng để thông tin về chỉ dẫn địa lý có thể là từ ngữ,
hình ảnh, biểu tượng... mà từ đó, người mua có thể liên tưởng về các hàng hóa, dịch
vụ với những đặc tính, chất lượng mà chỉ vùng địa lý đó có được.
Một dạng đặc biệt của chỉ dẫn địa lý là tên gọi xuất xứ hàng hóa. Nó có sự khác
biệt cơ bản so với chỉ dẫn địa lý. Việc sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hóa đòi hỏi có sự
Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
kinh doanh. Khu vực kinh doanh quy định tại khoản này là khu vực địa lý nơi chủ thể
kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng.” Theo đó, tên thương mại
phải là tập hợp các chữ, số, phát âm được và có nghĩa. Nó bao gồm hai phần: phần
mô tả và phần phân biệt. Phần mô tả là tập hợp các từ có nghĩa để thông tin tóm tắt về
loại hình kinh doanh. Phần mô tả bao gồm các chữ cái (hoặc chữ số) phát âm được,
có nghĩa hoặc không có nghĩa. Ví dụ: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn thương
tín (Sacombank), trong đó, “Ngân hàng thương mại cổ phần” là phần mô tả, “Sài Gòn
thương tín” là phần phân biệt.
Tên thương mại thường là tên của doanh nghiệp, được sử dụng trên bảng hiệu
của doanh nghiệp, nhưng không nhất thiết được đăng kí bảo hộ, đó là một trong
những điểm khác biệt của tên thương mại so với nhãn hiệu. Hai đối tượng này có
những điểm khác nhau nhưng cũng có những điểm trùng lặp nên dễ gây ra sự nhầm
lẫn trong việc phân biệt chúng. Trong khi tên thương mại là tên gọi thì nhãn hiệu lại
là những dấu hiệu. Tuy nhiên, sự phân biệt này chỉ mang tính tương đối. Trong một
số trường hợp, tên thương mại là tên giao dịch của doanh nghiệp được đăng kí trong
giấy đăng kí kinh doanh, còn nhãn hiệu là những sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp
cung ứng cho thị trường. Nhưng cũng có trường hợp tên thương mại và nhãn hiệu chỉ
là một, khi mà doanh nghiệp lấy tên gọi của mình làm tên cho sản phẩm, dịch vụ
nhằm thông tin đến người tiêu dùng và phân biệt với các đối thủ cạnh tranh khác.
Và như đã nói ở trên, tên thương mại mặc nhiên được bảo hộ khi nó đáp ứng
đầy đủ các điều kiện đã được quy định mà không cần làm thủ tục đăng kí, nhưng
nhãn hiệu thì ngược lại (trừ trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng). Xét theo một góc độ nào
đó, phạm vi bảo hộ của tên thương mại hẹp hơn so với nhãn hiệu (được bảo hộ trên
toàn quốc). Vì phạm vi này còn phụ thuộc vào khu vực kinh doanh của doanh nghiệp
có tên thương mại đó, nơi mà doanh nghiệp có bạn hàng, khách hàng hoặc uy tín
riêng. Nhưng nếu khu vực kinh doanh của doanh nghiệp rộng khắp trên toàn quốc thì
phạm vi bảo hộ của tên thương mại vẫn tương đương nhãn hiệu.
1.2.2.4 Bí mật kinh doanh
trò quan trọng trong quy trình sản xuất, kinh doanh, tạo ra sản phẩm, dịch vụ. Dựa
vào thông tin bí mật này mà doanh nghiệp có được nhiều ưu thế cạnh tranh hơn trên
thị trường so với những đối thủ cạnh tranh khác, ví dụ như công thức riêng tạo nên vị
ngon đặc trưng của món gà chiên KFC hay thức uống Coca-cola nổi tiếng trên toàn
thế giới.
Bên cạnh đó, bí mật kinh doanh cũng có đặc trưng riêng của nó. Không như các
đối tượng khác của sở hữu trí tuệ, thường được đăng kí bảo hộ với Nhà nước và phần
thưởng là quyền độc quyền sử dụng trong một thời gian nhất định, bí mật kinh doanh
thường không được đăng kí bảo hộ. Điều này có lợi ở chỗ là chủ sở hữu có thể giữ
gìn bí quyết đó cho riêng mình và thời gian được độc quyền khai thác là vô hạn định,
chừng nào bí mật đó vẫn còn là bí mật.
1.2.3 Vai trò của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
Hơn hai mươi năm đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
đã chỉ rõ vai trò tích cực của hệ thống pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
Vai trò đó được thể hiện ở những mặt sau:
- Thứ nhất, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đổi mới kĩ thuật sản xuất, khuyến khích
cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế.
Để tạo ra một sản phẩm mới, một phương pháp mới, hoặc một thiết bị mới, cải
tiến một công nghệ cho ra những sản phẩm cũ có chất lượng tốt hơn, năng suất cao
hơn, mẫu mã đẹp hơn, hay việc tạo ra một nhãn hiệu uy tín, được nhiều người tiêu
dùng biết đến thì đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư nhiều tiền của, công sức, thời gian
10
TS. Lê Nết, Quyền sở hữu trí tuệ, Nxb. Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2006, tr.154.
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân
Trang 19
SVTH: Nguyễn Lý Hồng Nhung
Dĩ nhiên, việc đăng kí bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ở nước ngoài là việc
của doanh nghiệp, song việc chỉ đạo, hướng dẫn, khuyến khích và tạo điều kiện để
thực hiện tốt công việc đó cũng là một trong những vai trò của pháp luật bảo hộ sở
hữu công nghiệp.
1.3 Khái quát chung về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
sở hữu công nghiệp
Trong hoạt động kinh doanh, các tổ chức kinh tế hầu như hướng đến mục tiêu
hàng đầu là lợi nhuận của chính mình. Để đạt được mục tiêu, họ có thể sử dụng nhiều
thủ thuật kinh doanh, kể cả đó là bất hợp pháp. Giữa một nền kinh tế thị trường
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân
Trang 20
SVTH: Nguyễn Lý Hồng Nhung
Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
phong phú và đa dạng, sự lựa chọn của người tiêu dùng bắt đầu bằng sự so sánh giữa
hàng hóa của doanh nghiệp này với hàng hóa cùng loại của doanh nghiệp khác. Hàng
hóa nào rẻ nhất, tốt nhất thì sẽ được ưu tiên lựa chọn. Từ đó mà có cạnh tranh. Thông
qua cạnh tranh, người tiêu dùng và cả xã hội được hưởng lợi, vì ai cũng cố gắng để
sản xuất ra những sản phẩm với giá cả rẻ nhất, chất lượng tốt nhất để có được lựa
chọn của người tiêu dùng. Mà một trong những nhân tố tốt nhất để tạo nên ưu thế đó
cho doanh nghiệp chính là quyền sở hữu công nghiệp. Nó là loại tài sản vô hình
chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong khối tài sản của doanh nghiệp, nâng cao giá trị và
sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Điều này dẫn đến một hệ quả là có những doanh
nghiệp không muốn tự vươn lên bằng chính khả năng của mình mà lại tìm cách đánh
cắp thành quả lao động của người khác. Do đó, hành vi cạnh trạnh không lành mạnh
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp trở thành bức xúc của những doanh nghiệp làm ăn
chân chính.
Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
tượng của quyền sở hữu công nghiệp (tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh
doanh).
Năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ ra đời, quy định cụ thể hơn về các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Điều 130, bao gồm các hành
vi sau:
- Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động
kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ;
- Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính
năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện
cung cấp hàng hoá, dịch vụ;
-Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế
có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn
hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử
dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó
không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng;
- Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự
gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ
dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi
dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn
địa lý tương ứng.
Những quy định pháp luật ngày càng đi vào thực tiễn, tạo môi trường hoạt động
lành mạnh cho những doanh nghiệp kinh doanh hợp pháp và bảo vệ người tiêu dùng
khỏi những tác động tiêu cực của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực sở hữu công nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong thời kì công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân
Trang 22
hàng về hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh.
2. Cấm kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn quy định
tại khoản 1 Điều này.”
Từ những quy định trên rút ra được một số đặc điểm như sau11:
- Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi là “doanh nghiệp”. “Doanh nghiệp” ở đây
được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là các tổ chức kinh tế có đăng kí kinh doanh
theo định nghĩa tại khoản 1 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp 2005, mà bao gồm cả tổ
chức và cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài
hoạt động ở Việt Nam (khoản 1 Điều 2 Luật Cạnh tranh).
11
TS. Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, ThS. Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb Tư
pháp, 2006, tr.134 – 137.
GVHD: ThS. Nguyễn Mai Hân
Trang 23
SVTH: Nguyễn Lý Hồng Nhung
Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
- Thứ hai, đối tượng của hành vi xâm phạm là các chỉ dẫn thương mại của hàng
hóa, dịch vụ. Các chỉ dẫn thương mại này có thể là tên thương mại, khẩu hiệu kinh
doanh, biểu tượng kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì, nhãn hàng hóa… Luật
Cạnh tranh không đưa ra định nghĩa hay dấu hiệu gì để nhận biết các đối tượng trên,
do đó, cần phải sử dụng phối hợp với các quy phạm định nghĩa trong các văn bản
pháp luật hiện hành khác có liên quan, để từ đó có cách hiểu thống nhất trong quá
trình áp dụng pháp luật. Hiện nay, định nghĩa về tên thương mại, chỉ dẫn địa lý được
ghi nhận trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005, các đối tượng còn lại là nhãn hàng hóa, biểu
Trang 24
SVTH: Nguyễn Lý Hồng Nhung
Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
biết thực tiễn của mình mà tính toán cho được sai số của sự khác biệt trên có còn nằm
trong khoản hợp lý, hay là đã vượt mức đó, đã đủ khả năng gây ra sự nhầm lẫn cho
người tiêu dùng.
Bên cạnh việc làm rõ các yếu tố vừa nêu, còn một vấn đề cũng cần được giải
quyết, đó là liệu một chỉ dẫn thương mại chưa được đăng kí quyền sở hữu trí tuệ thì
có được bảo hộ trước các hành vi xâm phạm hay không? Theo người viết, một chỉ
dẫn thương mại chỉ được bảo hộ khi nào nó thuộc về sở hữu hợp pháp của doanh
nghiệp (hoặc đã được đăng kí bảo hộ) và thỏa các điều kiện khác thì nó mới thuộc đối
tượng mà Luật Cạnh tranh điều chỉnh. Kinh nghiệm áp dụng pháp luật ở các nước
cũng cho thấy rằng, pháp luật chỉ chống lại những chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn
khi sản phẩm chính hiệu là có thật, được Nhà nước công nhận và những sản phẩm giả
mạo kia đang tìm cách thay thế hay gây nhầm lẫn cho khách hàng12.
2.1.1.2 Điều chỉnh theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005
Hành vi chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn được đề cập tại điểm a và b khoản 1
Điều 130 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005:
“a) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động
kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ;
b) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính
năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện
cung cấp hàng hoá, dịch vụ.”
Đồng thời khoản 2 và 3 tại cùng điều luật cũng như các quy phạm định nghĩa
của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã làm sáng tỏ hơn dấu hiệu nhận biết các đối tượng bị
xâm phạm và các hành vi xâm phạm, bổ khuyết cho những quy định có liên quan của
Luật Cạnh tranh 2004.