Tìm hiểu một số quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004 và khả năng áp dụng trong thực tiễn - Pdf 12

TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
QUẢN
TRỊ
KINH
DOANH
POREIQN
TRÀM
(1NIVERHTY
KHOA
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
SĐètài:
TÌM Hiếu MỘT SỐ QUY
ĐỈNH
vế HÀNH
VI
CẠNH TRANH

' í "
KHÔNG LÀNH
MẠNH
TRONG
LUẬT CẠNH TRANH Vỉệr NAM

• • *

HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA QUẢN
TRỊ
KINH
DOANH
POREIGN
TRADE
ÍINIVERSI1Y
KHÓA
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
Đê tài:
TÌM HIỂU MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH
MẠNH
TRONG
LUẬT
CẠNH TRANH
VIỆT
NAM
NĂM
2004
VÀ KHẢ
NÂNG ÁP
DỤNG TRONG THỰC
TIỄN
Sinh

không lành
mạnh
4
ì. Khái
niệm
về
cạnh
tranh
4
li.
Khái
niệm
về hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
7
Ì. Khái
niệm
hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
7
2.
Bản

17
III.Tình hình
cạnh
tranh
không lành
mạnh

Việt
Nam 20
Chương li: Quy định về hành vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
của Luật
Cạnh
tranh Việt
Nam năm
2004
32
ì.
Thực
trạng
pháp
luật
chống cạnh
tranh
không lành
mạnh


cấu
Luật
Cạnh
tranh Việt
Nam năm
2004
41
HI.
Phân tích một
số quy
định
về
hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
trong
Luật
Cạnh
tranh Việt
Nam năm
2004
46
1.
Chỉ
dẫn
thương
mại

không lành
mạnh
53
7.
Khuyến mại
nhm
cạnh
tranh
không lành
mạnh
56
li
8. Phân
biệt
đối xử của
hiệp
hội 58
9. Bán hàng đa
cấp
bất
chính 59
10.
Các hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
khác 62
IV.

chung,
khó áp
dụng
trong
thực
tiễn
64
2.
Một
số quy
định còn chưa hợp
lý,
khiến
việc
áp
dụng
gặp
nhiều
khó khăn 66
3. Cơ
quan
có trách
nhiệm
thụ lý,
giải
quyết
các vụ
việc
liên
quan

khả
năng áp
dụng
Luật
trong
thực
tiễn
68
T- ỵ\v^

úi Mi
Chương
ni:
Một
số
giải
pháp để
vận dụng

hiệu
quả các quy định về
hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
trong
Luật
Cạnh

hiệu
quả các quy định về hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
theo Luật
Cạnh
tranh Việt
Nam
năm
2004
73
Ì. Nhóm các
giải
pháp
về
phía Nhà nước 73
2.
Nhóm
giải
pháp
về
phía
doanh
nghiệp
81
3. Nhóm các
giải

hướng

hội
chủ
nghĩa,
chủ động
hội
nhập
kinh
tế với
khu vực và
thế
giới
được
coi
là một
trong
những
bước
chuyến
đột
phá của công
cuộc
đổi
mới do
Đảng
và Nhà nước
ta
khởi
xướng,

chế
thị
trường,
chúng
ta
cũng
phải thừa
nhận
những
quy
luật,
những
thuộc
tính của
nó.
Trong
đó,
cạnh
tranh
là một quy
luật,
là thuộc
tính
tốt
yếu.
Cạnh
tranh
là động
lực
thúc

nhập
kinh
tế
quốc
tế,
hợp tác
quốc
tế
về
pháp
luật,
chính sách
cạnh
tranh
và pháp
Luật
Cạnh
tranh
luôn là
những
vốn
đề được
quan
tâm. Việc
xây
dựng
pháp
luật
về
cạnh

riêng
có tầm
quan
trọng
đặc
biệt
nhằm
cải
thiện
môi trường pháp lý,
khuyến
khích hơn nữa các
hoạt
động đầu
tư, sản xuốt
kinh
doanh
của
các chủ
thể kinh tế trong
và ngoài nước.
Luật
Cạnh
tranh
Việt
Nam năm 2005
ra đời thể
hiện
nỗ
lực

Luật
Cạnh
tranh
là một văn bản
thống nhốt
điều chính
nhũng
vốn đề liên
quan
đến
cạnh
tranh

kiểm
soát độc
quyền

Việt
Nam. Để có thêm
những
hiểu
biết
về
lĩnh
vực
này,
người
viết
đã
lựa

"
làm khóa
luận
tốt
nghiệp
của
mình.
2.
Mục đích nghiên cứu
- Tim
hiểu
những
quy định về hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
theo
Luật
Cạnh
tranh Việt
Nam năm
2005.
Qua đó đánh giá
những
đóng góp và
hạn
chế của nhũng
quy định này.

những
quy định
chống
hành
vi cạnh
tranh
không lành
mạnh
nói
riêng
trong
thực
tế.
3.
Đỏi
tường
và phạm
vi
nghiên cứu
- Đối tượng
nghiên
cứu: Đối tường
nghiên cứu của
khoa
luận
này là
những
quy định về hành
vi
cạnh

của
mình
đối với
những
quy định
về
hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
theo Luật
Việt
Nam
2005
và khả năng áp
dụng
trong
thực
tiễn
những
quy định này dựa trên
việc
phân tích
những
quy định cùa
Luật
và so sánh
với Luật

quan
điếm
chỉ
đạo
của
Đảng,
Nhà nước
ta
về phát
triển
kinh
tế,
xây
dựng
nhà nước pháp
quyền

hội
chủ
nghĩa

hội
nhập quốc
tế
cũng
trở
thành một
phần
không
thể

Cạnh
tranh Việt
Nam năm
2005
với
Luật
Cạnh
tranh
của Pháp và liên
minh
Châu Âu,
Luật
Chống
cạnh
tranh
không lành
mạnh
của
Bungary,
để
thấy
được
những
điểm
hợp lý và
hạn chế
Luật
Cạnh
tranh
2005.

đạo
luật
này.
5.
Bố
cục của khoa
luận.
Nội
dung của khoa
luận
được
chia
thành ba chương như
sau:
Chương
ì:
Khái quát
chung
về
cạnh
tranh
và hành
vi
cạnh
tranh
không
lành
mạnh
Chương
li:

Cạnh
tranh Việt
Nam năm
2005
Với
sự phân tích dựa trên tình hình
thực
tế

tham khảo
từ
những
nghiên cứu của
những
nhà nghiên cứu
trong
lĩnh
vực
luật
cạnh
tranh,
người
viết
hy
vọng
đề
tài của
mình
phần
nào

của mình
tới
các
thầy,
cô giáo
trong
khoa
Quản
Trị
Kinh
Doanh,
đặc
biệt
là sự
hướng
dẫn
tận
tình
của
cô giáo
-
Thạc
sỹ Hồ Thúy Ngọc đã giúp đỡ em hoàn thành bài
khoa
luận
này.
Em
xin
trân
trọng

nhũng
phát
minh vĩ
đại
nhất
trong lịch
sử phát
triển
của
văn
minh
nhân
loại
khi
con
người
đã
phải
trải
qua
sỉ
thống
trị
của
kinh tế tỉ
nhiên luôn
làm
cho xã
hội
vận động chậm

kinh tế
nào

hiệu
quả
hơn
kinh tế thị
trường vì

luôn
hàm
chứa
trong
mình
những
thách
thức
đối
với
sỉ
nhạy
bén

sáng
tạo
của
con
người
thông qua môi trường
cạnh

triển
nội
tại
của
mỗi nền
kinh tế
chỉ
xuất hiện

tồn
tại
trong
điều
kiện
của
kinh tế thị
trường.
Điếu
cần
nhấn
mạnh
là,
cạnh
tranh
chỉ
xuất hiện với
đặc
trung
là động
lỉc

thay đổi
của
người
tiêu dùng. Cạnh
tranh
cũng chỉ
hiện
thân
với
đặc trưng là động
lỉc
thúc đẩy
lỉc
lượng
sản
xuất

hội
phát
triển
nhằm
nâng cao năng
suất lao
động,
đẩy
nhanh
quá trình tích
tụ

tập trung

cuộc
đua
tranh trong
một
ngành,
một
lĩnh
vỉc
kinh tế
nào
đó
khi
có sỉ
tham
gia
cùa các chủ
thể kinh
doanh

lợi
ích cơ bản

máu
thuần
nhau.
Những phân tích trên đây đã
cho
phép
kết luận
rằng,

vật
chất,
giá
cả là
diện
mạo và
cạnh
tranh

linh
hổn
sống
của
thị
trường.
1
Thông
qua sự
phân tích

sở
kinh
tế

pháp

của
hiện
tượng
cạnh

này
cũng

giải
tính không
thống
nhất
trong
các
định
nghĩa
về
cạnh
tranh
đặc bịêt
là vế
phạm
vi
của
thuật
ngữ này.
Với
cách
tiếp
cận
cạnh
tranh

thủ
pháp của

kình địch giữa
các
nhà
kinh
doanh
trên
thị
trường
nhằm
tranh giành
cùng một
loại
tài
nguyên
sản
xuất
hoặc cùng một
loại khách
hàng về
phía
mình
".
Cục
chống
Tờ-rớt thuộc
Bộ Tư
pháp
Mỹ
dụng
định

các đòi hỏi
của
các
thị
trường
quốc
tế,
đồng
thời
duy
trì
và mở
rộng
thu
nhập
thực
tế của nhăn dân nước đó "}
Báo
cáo về
cạnh
tranh
toàn cầu định
nghĩa cạnh
tranh
đối với
một
quốc
gia
là:
"Khả năng của nước đó

nghiệp
của
Tổ
chức
hợp tác

phát
triển
kinh
tế
(OECD)
đã
chọn
định
nghĩa
về
cạnh
tranh
kết
hợp cả các
doanh
nghiệp,
ngành,
quốc gia
như
sau:
"Khả năng của các doanh
nghiệp,
1.
TS.

Competitivness
and
development
(TDB-C0M2.
Intergovemmental
Group
of
Experts
ôn
Competiĩion
Law and
Policy.
4
,h
session,
3-5
July2002),
Aprỉl
2002.
www.unctad.org
Nguyễn Hống Hạnh
-
A4 K40B
-
QTKD
Khóa
luận
tốt
nghiệp
-fi-

là "cố gắng
giành
phẩn
hơn,
phần
thắng
về
mình
giữa
những
người,
những
tổ
chức nhằm
những
lợi ích
như
nhau".
Qua các khái
niệm
trên có
thể
nhận
thấy
một
điếm
chung là cạnh
tranh
là sự
chạy

quan
nhằm không
ngừng
tung
ra thị
trưẻng
những
sản
phẩm có giá
trị tốt
nhất
với
giá cả
rẻ
nhất
nhằm
lôi
kéo khách hàng về phía
mình.
Nếu nhìn
từ
phía các chủ
thể
kinh
doanh, cạnh
tranh
là phương
thức
giải
quyết

bên
trong
thúc đẩy nền
kinh tế
phát
triển.
Điều
cần
nhấn
mạnh
là,
cùng
với
mục
đích
tối
đa hóa
lợi
nhuận
của các
doanh
nghiệp,
cạnh
tranh
đã thúc đẩy quá
trình tích
tụ

tập trung


nghi
được
với
các
điều
kiện
của
thị
trưẻng.
Cho đến
những
năm
cuối
của
thế
kỷ này, hầu
hết
các nước có nền
kinh tế thị
trưẻng đều đã có pháp
Luật
Cạnh
tranh
và sử
dụng
chúng như
một
công cụ
khuyến
khích và bảo đảm

muốn

nếu một
ngưẻi
bán không
cung
cấp
cho họ cái họ
muốn
thì sẽ
luôn luôn có
ngưẻi
khác
sẵn
sàng làm
điều
đó.
4. Mục 29,
"Glossary
of
Industrial
organỉzation
economics
anđ
competition
law", the
OECD.
www.oecd.org
5.
Từ điên

thấp nhất

thể.
Trong
môi trường
cạnh
tranh,
không
ai

thể
bóc
lột
người
tiêu dùng
vi
luôn có một số
đối thủ
mời chào sản phẩm
với
giá
thấp
hơn.
Giá cả
trong

chế
thị
trường nhìn
chung bằng

và các hãng áp
dụng
công
nghệ
mới sẽ có khả
năng
chiếm
được
phẩn
lớn thị
trường do bán
rẻ
hơn so
với
các
đối
thủ cạnh
tranh
của họ.
Thứ
tư, tạo
sức
ép,
buộc
các
doanh
nghiệp phải
sử dụng

hiệu

1.
Khái
niệm
hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
Tự do
cạnh
tranh
là quyền của doanh
nghiệp
được
luật
pháp
ghi
nhận.
Để
được
Nhà
nước
bảo
hộ,
hoạt
động
cạnh
tranh phải
tuân

chất
là sự
ganh
đua
giữa
các
doanh
nghiệp trong việc
giành
một
nhân
tố
sán
xuất
hoặc
khách hàng nhằm nâng
cao
vị thế
của
mình trên
thị
trường
để
đạt
một mục tiêu
kinh
doanh
cụ
thể,
cạnh

hóa.
Để
đạt
được
mục tiêu
của
mình,
trong
quá trình
đó,
doanh
nghiệp

khả
năng sáng
tạo
rất
nhiều
cách
thức
ganh
đua khác
nhau,
tạo ra
tình
trạng
cạnh
tranh

những

những
hạn
chế hoặc chế ngự
được
hoàn toàn
thị
trường.
Xét
từ
phương
diện
này
(từ
mức độ
cạnh
tranh
cao hay
thấp),
cạnh
tranh
được
chia
thành
hai
loại
là cạnh
tranh
hoàn toàn và
cạnh
tranh

thấp

phản
ánh khía
cạnh
đạo đức
trong kinh
doanh
của
những
người
tham
gia thị
trường.
Thông
thường,
đỉ xác định một
doanh
nghiệp

khả
năng
cạnh
tranh với
doanh
nghiệp
khác hay
không,
phái căn cứ
vào

cạnh
tranh
bằng
các
biện
pháp
thiếu
trung
thực,
giả dổi
như:
quảng
cáo
thổi
phổng những
đặc tính hữu
ích,
chất
lượng
cao hơn
thực
tế đạt
được,
nói
xấu,
gièm pha
chất
lượng
hàng
hóa,

lợi
ích
của
các nhà
kinh
doanh
khác,
lợi
ích
của
người
tiêu dùng và
lợi
ích của xã
hội"
6
.
Trong
nhiều
tài
liệu,
khái
niệm
cạnh
tranh
không lành
mạnh,
cạnh
tranh bất
chính,

mạnh,
gây
cản
trở
hoạt
động
kinh
doanh của
thương nhân
khác.
Tuy
nhiên,
thuật
ngữ
cạnh
tranh
không lành
mạnh
được
sử
dụng
phổ
biến

"bất
chính" hay
"bất
hợp
pháp" đều không bao quát
được

Đặng
Vù Huân. Pháp
luật
về kiểm
soái
độc quyền và cạnh
tranh
không
lành
mạnh ớ
Việt
nam, Nxb.
Chinh
trị
Quốc
gia,
Ha
Nội,
2004,
tr.
30-31.
Nguyễn Hồng Hạnh
-
A4 K40B
-
QTKD
Khóa luận
tốt
nghiệp
-9-

điển)
chỉ
đơn
thuần

những
hành
vi
cạnh
tranh
nhẩm
trực
tiếp
vào
đối thủ
cạnh
tranh
đi ngược
lại
các giá
trị
đạo đức và
tập
quán
kinh
doanh
truyền
thống
như: nói
xấu,

mạnh
bao
gồm
tất
cả hành
vi
nào xâm
hại
tới
hoạt
động
cạnh
tranh
trên
thị
trường,
xâm
hại tới
quyền tự
do
cạnh
tranh
công
bẩng
của các
doanh
nghiệp.
Theo
cách
quan

mạnh"
8
.
Cạnh
tranh
không lành
mạnh
là một
dạng
của hành
vi vi
phạm pháp
luật.
Do mỗi hành
vi vi
phạm pháp
luật
đều có cơ chế xử lý
riêng.
Hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
cũng

loại
hành
vi

là một vấn đề
rất
quan
trọng
về mặt chính
sách.
Nói
chung,
về nguyên
tắc,
ngoài các quy định nêu
trong
Công ước
Paris
năm
1883,
các
quốc
gia
tùy
điều
kiện,
hoàn
cảnh,
nhu
cẩu
cụ
thể
của
nước mình mà xác định hành

trình
thực
hiện
các
hoạt
động
kinh
tế
trái
với
các
tập
quán thương mại công
bẩng
và xâm phạm
hoặc
có khả năng xâm phạm
tới lợi
ích
của
đối thủ
cạnh
7.
Viện
nghiên
cứu Nhà
nước

pháp
luật,

Khóa
luận
tốt
nghiệp
-
10-
tranh
trong
mối
quan
hệ
giữa
họ
với
nhau
hoặc
trong
mối
quan
hệ
giữa
họ
với
công chúng"
10
.
Tại
Hoa Kỳ,
"cạnh
tranh

Hoa Kỳ
12
, các
hành
vi
được
coi

cạnh
tranh
không lành
mạnh
ớ Hoa Kỳ thường bao gồm
bốn
nhóm hành
vi
sau
13
:
Nhóm 1: Các hành vi gây
rối
các
quan
hệ
kinh
doanh
cỡa đối thỡ
cạnh
tranh
14

người
làm công,
quan
hệ
với
khách hàng,
quan
hệ
với
nhà
cung
cấp nguyên
vật
liệu).
Nhóm 2: Các hành
vi
gây nhầm lân
trong
chỉ dẫn về sản phẩm,
dịch
vụ

doanh
nghiệp
(ví dụ như sử
dụng
tên thương mại
hoặc
thương
hiệu

hiện
các hành
vi
định giá,
khuyến
mãi có tính gây
thiệt
hại
1
(quảng
cáo
gian
dối
19
,
các hành
vi
khuyến
mại
gian dối, hối lộ
khách
lo.
www.unctad.org
11.
Xem:
Patricia
V.
Norton
-The
effect

Paris
Conveniion
ôn
American
unfair
compelition
law -
Forđham
Law
Revievv.
October 1999.
P- 228-
229).
13.
Xem:
Charles
R.
McManis: Uníair Trade
Practices,
Wesi
Publishing
Co
-
1988
14. Nguyên
vãn
"interference
with
prospective
and

đoạt
các
quan
hệ bí mật.
18. Nguyên
vãn
"ỉnjurious
promotỉonal
and
pricing
practices".
19. Nguyên
vãn
"đeceptive
advertising".
Nguyên Hồng Hạnh
-
A4 K40B
-
QTKD
Khóa
luận
tốt
nghiệp
-
li
-
hàng
bán hàng
dưới

mạnh
năm 1934 (đã được
sửa
đổi
để mở
rộng
loại
hành
vi
bị
coi

hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
vào các
năm
1938, 1950, 1990,
1993 và
lần
sửa
đổi
gần đây
nhất
vào năm
2001).
Loại

hiệu
hoặc
các dấu
hiệu
khác cho
sồn
phẩm,
dịch
vụ
hoặc doanh
nghiệp
gây nhầm
lẫn với
sồn phẩm,
dịch
vụ
hoặc doanh
nghiệp nổi
tiếng
khác; sử
dụng chỉ
dẫn gày nhầm
lẫn);
Nhái
kiểu
dáng,
mẫu mã
thiết
kế
sồn

trái phép thương
hiệu
của
doanh
nghiệp
ở nước
ngoài;
sử
dụng
sai lệch
cờ,
biểu
tượng
của nước ngoài
hoặc
các
tổ
chức quốc
tế.
Ngoài
ra,
pháp
luật
Nhật
Bồn còn
coi
một
số
hành
vi

mại
bất
hợp pháp
(chẳng
hạn, tặng
không hàng hóa cho
người
tiêu dùng
với
lượng
quá
lớn)
cũng

thể
xếp vào
loại
hành
vi cạnh
tranh
không lành
mạnh
(hoặc
không công
bằng)
mặc dù các hành
vi
này không
được
quy định

L.442-6)
với
các
nội
dung
về căn bồn là
giống
các
quy
định về
cạnh
tranh
không lành
mạnh
trong
Luật
Cạnh
tranh
Việt
Nam
20. Nguyên vãn "sales belovv cost".
21. Nguyên
vãn
"unreasonably
low
prices".
22. Nguyên
vân
"price
điscrimination".

doanh
truyền
thống
mà không báo trước một
thời
gian
hợp

với đối
tác
cũng
là hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
- đây là một
điểm
khác
biệt
so
với
Luật
Cạnh
tranh
của
Việt
Nam.
Tại

nổi
tiếng
24
;
xâm phạm

mật
kinh
doanh; quảng
cáo so sánh
25

Tại
Trung
Quốc,
theo Luật
Chống
cạnh
tranh
không lành
mạnh
năm
1993, cạnh
tranh
không lành
mạnh
được
hiếu
là các
hoạt

Luật
Chống
cạnh
tranh
không lành
mạnh
năm 1993 của
Trung
Quốc đã
luật
hóa các quy định
tại
Điều
lObis
của Công ước
Paris
về bảo hộ
quyển
sở hữu
công
nghiệp
26
.
Theo
cách
quan
niệm
của
Luật
Cạnh

gây
thiệt
hại
hoặc

thể
gây
thiệt
hại
đến
quyền

lợi
ích
hợp
pháp
của doanh
nghiệp
khác
hoặc
người
tiêu
dùng
(Điều
3,
Khoản
4).
Với
định
nghĩa này,

doanh
(iii)
về hậu
quả:
hành
vi
đó gây
Ihiệt
hại
hoặc

thể
gây
thiệt
hại
cho Doanh
nghiệp
khác
hoặc
cho
người
tiêu dùng và
được
cụ
thể

10 hành
vi
sau:
23.

không lành
mạnh
của
Đức.
25.
Xem:
Đãng

Huân,
Luận
án
Tiến

luật
"
Pháp
luật
về
kiểm
soát độc
quyền

chống cạnh
tranh
không
lành
mạnh ơ
Việt
Nam".
2002.

-
A4
K40B
-
QTKD
Khóa
luận
tốt
nghiệp
- 13-
Chỉ dẫn gây nhẩm
lẫn
Xâm phạm

mật
kinh
doanh
Ép
buộc
trong kinh
doanh
Gièm pha
doanh
nghiệp
khác
Gây
rối
hoạt
động
của doanh

khác
theo
tiêu chí xác
định
tại
khoản
4
Điều
3
Luật
Cạnh
tranh
do Chính phủ quy định
Trong bối
cảnh
điều
kiện kinh
tế,
kinh
nghiệm
lập
pháp và
thực
thi luật
như
Việt
Nam, phạm
vi
các hành
vi

"cạnh
tranh
không lành
mạnh"

thể
còn có
phần
khiên
cưỡng.
2.
Bản
chất
của hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
Xét
tự
giác độ
doanh
nghiệp,
bản
chất
hành
vi
cạnh
tranh

ưu
thế
cạnh
tranh
giả tạo.
Trong
quy
luật
cạnh
tranh
"mạnh
được
yếu
thua",
các phương
thức
cạnh
tranh
không lành
mạnh
đã được sử
dụng
nhằm tăng
cường
khả năng
chiến
thắng
trong
cạnh
tranh

Khóa
luận
tốt
nghiệp
-
14-
cạnh
tranh
đã
phải
đẩu tư
rất
nhiều
công sức mới có
được)
hoặc
hành
vi
nhái
nhãn mác,
kiểu
dáng, thương
hiệu,
tạo
sự nhẩm
lẫn
trong
khách hàng gây
thiệt
hại

khác
khiến
cho
đối thủ
cạnh
tranh
bị mất uy
tín,
mất
thừi
gian
công sức để xử
lý các vấn đề mới phát
sinh
cũng
gây ảnh
hưởng
trực
tiếp
cho
đối thủ
cạnh
tranh.
Hành
vi
tạo ưu
thế cạnh
tranh
giả tạo
thông qua

hiện
3
loại
hành
vi
ké trên là một "con
đưừng
tắt"
để
chiến
thắng
trong
cạnh
tranh.
Doanh
nghiệp thực
hiện
hành
vi cạnh
tranh
không lành
mạnh
chính là các
doanh
nghiệp
"ăn không"
(free riding),
hưởng
thành quả không nhừ các nỗ
lực

nghiệp
làm ăn
chụp
giật,
không chân chính
tồn
tại.
Khi đó, củ
ngưừi
tiêu dùng và xã
hội
sẽ bị
thiệt
hại.
Chính vì
thế,
pháp
luật
phái lên án,
trừng trị
các
doanh
nghiệp
có các hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh.
3.

tác động tiêu cực

tiêu
biểu

những
tác động tiêu cực
do
những
hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
gây
ra.
Chúng
ta

thể
dễ dàng
thấy
được
những
hành
vi
như bán hàng đa cấp bất chính,
quảng
cáo nhằm

Nam: một sớ
vấn
dể lý
luận

thực
tiễn".
Nguyền Hống Hạnh
-
A4
K40B
-
QTKD
Khóa
luận
tốt
nghiệp
-
15
-
cạnh
tranh
không lành
mạnh,
gièm
pha,
bôi nhọ uy tín của
doanh
nghiệp
khác

tiêu dùng nói riêng.
Như đã phân tích ở
trên,
cơ chế
thị
trường đòi
hỏi
các chú
thế
kinh
doanh
phải
định
hướng
theo
các
điểu
kiện
của
thị
trường,
được
thể
hiện
thông
qua
các
điều
kiện
của

ưu,
phân bổ
các
nguồn
lực,
đám bảo
việc
sử
dụng

hiệu
quả các
nguồn
tài nguyên,
lao
động
và các
nguồn vốn
khác,
sức
ép
cạnh
tranh

một động
lực
thúc đổy công
nghệ
phát
triển.

mạnh
như làm hàng
nhái,
nói
xấu,
gièm
pha,
quáng cáo
lừa
dối
thì
hoạt
động
cạnh
tranh
trên
thị
trường sẽ không còn
thực
hiện
vai
trò là động
lực
thúc đổy săn
xuất,
công
nghệ
phát
triển
nữa.

tổy
chay.
Hậu quả
tất
yếu là hạn chế
sự
nghiên cứu phát
triển
sán phổm,
đổi
mới
quản lý,
áp
dụng
các
tiến
bộ của
khoa
học
kỹ
thuật
vào sán
xuất.
(2)
Xàm
hại
lợi
ích
cùa
người tiêu

vi
cạnh
tranh
không
lành
mạnh
thì sẽ
xâm
hại
ngay
lập tức
tới lợi
ích
của
người
tiêu dùng.

luận
và báo chí
gần
đây đã
phản ánh,
hình
thức
bán hàng đa
cấp
gây
nhiều
tác
hại

được cả về mặt đạo đức và
pháp luật. Những
người
làm đại lý bán hàng đa cấp
phởn
lớn chỉ
quan
tâm đến
lợi
nhuận,
số hoa
hồng
được hưởng,
hoặc
muốn gỡ lại
tiền
sau khi trót mua
hàng với giá quá cao. Vì vậy, họ không cởn biết đến
chất
lượng, độ an toàn
của sản
phẩm
và dề có tính lừa đảo,
gian
dối. Do đó, lợi ích của
người
tiêu
dùng bị xâm hại rất nghiêm trọng.
Trong
"cuộc

người
tiêu dùng. Những "vị trọng tài
khách
quan"
này đang bị chi phối bởi
những
"món quà" vật
chất
đởy hứa hẹn
nhưng có lẽ
chẳng
mấy khi
hoặc
không bao giờ đến được tay họ. Người tiêu
dùng
Việt
Nam hiện nay còn đang bị "lừa dối" bởi sự
quảng
cáo không
trung
thực
bởi lượng hàng nhái, hàng giả nhiều vô kể trên thị trường. Những
người
khách hàng "đáng thương" này không thế tự mình xác định một cách chính
xác
chất
lượng hàng hóa đang lưu thông trên thị trường trừ phi sau khi họ đã
sử
dụng
và phái gánh chịu toàn bộ

một
chất
lượng sản
phẩm
cao, một phương
thức
phục
vụ tốt dành cho
người
tiêu dùng nếu các
doanh
nghiệp
cạnh
tranh
lành
mạnh.
Nguyễn Hồng Hạnh - A4 K40B - QTKD
Khóa
luận
tốt
nghiệp
- 17-
(3)
Thâm
hụt
ngân
sách
quốc
gia:
Không

Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến
trật
tự
kinh tế
mà còn đe dứa
trật
tự

hội.
Kèm
theo
đó là sự
tha
hóa
biến chất,
sự
tham
nhũng,
nhận
hối lộ
của các cán bộ nhà nước có
thẩm
quyền.
Đạo đức
kinh
doanh
của
các nhà
kinh
doanh

Phụng
Rõ ràng,
nhiệm
vụ cấp
thiết
đặt ra
là nhà nước
ta
cần
phải
ban hành
những
chính
sách,
quy định đảm bảo một
trật
tự kinh
doanh
trong
nền
kinh tế
thị
trường,
bảo vệ
lợi
ích của Nhà
nước,
người
tiêu dùng và các nhà
kinh

điểm
chung
của
pháp
luật
trên
thế
giới
thì
những hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
gây
tổn hại
đến
lợi
ích của
các
doanh
nghiệp
là đối thủ
cạnh
tranh
trẽn
thị
trường.
Những tác động này có

những
"tập
đoàn"
đầy tiềm
năng và sức
mạnh
kinh
tế,
trước những
thủ
đoạn
cạnh
tranh
không
lành
mạnh.
Những doanh
nghiệp
yếu
thế
không
thể tồn
tại,
những doanh
nghiệp
mới không có cơ
hội gia
nhập
thị
trường

trong
Hiến
pháp sẽ không được đảm bảo
thực
hiện trên
thực
tế.
Hơn nữa, ngành công
nghiệp
sản xuất
trong
nước đang bị đe dọa và có
nguy
cơ "mất trắng" thị
phần
trước sự xâm chiếm của hàng ngoại, của các
doanh
nghiệp
nước ngoài giàu kinh nghiệm lãn tài chính. Sự non trẻ hơn 10
năm kinh
doanh
trong
nền kinh tế thị trường với hểu quả của 30 năm chiến
tranh
và sự lạc hểu của
những
năm bao cấp,
trong
điều
kiện

đổi cõng nghệ, phương
thức
kinh
doanh
tổ
chức
quản

doanh
nghiệp
nhưng
trong
thời
gian
ngắn
và hoàn
cảnh
hiện tại điều đó không
thể xảy ra một cách
nhanh
chóng. Nếu không có sự bảo hộ cho ngành cõng
nghiệp
nội địa có thể tổn tại thì không thể nói tới sự phát
triển
trong
tương lai.
"Bảo hộ" ở đây là sự báo vệ trước
những
thủ đoạn kinh
doanh

doanh
nghiệp
trong
nước có cơ hội đặt "dấu ấn" trên thị trường
Việt
Nam và xa hơn là trên
thế thị trường thế
giới.
Các
doanh
nghiệp
Việt
Nam phải tạo ra được lợi thế
cạnh
tranh
lâu dài, ổn định. Muốn thế, trước hết
hoạt
động sản xuất kinh
doanh
của họ phải được an toàn
trong
một
khung
pháp lý,
trong
"vành đai"
khuôn khổ pháp luểt, chính sách duy trì
cạnh
tranh
lành

kinh
doanh
nước
ngoài thì
bình
thản
trở
thành "ông chủ duy
nhất" khi
phía
Việt
Nam không còn đủ sức
chịu
đựng và
buộc
phải
nhượng
phần
vốn góp của mình.
Tất
nhiên
điều
kiện
chuyển
nhượng là
hết
sức
thấp
và không
thuận

đầu
khởi sọc. Với
tình hình này nếu
chúng
ta
không có
những
biện
pháp
khẩn
cấp, kịp
thời
ngăn
chặn
và xử

các
hành
vi
"chơi
xấu"
này
thì
đến lúc nào đó
Việt
Nam
chỉ
là "sân
sau" của
các

lượng.
Từ
đó,
uy
tín của
doanh
nghiệp sản xuất
hàng
chính hãng sẽ bị
tổn
thất.
Cho dù khách hàng có ý
thức
được
là họ mua
phải
hàng
giả,
hàng nhái
thì
họ
cũng
rất
e
ngại
mua
lại
sản
phẩm
của

Trung
Quốc
với
nhũng
sản phẩm của
nhũng
hãng
nổi
tiếng

nước
ngoài.

theo nhiều
khách hàng
thì
họ
sẽ
chuyến
sang
dùng
sản
phẩm khác mà đảm bảo

hàng chính hãng để tránh
những
rủi
ro
về
hàng

chịu
những
tổn
thất
rất
lớn
do sự
hiểu
lầm của khách hàng, có
thể
dẫn đến tình
trạng
bị khách
hàng
tẩy
chay.
28.
Viện
nghiên cứu Nhà nước và Pháp
luật,
Cạnh
tranh
và xây
dựng
pháp
luật
cạnh
tranh

Việt

kinh
doanh
riêng
của
mình.
Điều
này càng có ý
nghĩa
trong
môi trường
cạnh
tranh

đó chính

một
trong
những
công
cụ,
phương
tiện
bảo vệ
lợi
ích

sự
thành
đạt
của doanh

doanh
nghiệp

theo
đó,
họ có
thể
tiếp
cận
với
tài
liệu
"nội
bộ"để đánh cắp
thông
tin
phục
vụ cho mục đích
riêng
của mình
hoằc
đưa
tin
ra
ngoài.
Hiện
nay,
quan
điếm
của đa số các nhà

bị
coi

vi
phạm. Những hành
vi kiểu
như
vậy
không
những là
không lành
mạnh


nhiều
quốc
gia
còn bị
coi
là hành
vi
phạm
tội
theo
quy định của pháp
luật
hình
sự.
lít.
TÌNH HÌNH

thực
sự
công
khai
và mở
rộng
trong
nền
kinh tế
nước
ta.
Trước
hết,
phải
kế
đến sự
cạnh
tranh
giữa
doanh
nghiệp
Nhà nước
với
doanh
nghiệp
ngoài
quốc
doanh.
Cạnh
tranh

diễn
ra
ngay
giữa
các xí
nghiệp
trong
cùng một ngành,
trong
cùng một
Bộ hay
trong
một địa phương,
trong
cùng một hình
thức
sở
hữu, cạnh
tranh
Nguyễn Hồng Hạnh
-
A4
K40B
-
QTKD
Khóa luận tốt nghiệp
-21 -
giữa hàng nội và hàng ngoại Cạnh
tranh
bắt đầu đưa lại sức

cạnh
tranh
lành mạnh.
Như vậy, động lực để điều
tiết
trong
một nền kinh tế thị trường là sự
cạnh
tranh.
Nếu không có
cạnh
tranh,
sẽ xuất hiện độc quyền và hệ thống kinh
tế
thị trường
hoạt
động sẽ không có hiệu quả. Nếu không có
cạnh
tranh,
người
tiêu dùng không có cách lựa chọn mà phải mua bất cứ giá nào mà
người
sán
xuất đòi hỏi. Nếu không có
cạnh
tranh,
người
sản xuất không có động lực để
áp
dụng

mẫu mã, nâng cao
chất
lượng hàng hoa cho phù hợp với nhu cầu để đứng vững
trong
cạnh
tranh.
Song,
nhũng
khuyết tật vốn có cậa thị trường không thể không bộc lộ
trong
thực
tiễn.
Bên
cạnh
những
kết quả tích cực cậa thị trường hàng hoa
cạnh
tranh
diễn ra một
cuộc
cạnh
tranh
sôi động không cân sức và không bình đẳng
giữa hàng ngoại
nhập
vào với hàng sản xuất
trong
nước. Những yếu tố
cạnh
tranh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status