MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 7
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................................ 8
2. Mục tiêu của để tài ..................................................................................................... 9
3. Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài (phân tích, đánh giá tình hình
nghiên cứu, liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến
đề tài) ........................................................................................................................... 9
4. Đối tương, Phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu ..... 10
5. Hiệu quả (giáo dục và đào tạo, kinh tế - xã hội) và địa chỉ ứng dụng ................ 11
B. NỘI DUNG .............................................................................................................. 12
Chương I: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
CỦA MỘT SỐ NƯỚC TIÊU BIỂU TRÊN THẾ GIỚI .......................................... 12
1.1. Nội dung quy định về cạnh tranh không lành mạnh của Liên minh Châu Âu .... 12
1.1.1. Tổng quan quy định về cạnh tranh không lành mạnh tại các quốc gia
Châu Âu .............................................................................................................. 12
1.1.2. Nội dung các quy định về cạnh tranh không lành mạnh của Liên minh
Châu Âu .............................................................................................................. 14
1.2. Tổng quan nội dung quy định về cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật
Liên bang Nga......................................................................................................... 17
1. 2.1. Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Liên bang Nga...... 17
1.2.2 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Liên bang Nga ..... 18
1.3. Tổng quan nội dung quy định về pháp luật cạnh tranh không lành mạnh ở
Hoa Kỳ: .................................................................................................................. 29
1. 3.1. Các quy định pháp luật về điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành
mạnh của Hoa Kỳ ................................................................................................ 29
1.3.2. Cơ quan thực thi hành vi cạnh tranh không lành mạnh pháp luật cạnh
tranh không lành mạnh tại Hoa Kỳ....................................................................... 31
1.4. Tổng quan nội dung quy định về pháp luật cạnh tranh không lành mạnh tại
Úc (Australia) ......................................................................................................... 33
3
KHÔNG LÀNH MẠNH Ở VIỆT NAM .................................................................. 47
I. Những quy định điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hệ
thống pháp luật ở Việt Nam .................................................................................... 47
4
1. Nội dung các quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật Cạnh
tranh hiện hành .....................
47
1. 1.Quy định về Chỉ dẫn gây nhầm lẫn ............................................................ 47
1.2. Quy định về bí mật kinh doanh .................................................................. 49
1.3. Quy định về hành vi ép buộc trong kinh doanh .......................................... 50
1.4. Quy định về gièm pha doanh nghiệp khác.................................................. 51
1.5. Quy định về hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
khác .................................................................................................................. 52
1.6. Quy định về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh ........... 53
1.1.7. Quy định về hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh ...... 55
1.8. Quy định về phân biệt đối xử hiệp hội ....................................................... 57
1.9. Quy định về Bán hàng đa cấp bất chính ..................................................... 58
1.10. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác ........................................ 59
2. Một số nội dung quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong các
lĩnh vực pháp luật khác của Việt Nam.................................................................. 60
2.1. Quy định về chỉ dẫn gây nhầm lẫn ............................................................. 60
2.2. Quy định về xâm phạm bí mật kinh doanh ................................................. 61
2.3. Quy định liên quan đến hành vi ép buộc trong kinh doanh ......................... 62
2.4. Quy định liên quan đến hành vi gièm pha doanh nghiệp khác ................... 63
2.5. Quy định liên quan đến hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp khác ...................................................................................................... 65
2.6. Quy định liên quan đến hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh ................................................................................................................ 66
3.2.Các nguyên tắc mang tính định hướng trong việc hoàn thiện các quy định
pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh ................................... 86
3.2.1Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh ................................................................................................................ 86
3.2.2 Định hướng cơ bản trong việc sửa đổi nội dung pháp luật điều chỉnh
hành vi cạnh tranh không lành mạnh ................................................................ 89
3.3. Những kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành
về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của nước ta ............................................ 93
6
3.3.1. Kiến nghị về việc sửa đổi, bổ sung các quy định về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh được quy định trong luật cạnh tranh hiện hành...................... 93
3.3.2. Kiến nghị về giải quyết quan hệ giữa Luật cạnh tranh và các văn bản
pháp luật chuyên ngành .................................................................................... 97
C. KẾT LUẬN ........................................................................................................... 100
TỪ NGỮ VIẾT TẮT ................................................................................................. 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 103
7
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Tên đề tài: Pháp luật về hành vi Cạnh tranh không lành mạnh của một số
nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam
Họ và tên chủ nhiệm đề tài: Hồ Xuân Thắng
Học vị: Tiến sỹ Luật học
Chức vụ: Giảng viên, Trưởng Khoa Luật - Trường Đại học sài Gòn.
1. Tính cấp thiết của đề tài
cho Việt Nam‖ để thực hiện nghiên cứu khoa học cấp cơ sở.
8
2. Mục tiêu của để tài
Đề tài ―Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của một số quốc gia
trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam‖, theo các mục tiêu cơ bản sau đây:
- Nghiên cứu những quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của một số
quốc gia trên thế giới như: Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, Châu Úc, Nhật Bản và Đài
Loan.
- Rút ra các bài học kinh nghiệm thích hợp cho Việt Nam và trên cơ sở phân tích
những bất cập trong quy định của pháp luật cạnh tranh cũng như quá trình thực thi
pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Tác giả kiến nghị hoàn
thiện quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về điều chỉnh hành vi cạnh tranh
không lành mạnh .
3. Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài (phân tích, đánh giá tình
hình nghiên cứu, liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan
đến đề tài)
- Trên thế giới đã có các công trình nghiên cứu về pháp luật cạnh tranh nói
chung, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh nói riêng. Tuy nhiên, các công
trình này được nghiên cứu dưới góc độ là một loại hình mới của trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng phù hợp với tình hình điều kiện phát triển kinh tế - xã
hội của những nước đó, không nghiên cứu theo hướng so sánh, rút kinh nghiệm để
xây dựng các quy định liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
- Ở Liên bang Nga đã có một số nghiên cứu về pháp luật cạnh tranh nói chung
và pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh Liên bang Nga nói riêng1 nhưng
chưa có nghiên cứu cụ thể, chỉ ra những kinh nghiệm cho các nước đang phát triển
như Việt Nam.
- Ở Việt Nam, kể từ năm 1986 cả nước thực hiện công cuộc đổi mới đất nước,
công trình đầu tiên nghiên cứu có liên quan đến cạnh tranh với tên gọi ―Các giải pháp
- Cũng trong năm 2001 này, được sự tài trợ của Viện KAS, Cộng hoà liên
bang Đức. Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật trực thuộc Viện khoa học xã hội
Việt Nam cũng đã tiến hành nghiên cứu đề tài ―Cạnh tranh và xây dựng pháp luật
cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay― và được hoàn thành, nghiệm thu năm 2001)...Đây là
những công trình đầu tiên nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn về những vấn đề có
liên quan đến cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh, tạo luận cứ cũng như tiền đề khuyến
nghị đến việc cần xây dựng Luật Cạnh tranh ở Việt Nam.
- Luận án Tiến sỹ, đề tài ―Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở
Việt Nam‖ của NCS Lê Anh Tuấn, năm 2008.
- Một số chuyên gia đã xuất bản những cuốn sách chuyên khảo về pháp luật
cạnh tranh như:
- Tiến sĩ Nguyễn Như Phát và Thạc sỹ Bùi Nguyên Khánh năm 2001"Tiến tới
xây dựng pháp luật về cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam".
- Tiến sỹ Đặng Vũ Huân năm 2004"Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống
cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam".
- Tiến sỹ Lê Hoàng Oanh, năm 2005 "Bình luận khoa học Luật cạnh tranh".
- PGS.TS. Nguyễn Như Phát và ThS Nguyễn Ngọc Sơn, năm 2006."Phân tích
và luận giải các quy định của Luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh".
- Công trình nghiên cứu về "Những nội dung cơ bản của Luật cạnh tranh Việt
Nam năm 2004 và đề xuất áp dụng" của nhóm tác giả thuộc Trường Đại học ngoại
thương Hà Nội, năm 2005.
- Pháp luật cạnh tranh Liên bang Nga và những bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam, Đề tài NCKH cấp trường, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, nghiệm thu
năm 2012 của TS. Phạm Trí Hùng.
Như vậy, Ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc những
quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của một số nước tiêu biểu trên thế
giới và kinh nghiệm cho nước ta trong việc hoàn thiện khuôn khổ hành lang pháp lý
để điều chỉnh hành vi cạnh tranh này.
Đề tài là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của pháp luật cạnh tranh một số quốc gia
trên thể giới và kinh nghiệm cho Việt Nam. Tính hiệu quả cơ bản là ở chỗ, trong giai
đoạn phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta việc hoàn thiện các quy định pháp luật về cạnh tranh không lành
mạnh không thể bỏ qua việc tiếp cận, học hỏi kinh nghiệm soạn thảo quy định pháp
luật về hành vi chống cạnh tranh không lành mạnh của những nước có nền kinh tế đã
và đang phát triển.
Ý nghĩa hiệu quả về mặt thực tiễn, đề tài sẽ nghiên cứu một cách tổng thể các
quy định của pháp luật về hành vi chống cạnh tranh không lành mạnh của một số nước
tiêu biểu trên thế giới. Đánh giá thực trạng các dạng phổ biến nhất về những hành vi
cạnh tranh không lành mạnh đang diễn ra trên thị trường hiện nay, từ đó cung cấp
những kinh nghiệm là cơ sở lý luận và thực tiễn cho các cơ quan nhà nước trong việc
hoạch định và thực thi chính sách cạnh tranh.
Địa chỉ ứng dụng: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng vào mục đích
đào tạo, nghiên cứu và làm tại liệu tham khảo chuyên sâu rất hữu ích cho Giảng viên
và Sinh viên chuyên ngành Luật tại trường Đại học Sài Gòn và các cơ sở đào tạo cử
nhân Luật
11
B. NỘI DUNG
Chương I: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC TIÊU BIỂU TRÊN THẾ GIỚI
Có thể nhận thấy rằng: Pháp luật về cạnh tranh nói chung và hành vi cạnh tranh
không lành mạnh nói riêng đã xuất hiện từ rất lâu đời trên thế giới. Song cho đến nay,
vẫn chưa có một khái niệm nhất quán áp dụng cho tất cả các quốc gia về hành vi cạnh
tranh không lành mạnh trong hoạt động kinh doanh, thương mại. Chính vì lí do này,
quy định liên quan đến các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của từng quốc gia
12
vi cạnh tranh không lành mạnh, thiệt hại xảy ra và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
vi phạm và thiệt hại, ngoài ra bên bị đơn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà
không cần xét đến yếu tố lỗi (cố ý) đối với hành vi vi phạm. Pháp luật cạnh tranh của
Hà Lan cũng áp dụng mô hình này, tuy nhiên với nguyên tắc, Doanh nghiệp được thực
hiện mọi hoạt động cạnh tranh không bị cấm bởi quy định pháp luật kết hợp với
nguyên tắc ưu tiên, việc sử dụng các điều khoản chung của pháp luật dân sự để xử lý
vụ việc cạnh tranh bị hạn chế hơn. Còn ở nước Anh, hệ thống Thông luật của nước
này chỉ thừa nhận việc áp dụng tort law về cạnh tranh không lành mạnh đối với một số
biểu hiện hành vi cụ thể như gây nhầm lẫn, mạo nhận về nhãn hiệu (passing off) và
xâm phạm bí mật kinh doanh. Tức là các hành vi cạnh tranh phải thật sự do chính chủ
thể thực hiện trong quá trình kinh doanh nhằm mục đích sinh lời, đồng thời các hành
vi đó phải thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh. Do đó, để được toà án giải quyết, các vụ việc về cạnh tranh không lành mạnh
phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định, và các thẩm phán có thể từ chối thụ lý nếu vụ
việc liên quan đến các hành vi thị trường nằm ngoài phạm vi các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh nêu trên..Như vậy, pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
của nước Anh đề cao tính phán quyết của thẩm phán để mang lại trật tự kinh doanh
chung trong sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Bên cạnh đó, một số nước tiêu
biểu của Châu Âu đã lựa chọn cách tiếp cận sử dụng luật chuyên ngành (lexspecialis)
như một lợi thế cơ bản để điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Chính vì
thế mà ở một số nước như Đức, Áo, Bỉ, Đan Mạch, Phần Lan, Tây Ban Nha, Thuỵ Sỹ,
Luxemburg đã có một đạo luật riêng điều chỉnh về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh. Còn một số nước khác trong khối các quốc gia Châu Âu như Hungary, Bulgary
hay Rumani xâydựng các quy định về cạnh tranh không lành mạnh hợp nhất trong một
đạo luật về thương mại hay cạnh tranh chứ chưa có tính tách bạch độc lập điều chỉnh
hành vi này trong pháp luật về cạnh tranh. Nhìn chung, các quốc gia này đã luật hoá
một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh điển hình, dựa trên cơ sở các khuyến nghị
thị trường đòi hỏi phải có những nỗ lực nhiều mặt trong đó là vấn đề lập pháp.
1.1.2. Nội dung các quy định về cạnh tranh không lành mạnh của Liên minh
Châu Âu
Trong nhiều năm gần đây, các nước trong khối liên minh Châu Âu đã có những
nỗ lực để thống nhất chung các quy định về cạnh tranh không lành mạnh giữa các
nước thành viên EU trong khuôn khổ chương trình hài hoà hoá pháp luật chung (legal
harmonisation) của Cộng đồng Châu Âu. Dựa trên Công ước Paris về Bảo hộ Sở hữu
Công nghiệp, các quốc gia Châu Âu đã phát triển các quy định chung theo nhiều hình
thức, cấp độ, từ các nguyên tắc cơ bản về cạnh tranh tại Hiệp ước Rome 1957 đến
những thoả thuận nhóm như Luật Nhãn hiệu chung của khối Benelux1971 và những
hướng dẫn chung từ EC đến các nước thành viên như Chỉ thị số2005/29/EC. Mặc dù
vậy, tính đến sự khác biệt còn tồn tại giữa hệ thống pháp luật của các quốc gia thành
viên, EU vẫn phải bổ sung một số nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật, trong đó
đặc biệt quan trọng là nguyên tắc nước xuất xứ tại Điều 28 của Hiệp ước Châu Âu,
theo đó pháp luật của quốc gia nhập khẩu được ưu tiên áp dụng để đánh giá tính hợp
pháp trong việc kinh doanh một loại hàng hoá nhất định. Khối liên minh Châu Âu
(EC) cũng đã ban hành Quy định số 2006/2004 ngày 27/10/2004 về việc hợp tác giữa
các cơ quan chịu trách nhiệm thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của các quốc
gia thành viên. Chỉ thị hướng dẫn các hành vi thương mại không lành mạnh (sau đây
gọi tắt là Chỉ thị) được thông qua vào tháng 5/2005. Có thể nói, chỉ thị được thông qua
nhằm củng cố niềm tin của người tiêu dùng thuộc cộng đồng chung Châu Âu vào các
giao dịch giữa các quốc gia thành viên. Ban đầu, Người tiêu dùng trong khối liên minh
Châu Âu không chắc chắn và có nhiều suy nghĩ trái chiều nhau vì rằng liệu quyền lợi
của họ có được bảo vệ một cách thỏa đáng trong các giao dịch quốc tế và vì thế sẽ
không tận dụng được lợi thế của thị trường chung Châu Âu hay không. Sau một quá
trình tham vấn chuyên sâu và mở rộng, Chỉ thị hướng dẫn các hành vi thương mại
không lành mạnh đã được thông qua, thay thế cho một loạt các luật lệ thông thường về
14
trong mọi trường hợp, bị coi là không lành mạnh và vì thế sẽ bị cấm mà không cần
phải áp dụng kiểm định về người tiêu dùng trung bình. Câu hỏi đặt ra đó là, khái niệm
như thế nào là người tiêu dùng trung bình (hay người tiêu dùng phổ thông)? Tòa án
công lý liên minh Châu Âu đã đưa ra định nghĩa, ―Người tiêu dùng trung bình là
người có đầy đủ thông tin ở mức vừa phải, tinh ý ở mức vừa phải và thận trọng ở mức
độ vừa phải, khi tính đến các yếu tố xã hội, văn hóa và ngôn ngữ‖ 2. Tại hầu hết các
quốc gia thuộc liên minh Châu Âu, các tòa án quốc gia đều đã sử dụng kiểm định
người tiêu dùng trung bình. Đây không phải là một kiểm định mang tính thống kê, do
vậy, các tòa án quốc gia và các cơ quan có thẩm quyền quốc gia sẽ phải thực thi quyền
quyết định của riêng từng cơ quan, có xem xét tới án lệ của Tòa án công lý liên minh
2
Theo Tiến sỹ Lê Hoàng Oanh, năm 2005 "Bình luận khoa học Luật cạnh tranh"
15
Châu Âu, để quyết định phản ứng điển hình của một người tiêu dùng trung bình trong
một trường hợp cụ thể. Dưới góc độ khoa học pháp lý, chúng ta có thể nhận thấy,
Khái niệm hành vi thương mại đề cập tới các hoạt động có mối liên hệ với xúc tiến,
kinh doanh hoặc cung cấp hàng hóa tới người tiêu dùng. Hay nói cách khác, hành vi
thương mại của thương nhân không thể thiếu vắng vị trí vai trò của người tiêu dùng.
Thương nhân, phản ánh cung cầu, thì người tiêu dùng cũng thể hiện rõ hai chữ cung
cầu đó trong thị trường hàng hóa dịch vụ. Do vậy, nó bao hàm bất kỳ hành động sai
sót, qui cách ứng xử, chỉ dẫn hoặc quan hệ giao tiếp thương mại như bao gồm quảng
cáo và marketing được tiến hành bởi thương nhân đến người tiêu dùng. Nếu một hành
vi thương mại là không lành mạnh, điều đó có nghĩa là theo tiêu chuẩn cụ thể, hành vi
đó bị coi là không thể chấp nhận được trong mối liên hệ với người tiêu dùng. Điều 5
Chỉ thị hướng dẫn các hành vi thương mại lành mạnh qui định một hành vi thương
mại bị coi là không lành mạnh nếu:
Cạnh tranh không lành mạnh thông thường dựa theo tính chất lành mạnh của hành vi,
mục đích, tính chất của các phương thức cạnh tranh và tác động của chúng tới thị
trường.
Sự không lành mạnh của các thủ thuật cạnh tranh đã thực sự làm hạn chế khả
năng cạnh tranh vốn có của các đối thủ cạnh tranh hoặc cũng có thể làm triệt tiêu cạnh
tranh, có nghĩa là triệt tiêu động lực phát triển kinh tế, ảnh hưởng không nhỏ tới lợi
ích của cả cộng đồng và xã hội, những giá trị cơ bản mà Nhà nước phải đại diện và
cần bảo vệ. Như vậy, dù tính không lành mạnh của hành vi cạnh tranh được nhằm vào
những đối thủ cụ thể hay nhằm vào lợi ích của trật tự kinh tế thì đều cần phải được
phòng ngữa, ngăn cản và xử lí nghiêm minh.
1.2.1. Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Liên bang Nga
Theo Điều 4 Luật về bảo vệ cạnh tranh, cạnh tranh được định nghĩa là sự tranh
đua (соперничество) giữa các chủ thể kinh doanh, theo đó trong cùng điều kiện, bằng
các hành vi độc lập của mình, một bên đạt được sự loại bỏ hoặc hạn chế khả năng tác
động tới lưu thông hàng hóa trên thị trường hàng hóa của bên kia.
Như vậy, có thể thấy các yếu tố cấu thành cạnh tranh bao gồm:
Một là: Các bên tham gia cạnh tranh là các chủ thể kinh doanh. Theo Khoản 5
Điều 4 Luật về bảo vệ cạnh tranh, chủ thể kinh doanh bao gồm cá nhân tiến hành hoạt
động thương mại, tổ chức thương mại và các tổ chức phi thương mại, thực hiện các
hoạt động đem lại lợi nhuận. Mối quan hệ giữa các bên trong quan hệ cạnh tranh phải
là sự đối đầu, sự ganh đua và phải có ít nhất 2 chủ thể trở lên.
Hai là: Mục đích của cạnh tranh là sự loại bỏ hoặc hạn chế khả năng thực hiện
các hoạt động liên quan tới lưu thông hàng hóa của đối thủ. Bằng sự loại bỏ hoặc hạn
chế này đối thủ tiến hành cạnh tranh có được những ưu thế nhất định.
Ba là: Môi trường cạnh tranh phải trong cùng một điều kiện tự nhiên.
Cạnh tranh không lành mạnh trong Luật về bảo vệ cạnh tranh của Liên Bang
Nga được hiểu là bất kỳ hành vi nào của chủ thể kinh doanh (nhóm chủ thể) nhằm
hướng tới việc có được những ưu thế trong hoạt động thương mại, trái với pháp luật,
tập quán thương mại, yêu cầu trật tự, hợp lý và công bằng mà gây thiệt hại hoặc có thể
gây thiệt hại cho các chủ thể kinh doanh khác, đối thủ cạnh tranh hoặc làm tổn hại hay
chính kinh tế cũng như trình độ khoa học - công nghệ.
1.2.2. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Liên bang Nga
Theo quy định của pháp luật, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm3:
1. Phổ biến các thông tin giả dối, không chính xác hoặc sai lệnh có thể mang lại
thiệt hại cho các chủ thể kinh doanh hoặc mang lại thiệt hại trong uy tín thương mại;
2. Tạo ra sự nhầm lẫn về đặc tính, phương thức, nơi sản xuất, đặc tính sử dụng,
chất lượng và số lượng của với hàng hóa hoặc nhà sản xuất;
3. So sánh không trung thực của một chủ thể kinh doanh về hàng hóa do chính
mình tiêu thụ hoặc sản xuất với hàng hóa do chủ thể kinh doanh khác tiêu thụ hoặc
sản xuất;
3
Theo Điều 14 Luật về bảo vệ cạnh tranh năm 2006 của Liên Bang Nga
18
4. Bán, trao đổi hoặc bằng các phương thức lưu thông hàng hóa khác nếu sử dụng
trái pháp luật tài sản sở hữu trí tuệ cũng như các đối tượng được pháp luật bảo hộ
tương tự như tài sản sở hữu trí tuệ như công cụ phân biệt pháp nhân, công cụ phân
biệt hàng hóa, dịch vụ;
5. Tiếp cận, thu thập, sử dụng, phổ biến không hợp pháp thông tin thuộc bí mật
kinh doanh, bi mật nghiệp vụ hoặc các loại hình thông tin bí mật khác được bảo vệ bới
pháp luật;
6. Các hành vi liên quan tới chiếm hữu, sử dụng quyền độc quyền đối với công cụ
phân biệt pháp nhân và công cụ phân biệt hàng hóa, dịch vụ.
Đi kèm với 6 hành vi cạnh tranh bị xem là hành vi cạnh tranh không lành
mạnh, trong quy định của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh của Liên Bang
Nga có đưa ra một số thuật ngữ sử dụng làm căn cứ xác định tính chất không lành
(theo đúng cách hiểu của từ này trong Từ điển tiếng Nga 4).Thuật ngữ ―hợp lý‖ và
―công bằng‖ thể hiện các quy tắc đạo đức khác nhau và các qui tắc này phải áp dụng
trong môi trường thương mại vì qui tắc sử xự bình thường của con người có thể không
tương đồng với các qui tắc được công nhận trong hoạt động thương mại. Các hành vi
trái với pháp luật và tập quán thương mại không thể xem là hành vi lương thiện.5
Một hành vi của chủ thể kinh doanh này đối với chủ thể kinh doanh khác chỉ
được xem là trái với yêu cầu về ―lương thiện‖,― hợp lý‖, ―công bằng‖ bằng quyết định
của Cơ quan chống độc quyền và quyết định này có thể kháng cáo lên Tòa án.
1.2.2.1. Phổ biến các thông tin giả dối, không chính xác hoặc sai lệnh có thể
mang lại thiệt hại cho các chủ thể kinh doanh hoặc mang lại thiệt hại trong uy
tín(danh tiếng) thương mại.
Luật về bảo vệ cạnh tranh chỉ qui định các loại hình thông tin nói trên là khách
thể của hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhưng trong Luật này lại không giải thích
rõ về khái niệm, nội dung của thông tin giả dối, không chính xác hoặc sai lệch là nhý
thế nào.
Quy định trên nó đã kế thừa văn bản pháp luật gốc lien quan đến ―thông tin
không đúng với hiện thực được xem là thông tin giả dối, không chính xác hoặc sai
lệch‖6.Danh tín thương mại là đối tượng bảo vệ của pháp luật không chỉ liên quan tới
danh tiếng thương mại của các cá nhân - doanh nhân mà bao gồm cả pháp nhân - chủ
thể của hoạt động thương mại.Nói cách khác, pháp luật không có khái niệm và không
thể xác định hết các loại hình thông tin là giả dối. Căn cứ duy nhất để có kết luận về
tính chất của thông tin là sự tương thích với hiện thực, có nghĩa tính chất có thật của
thông tin7.
Để thống nhất trong cách hiểu các thuật ngữ liên quan, Hội đồng thẩm phán Tòa
án tối cao của Liên bang Nga đã có Quyết định số 3 ngày 24 tháng 04 năm 2005 ―Về
С.И. Ожегова и Н.Ю. Шведовой, М., 1997
Theo Điều 5 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga „tập quán thương mại, được hiểu là hành vi xử sự hình thành và
áp dụng rộng rãi trong hoạt động thương mại và không được qui định bởi luật pháp cho dù có được ghi nhận
dưới bất kỳ tài liệu nào“.
6
sự thật. Loại hình thông tin đúng với sự thật nhưng có nội dung ―phỉ báng‖ lại là đối
tượng điều chỉnh của Điều khoản khác trong Bộ luật Dân sự Liên bang Nga 8.
Nói tóm lại, tuy các thuật ngữ có tên gọi khác nhau (thông tin giả dối, sai lệnh,
gièm pha) nhưng xét về mặt nội dung, điểm tương đồng trong cách hiểu về điều kiện
để một thông tin của doanh nghiệp này đối với doanh nghiệp khác trở thành thông tin
gièm pha, giả dối, sai lệnh giữa pháp luật cạnh tranh Việt Nam và pháp luật Liên bang
Nga đó chính là tính chất không đúng với sự thật của thông tin.
Nghĩa vụ chứng minh thông tin đang bị tranh chấp đúng với sự thật theo pháp
luật nước Nga thuộc về bị đơn, có nghĩa pháp luật trao quyền cho bị đơn phải chứng
minh được thông tin do mình đưa ra là đúng với sự thật.
Luật Cạnh tranh năm 2004 của Việt nam quy định hai hình thức đưa thông tin
trực tiếp và gián tiếp. Luật về bảo vệ cạnh tranh Liên bang Nga không có sự giải thích
về hình thức đưa (phổ biến) thông tin. Tại Quyết định số 3 của Hội đồng thẩm phán
Liên bang, đưa thông tin có thể thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào, kể cả dưới hình
thức nói9. Hậu quả do hành vi đưa thông tin giả dối gây ra là thiệt hại của các chủ thể
kinh doanh, trong đó bao gồm sự tổn hại danh tiếng, uy tín thương mại10.
8
Căn cứ Điều 150 Bộ Luật Dân sự LBN
9
Để hiểu rõ hơn hình thức đưa thông tin có thể trích dẫn quy định từ Quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa
án tối cao Liên bang số 21 ngày 18 tháng 9 năm 1992, theo đó, hình thức đưa thông tin bao gồm: phát ngôn
công khai; phát thành trên các kênh thông tin truyền thông (tivi, radio…); đăng tải trên báo chí; đưa thông tin
bằng bất kỳ hình thức nào khác cho một số chủ thể, thậm chí cho một chủ thể.
21
Theo Điều 67 Luật Liên bang số 2300-1
12
Thông tin về hàng hóa (dịch vụ) bắt buộc phải có các nội dung như sau: i)Tên gọi hàng hóa(dịch vụ).ii)
Đặc tính sử dụng cơ bản. Đối với hàng hóa ăn uống phải có thông tin về thành phần (bao gồm cả tên gọi của
chất phụ trợ sử dụng trong sản xuất đồ ăn), giá trị dinh dưỡng, chỉ định sử dụng, điều kiện sử dụng và bảo quản,
phươngt hức chế biến, trọng lượng, ngày và nơi sản xuất, đóng gói, thông tin về chống chỉ định sử dụng hàng
hóa (dịch vụ) đối với các loại hình bệnh lý riêng biệt. Danh mục loại hình hàng hóa (dịch vụ) bắt buộc phải có
thông tin chống chỉ định sử dụng đối với một số loại hình bệnh lý theo quy định của Chính phủ; iii)Giá;iv) Thời
hạn bảo hành (nếu có); vi) Quy tắc sử dụng một cách hiệu quả và an toàn hàng hóa (dịch vụ); vii) Thời gian sử
dụng của hàng hóa (dịch vụ) và cả các thông tin về hành vi cần thiết của người sử dụng khi hàng hóa đã hết thời
hạn sử dụng, hệ quả có thể có trong trường hợp người sử dụng không thực hiện đúng các quy định nói trên nếu
như hàng hóa (dịch vụ) trở thành nguy hiểm đối với sức khỏe, tính mạng con người khi hết thời hạn sử dụng;
viii) Địa chỉ (trụ sở), tên thương mại của nhà sản xuất, tiêu thụ hàng hóa (dịch vụ);ix) Quy tắc bán hàng hóa,
cung cấp dịch vụ; x) Thông báo về việc hàng hóa đã qua sử dụng hay bảo hành.
22
Người tiêu dùng có quyền yêu cầu người cung cấp, người bán, tiêu thụ hàng
hóa (dịch vụ) bồi thường thiệt hại hoặc từ chối thực hiện hợp đồng trong trường hợp
không có khả năng có được thông tin về hàng hóa (dịch vụ) vào thời điểm ký kết hợp
đồng.
1.2.2.3. Bán, trao đổi hoặc bằng các phương thức lưu thông hàng hóa khác
nếu sử dụng trái pháp luật tài sản sở hữu trí tuệ cũng như các đối tượng được pháp
luật bảo hộ tương tự như tài sản sở hữu trí tuệ như công cụ phân biệt pháp nhân,
công cụ phân biệt hàng hóa, dịch vụ.
Theo Điều 138 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga, quyền độc quyền đối với tài sản
sở hữu trí tuệ của cá nhân và pháp nhân, các công cụ phân biệt pháp nhân, sản phẩm
bản pháp luật gốc quy định tại Bộ Luật Dân sự hiện hành của nhà nước Liên bang Nga
1.2.2.4. So sánh không trung thực của một chủ thể kinh doanh về hàng hóa do
chính mình tiêu thụ hoặc sản xuất với hàng hóa do chủ thể kinh doanh khác tiêu
thụ hoặc sản xuất.
Có thể thấy, Luật về bảo vệ cạnh tranh không lành mạnh của Liên bang Nga
không có quy định về khái niệm, hình thức thể hiện của loại hình so sánh này13; không
quy định chi tiết so sánh bằng hình thức nào, có nghĩa không giới hạn chỉ ở hoạt ðộng
quảng cáo, mà có thể hiểu là bất kỳ sự so sánh không trung thực nào có một trong các
dấu hiệu như: i) Chủ thể thực hiện là các chủ thể kinh doanh; ii) Đối tượng so sánh là
hàng hóa do mình sản xuất hoặc tiêu thụ với hàng hóa một chủ thể kinh doanh khác
hay nói một cách khác đối tượng so sánh phải là sản phẩm của các chủ thể khác nhau.
Nếu so sánh sản phẩm mới với sản phẩm cũ của cùng một chủ thể sẽ không xem là so
sánh; và iii) Hàng hóa là đối tượng so sánh phải là hàng hóa cùng loại ví nếu là hàng
hóa khác chủng loại thì giữa chúng không thể có bất kỳ sự cạnh tranh nào.
Tuy Luật nhiên, Luật Liên bang Nga số 38 ngày 13 tháng 03 năm 2006 ―Về
quảng cáo‖, có quy định rõ về khái niệm thế nào là so sánh không trung thực. Mục
đích ban hành đạo luật là hạn chế cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng
cáo, ngăn ngừa và loại bỏ các loại hình quảng cáo không phù hợp của các chủ thể kinh
doanh hoạt động thương mại. "Quảng cáo không phù hợp được hiểu là những quảng
cáo có nội dung trái với quy định của pháp luật"14.
Nhìn nhận dưới góc độ khoa học pháp lí, quảng cáo được hiểu là thông tin
được phổ biến bằng bất kỳ phương thức nào, dưới bất kỳ hình thức nào với sự sử dụng
bất kỳ phương tiện hướng đến nhóm chủ thể không xác định với mục đích gây sự chú
ý đối với đối tượng quảng cáo, hình thành và củng cố sự hứng thú đối với đối tượng
quảng cáo và đưa chúng vào thị trường.
Công cụ phân biệt hàng hóa, nhà sản xuất, nhà tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm sở
hữu trí tuệ hoặc các loại hình hoạt động thông qua đó quảng cáo gây sự chú ý kể cả
các cuộc thi thể thao, hòa nhạc, trình diễn ca nhạc, cuộc thi, festival tổ chức theo hình
thức trò chơi thắng-thua, cá cược chính là đối tượng quảng cáo là hàng hóa.
tranh .
Trong nội dung quy định về quảng cáo của pháp luật liên bang vấn đề Quảng
15
cáo không đích xác là quảng cáo mà nội dung hàm chứa những thông tin sai lệnh,
không đúng với sự thật:
Bên cạnh đó, cũng quy định quảng cáo không được phép, bao gồm các hành vi
như:
- Kích động thực hiện các hành vi trái với pháp luật;
- Kêu gọi bạo lực;
- Tạo ra sự tương đồng với các dấu hiệu giao thông hay bằng các hình thức
khác nhưng đều có khả năng tạo sự không an toàn trong giao thông đường bộ, đường
ô tô, đường thủy, đường sắt, đường hàng không;
- Hình thành các mối quan hệ bất lợi với chủ thể không sử dụng hàng hóa là đối
tượng quảng cáo hoặc xét đoán về họ;
Có thể nhận xét về phương thức điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh Liên bang
Nga đối với hình thức nêu trên đây của cạnh tranh không lành mạnh như sau:
Thứ nhất, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là đối tượng điều chỉnh của cả
Luật về quảng cáo và Luật về bảo vệ cạnh tranh‖. có nghĩa là, hai đạo luật trên đều có
mối quan hệ tương hỗ, bổ sung cho nhau, nếu như Luật về bảo vệ cạnh tranh là các
quy định khung, nền tảng về hình thức thể hiện của cạnh tranh không lành mạnh, thì
15
Điều 5 Luật về quảng cáo năm 2006 của LBN
25
Luật về quảng cáo là sự thể hiện chi tiết cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
quảng cáo. Khi quy định về quảng cáo không lành mạnh, Điều 5 của Luật về quảng
Thông tin được xem là bí mật kinh doanh và bí mật nghề nghiệp trong trường
hợp khi thông tin có giá trị thương mại đích thực và tiềm năng do có sự không biết
đến của chủ thể thứ ba, đối với thông tin này không có sự tiếp cận tự do theo căn cứ
pháp luật và chủ thể của thông tin có áp dụng các biện pháp bảo mật đối với thông tin.
26
Thông tin không được xem là bí mật kinh doanh và bí mật nghề nghiệp cũng
như phương thức bảo hộ chúng được qui định bởi các văn bản pháp luật khác.
Bảo hộ pháp luật đối với bí mật kinh doanh, bí mật nghề nghiệp hoặc các loại
hình thông tin bí mật khác được quy định trong các văn bản pháp luật như: Hiến pháp
Liên bang, Bộ luật Hình sự Liên bang, Bộ luật tố tụng Hình sự Liên bang, Bộ luật
Thuế Liên bang, Luật Liên bang ―Về ngân hàng và hoạt động ngân hàng‖, Luật Liên
bang ― Về kiểm toán‖, Luật Liên bang ―Về kế toán‖, Luật Liên bang ― Về bưu điện‖,
Luật Liên bang ―Về bí mật thương mại‖…Luật về bảo vệ cạnh tranh tiếp cận hành vi
―tiếp cận, thu thập, sử dụng, phổ biến không hợp pháp thông tin thuộc bí mật kinh
doanh, bí mật nghề nghiệp hoặc các loại hình thông tin bí mật khác được bảo vệ bởi
pháp luật‖ như hành vi của chủ thể kinh doanh nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Chủ thể bằng các phương thức không hợp pháp tiếp cận, thu thập bí mật kinh doanh
và bí mật nghề nghiệp có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
cũng áp dụng đối với người phổ biến bí mật kinh doanh và bí mật nghề nghiệp trái với
hợp đồng lao động.
1.2.2.6 Các hành vi liên quan tới chiếm hữu, sử dụng quyền độc quyền đối
với công cụ phân biệt các pháp nhân và công cụ phân biệt hàng hóa, dịch vụ.
Tên thương mại chính là công cụ phân biệt các pháp nhân được pháp luật liên
bang quy định. Phương thức phổ biến thông dụng nhất là việc sử dụng tên thương mại
đã được người tiêu dùng biết đến thuộc sở hữu của đối thủ cạnh tranh.Vì thế có thể sử
dụng trích lục từ Công báo đăng ký pháp nhân để chứng minh tên thương mại đã được
đăng ký. Tại Điều 51 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga có quy định rất cụ thể về quyền
của bất kỳ chủ thể nào đối với việc nhận thông tin từ Đăng bạ đăng ký pháp nhân.