MỞ ĐẦU
Nước ta gồm 54 dân tộc anh em đoàn kết, gắn bó với nhau trong suốt
chiều dài lịch sử bảo vệ, xây dựng đất nước. Văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu
số là một bộ phận quan trọng tạo nên nền văn hóa Việt Nam đa dạng, phong phú
trong thống nhất. Trong đó văn nghệ dân gian có một vai trò, tầm ảnh hưởng đặc
biệt. Văn nghệ dân gian bao gồm những sáng tác nghệ thuật dân gian, tức là gồm
văn học dân gian và các ngành nghệ thuật dân gian khác như âm nhạc, hội họa,
kiến trúc, điêu khắc dân gian.
Văn nghệ dân gian truyền thống luôn luôn gắn liền với đời sống của cộng
đồng các dân tộc, nó là hơi thở, là máu thịt, là niềm đam mê sáng tạo, hưởng thụ
không bao giờ ngưng nghỉ, vơi cạn trong lòng người dân và trong dòng chảy
chung của một nền văn hoá đa sắc màu trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Trong nền văn hóa văn nghệ dân gian vốn phong phú đa dạng của dân tộc
Việt Nam, không thể không nói đến sự góp mặt của văn nghệ dân gian của đồng
bào Cống. Trải qua quá trình đấu tranh lâu dài chống lại thiên nhiên khắc nghiệt
và xã hội phong kiến bất công để tồn tại và phát triển, người Cống đã sáng tạo
nên những giá trị văn hóa truyền thống giàu bản sắc. Đó là những sáng tác nghệ
thuật của đồng bào truyền từ đời này qua đời khác nó nảy sinh và tồn tại như một
bộ phận hợp thành của sinh hoạt nhân dân.
Sau khi được học xong học phần: ‘‘Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt
Nam’’ đã cho tôi những kiến thức vững vàng, những tri thức đầy bổ ích về văn
hóa các dân tộc Việt Nam. Đặc biệt là văn nghệ dân gian của dân tộc Cống đã
đưa tôi đến với những làn điệu trữ tình sâu lắng, những điệu múa nhẹ nhàng
nhưng cũng có phần sôi động, những lời ca ngọt ngào và những truyện cổ đầy sự
tích…. Vì vậy, tôi chọn đề tài: ‘‘Tìm hiểu, mô tả, đánh giá về đề xuất bảo tồn
những giá trị văn nghệ dân gian của tộc người Cống” để cho mọi người khắp
mọi miền đều được biết đến và hòa nhịp trong nền văn nghệ dân gian vốn phong
phú của dân tộc Cống.
NỘI DUNG
người (25,61%); Hà Nhì 8724 người (20,02%); dân tộc Mảng 1.172 người
(2,69%); dân tộc Cống 935 người (2,146%); dân tộc Si La 582 người
(1,38%); dân tộc Hoa 12 người (0.028%); dân tộc Cao Lan 6 người (0,014%);
Dân tộc Mường 152 người (0,349%); dân tộc Tày 57 người (0.131%); dân tộc
Nùng 11 người (0.025%); dân tộc Sán Dìu 3 người (0.007%). Phần lớn các
dân tộc thiểu số trình độ dân trí chưa cao, không đồng đều, đời sống còn khó
khăn.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên.
* Đặc điểm địa hình:
Huyện Mường tè do chịu ảnh hưởng lớn của hoạt động kiến tạo địa chất
nên có địa hình rất phức tạp, mức độ chia cắt sâu và ngang rất mạnh bởi các
dãy núi cao chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, phổ biến là kiểu địa
hình núi cao và núi trung bình xen lẫn thung lũng. Độ cao trung bình từ 900 1.500m so với mặt nước biển. Nhiều đỉnh có độ cao trên 2000m: đỉnh Phu Xi
Lung (3.076m), Pu Tà Tổng (2.109m). Độ dốc trung bình từ 25 0 - 300 có nơi
lên tới 450.
Nhìn tổng quát huyện Mường Tè được chia thành 2 vùng địa hình khác
nhau:
Vùng núi cao: Gồm các xã Pa Vệ Sủ, Pa Ủ, Bum Tở, Tá Bạ, Ka Lăng,
Thu Lũm, Mù Cả và Tà Tổng với độ cao trung bình từ 1000 - 2000m so với
mặt nước biển thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi đại gia súc, phát triển
kinh tế rừng và trồng các loại cây vùng ôn đới.
Vùng đồi núi thấp: Gồm các xã Bum Nưa, Vàng San, thị trấn Mường Tè,
Nậm Khao, Mường Tè, Kan Hồ với độ cao trung bình từ 400 - 1000m, thuận
lợi cho việc phát triển cây công nghiệp như cao su, quế, các cây ăn quả có giá
trị kinh tế cao và nuôi trồng thủy sản.
* Đặc điểm khí hậu:
Khí hậu Mường Tè mang đặc điểm của vùng nhiệt đới núi cao Tây Bắc,
ít chịu ảnh hưởng của bão, thời tiết quanh năm chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa
còn nhiều hạn chế.
Tài nguyên Khoáng sản: Trên địa bàn có nhiều loại khoáng sản có giá trị
kinh tế cao: vàng, sắt, đồng chì... Tuy nhiên trữ lượng vừa và nhỏ, phân bố
không đều, khó khai thác và sử dụng.
Tài nguyên rừng: Huyện Mường Tè có tổng diện tích rừng khá lớn. Năm
2015 diện tích rừng của huyện có khoảng 162.842,98ha, bảo vệ rừng trên
200.000 lượt ha, khoanh nuôi tái sinh 65.760,2 lượt ha. Diện tích được chi trả
dịch vụ môi trường rừng từ năm 2012 đến năm 2015 là 614.884,3ha. Rừng
Mường Tè có hệ động thực vật đa dạng, phong phú với nhiều loại gỗ quý như:
giổi, lát, gù hương; nhiều cây dược liệu quý hiếm, nhiều sản vật rừng nổi
tiếng như: mật ong rừng, tam thất, nấm hương, thảo quả.... Năm 2015 tỷ lệ
che phủ rừng của huyện đạt 61,5%. Diện tích rừng phân bố ở tất cả các xã
trong huyện, nhờ quan tâm phát triển kinh tế đồi rừng, kinh tế trang trại rừng
đã góp phần đem lại thu nhập cao cho người dân và góp phần bảo vệ môi
trường sinh thái, giữ nước đầu nguồn, cải thiện cảnh quan khu vực.
Tài nguyên Văn hóa - Du lịch:
Có thể thấy, điều kiện khí hậu, thủy văn, sông ngòi đã tạo cho huyện
Mường Tè những thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng ở một
số xã vùng cao có khí hậu khá mát mẻ gần như quanh năm như các xã Mù Cả,
Tà Tổng, Ka Lăng, Thu Lũm, Tá Bạ.
Mường Tè có nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử, hang
động, suối khoáng, núi đá tự nhiên nổi tiếng: Hòn đá trắng, Ruộng bậc thang,
Nhà lưu niệm cố luật sư Nguyễn Hữu thọ, di tích 2 đồn Pháp ở bản Nậm Củm
- xã Mường Tè và bản Bum - xã Bum nưa. Huyện Mường Tè gần Nhà máy
thủy điện Lai Châu thuộc huyện Nậm Nhùn, song chiếm gần như trọn lòng hồ
của thủy điện…đây là những tiềm năng để phát triển những tour du lịch danh
lam thắng cảnh lòng hồ sông Đà, kết hợp với nghỉ dưỡng.
Trên địa bàn huyện có nhiều dân tộc sinh sống như dân tộc Thái, Hà Nhì,
Dân tộc Cống có dân số ít, cư trú ở vùng sâu, vùng xa, giáp biên…Vì
thế đời sống kinh tế của họ gặp rất nhiều khó khăn và thách thức. Tộc người
này cư trú ở khu vực núi đất, giáp biên giới thuộc các huyện Mường Nhé
(Điện Biên), Mường Tè (Lai Châu).
Họ canh tác lúa và rau màu trên nương rẫy và một ít ở ruộng bậc thang.
Nhìn chung, dân tộc Cống đều là cư dân sống bằng trồng trọt cây lương thực
là chính. Hõ trợ cho hoạt động mưu sinh chủ đạo này là thủ công gia đình,
chăn nuôi gia súc, gia cầm., săn bắn, hái lượm và trao đổi nông sản,…Họ sản
xuất ra chỉ để đáp ứng nhu cầu đảm bảo đời sống, sản xuất hàng hóa hoàn
toàn chưa xuất hiện. Nền kinh tế của tộc người này là nền kinh tế tự cung tự
túc. Nó thuộc loại hình kinh tế tiền công nghiệp.
Các loại cây trồng của tộc người này bao gồm: Lúa, ngô, sắn, khoai,
các loại, rau đậu bầu bí... Kỹ thuật canh tác của họ chưa phát triển. Số ít làm
ruộng nước đã có dấu hiệu thâm canh, còn lại hầu hết là quảng canh. Gắn liền
với quảng canh là du canh, du cư. Vì thế, xưa kia, họ được gọi là Xá Lá Vàng
(Xá Toong Lương). Dân tộc Cống chỉ mới định cư ổn định cách đây vài ba
chục năm. Kỹ thuật chưa phát triển, nông cụ thô sơ, dựa vào tự nhiên là
chính...Năng suất và sản lượng cây lương thực khá thấp, mất mùa, đói kém,
liên miên. Cho đến những năm cuối thế kỷ XX, hàng năm dân tộc Cống
thường thiếu lương thực ăn khoảng vài ba tháng. Khi đó họ phải vào rừng đào
củ mài, củ pấu, củ nâu,... để chống đói.
Chăn nuôi trong các gia đình là hoạt động kinh tế không thể thiếu của
dân tộc này.Tuy thế, nó chưa phát triển, chỉ là hoạt động hỗ trợ. Các loại gia
súc (trâu, ngựa, bò...) họ nuôi để đáp ứng sức kéo trong việc làm đất trồng...
Gia cầm, họ nuôi chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu lễ vật cho cúng tễ, ma chay,
cưới xin,...
Thủ công gia đình dân tộc Cống có từ lâu đời, nhưng đến nay nó vẫn
chỉ dừng ở hoạt động hỗ trợ. Đáng kể nhất là các nghề : dệt vải, may mặc, đan
Dòng họ của các dân tộc Cống, là tổ chức của những người đàn ông,
có cùng một ông tổ 5 đời, 4 đời hay 3 đơi. Đứng đầu là ông trưởng tộc họ.
Trong họ có các chi, gồm các thành viên trong môt gia tộc lớn. Trưởng tộc họ,
cũng như dòng họ, là chỗ dựa tinh thần của các thành viên. Thường thì, việc
cũng tế, cưới xin, ma chay, dựng nhà mới,... các thành viên trong dòng họ
tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Chức năng sản xuất, kinh tế của dòng họ dân tộc
Cống khá mờ nhạt.
* Cưới xin:
Theo tục lệ của người Cống, khi đã chọn được nàng dâu ưng ý, nhà trai
làm lễ ăn hỏi (Hù mền tì xé), và cũng là lễ đi ở rể cho con trai. Chọn buổi tối
ngày đẹp, trưởng tộc họ, anh em và chú rể, sang nhà bố mẹ cô dâu, làm nghi
thức này. Khi đi họ mang theo gói muối, gói chè, một đồng cân thuốc phiện,
một hũ rượu cần, một cuộn dây gai,...để xin bố mẹ cô dâu cho chàng trai đến
ở rể. Ngay ngày hôm sau, chàng trai sẽ bắt đầu sang nhà gái ở rể,cô dâu sẽ
làm lễ cẩu tóc. Một vài tháng trước khi hết hạn ở rể, nhà rai cử mối sang nhà
gái xin cưới (tà nó tì xê na pha ê). Người Cống thường tổ chức đám cưới vào
cuối năm. Đi đón dâu ( ăng mì ló nê ) gồm: bố mẹ, cô dì, chú bác, anh em họ
hàng chú rể. Khi về nhà chồng, cô dâu mặc y phục Cống cổ truyền ( thường
ngày họ mặc y phục Thái ). Đến cửa nhà gái, họ nhà trai phải hát đối đáp,
uống rượu nhắm với nộm hoa chuối, sau đó mới được vào nhà. Khi rời nhà bố
mẹ đẻ theo chồng, cô dâu được bà dì của chú rể cõng ra khỏi cửa. Trước khi
đưa, đón dâu đi, hai họ vẫy nước, tung bã rượu vào nhau. Về tới nhà chồng,
dâu rể làm lễ lễ gia tiền nhà trai. Sau đó tiệc cưới được được tổ chức ba ngày
liên tục. Đáng chú ý trong tiệc cưới Cống : các cô em chồng trong trang phục
cổ truyền Cống, mỗi người cầm một con gái, con sóc, hoặc con cá khô,... mở
màn cho các điệu múa tập thể. Họ vừa nhảy múa, vừa giơ cao gà, sóc, cá
khô,.... Sau một vài ngày, họ làm lễ lại mặt, tạ ơn nhà gái.
* Tang ma.
ngày nắng, ngày mưa mới dẫn đến hang cho ở nhờ và dạy co cách làm nhà
bằng cách nhồi đất thật dày, để một cửa ra, mái nhọn như mái núi, vừa tránh
được thú dữ, vừa tránh được gió bão, mưa dông (Chuyện ông Sứ Thề). Lý
giải về việc ra đời sông suối (Chuyện Hồng Mư). Qua những câu chuyện cổ
này cho ta thấy sự phát triển tư duy nhận thức của người Cống xưa mang dấu
ấn của quá trình phát triển lịch sử của dân tộc Cống. Con người từ chỗ sống ở
các hang động đã vươn ra chiếm lĩnh các không gian và tạo dựng cuộc sống
cho mình. Tất cả các chuyện liên quan đến các sự tích thiên nhiên đều phản
ánh một quá trình chinh phục môi trường xung quanh đầy gian khổ của người
Cống ở vùng núi hiểm trở.
2.1.2. Truyện cổ về sự tích các loài vật.
Là những chuyện nói về sự xuất hiện của chúng và những nét riêng biệt
mà tạo hóa sinh ra chúng : Cỏ con trâu là do anh chàng lười không chịu làm
gì, lớn tuổi mẹ vẫn phải chăm, bức qua bà mẹ rủa: ‘‘Không muốn làm, chỉ
muốn ăn thì chỉ có đi ăn cỏ’’(Chuyện Pằng Ná), hoặc do có công dẫn người
Cống đến vùng đất trù phú, giàu có mà chim được người thưởng cho việc ăn
thóc (chuyện Si Là). Vì saomafo gà trống đỏ và được gọi là mặt trời (Chuyện
Kha Pà)... Trước những hiện tượng thiên nhiên khó hiểu, do trình độ tư duy
còn chưa cao, người Cống có cách giải thích riêng của mình. Những cách giải
thích đó một mặt cho thấy sự ngây thơ, hồn nhiên đến đáng yêu của họ, mặt
khác cũng cho thấy tâm hồn lãng mạn, trí tưởng tượng của dân gian. Đồng
thời, những truyện cổ ấy cũng phản ánh sự quan sát của người Cống đối với
thiên nhiên xung quanh. Thiên nhiên đối với họ vừa hãi hùng vừa bí hiểm,
song cũng thật thân thuộc và gần gũi. Chỉ khi con người có thái độ xấu, ác ý,
phá hủy thiên nhiên thì mới bị trừng phạt , còn nếu con người có sự ân cần,
có tình yêu tha thiết với thiên nhiên thì sẽ được thiên nhiên đền đáp một cách
thỏa đáng.
Thiên nhiên luôn bên cạnh, bao dung, che chở và nuôi sống con người
Câu chuyện là sự gửi gắm ước vọng vươn tơi cuộc sống tươi đẹp, ấm no, hạnh
phúc của người Cống và ca ngợi lòng biết ơn, tình nghĩa bản làng.
2.2. Ca dao, dân ca Cống.
2.2.1. Về khái niệm ca dao, dân ca.
Trước đây, cùng với thuật ngữ ca dao, giới nghiên cứu khi nói về những
câu (bài) hát dân gian thường dùng thuật ngữ Phong dao (những câu hát dân
gian có ý nghĩa giáo huấn đạo lý hoặc có liên quan đến phong tục tập quán
truyền thống, tập quán của người dân quê). Đến đầu những năm 50 của thế kỷ
XX, với sự ra đời của công trình Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ
Ngọc Phan (in lần đầu năm 1956), song song với thuật ngữ ca dao có thêm
thuật ngữ Dân ca.
Ca dao, dân ca là hai thuật ngữ được dùng để chỉ những câu hát (bài
hát) dân gian. Thật ra hai khái niệm này có ý nghĩa tương đương với nhau,
đều dùng để chỉ những câu hát dân gian. Chỗ khác nhau là khi nghiên cứu,
giới thiệu những câu hát dân gian một cách toàn vẹn hoặc chỉ riêng về phần
nhạc thì gọi là dân ca còn khi nghiên cứu, giới thiệu riêng phần lời của những
câu hát dân gian thì gọi là ca dao.
Theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu văn hóa dân gian thuộc
Khoa Ngữ văn Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội trong bộ giáo trình Văn học
dân gian thì: ‘‘Dân ca là những bài hát có hoặc không có chương khúc do
nhân dân sáng tác lưu truyền trong dân gian ở từng vùng hoặc phổ biến nhiều
vùng có nội dung trữ tình và có nội dung trữ tình về nhạc”.
Các tác giả Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ trong sách
Văn học dân gian Việt Nam đã phân loại dân ca thành ba loại: Dân ca gắn liền
với nghi lễ phong tục, dân ca gắn liền với hoạt động lao động sản xuất và dân
ca trữ tình sinh hoạt. Như vậy, về lý thuyết có thể nói rằng ca dao và dân ca là
một, nhưng trong thực hành thì cần phải thừa nhận sự tồn tại song song hai
một tốp nữ bản bên.
Đám trai bản cất lời hát ướm:
Bao cô gái xinh đẹp
Ở nơi nào đến đây
Thăm ông bà cha mẹ
Hay thăm nhà người yêu
Đáp lại, một cô trong tốp nữ ấy hát:
Em từ bản xa đến đây
Không thăm cha thăm mẹ
Muốn tìm người trai tài
Dẫn về thăm cha mẹ của em
Bên trai lại hát:
Ta hát thì không hay
Nhưng lo lắng quá
Em có dẫn ta về
Như lời em đã ngỏ
Nữ đáp lại:
Lòng anh em đã biết
Như câu hát anh trao
Ngày vui ta xin hẹn
Vào ngày này năm sau
Và như đã hiểu ý nhau, nhiều đôi nam nữ trong tốp hát ấy dân dần từ
tách riêng để tìm hiểu và trao duyên.
* Hát từng đôi:
Hát đôi cũng là hình thức hát tự phát, nội dung lời hát cũng do đôi trai
gái ứng tác mà nên. Sau những cuộc hát tốp, nhiều đôi nam nữ nhận được
những “ tín hiệu riêng” và họ tách ra hát từng đôi để tìm hiểu, giao duyên với
nhau. Các cuộc hát đôi thường gần gũi, sâu sắc, tình tứ. Dưới các lùm cây,
người. Điều này được phản ánh đậm nét trong văn học dân gian Cống. trong
ca dao, dân ca có những lời ca thể hiện tâm tình của chàng trai với người con
gái chăm chỉ lao động:
‘‘Mờ sương em lên nương làm cỏ
Gà lên chuồng em từ ruộng về
Trên lưng thêm địu củi
Áo em thẫm màu, anh thương’’.
Trong những câu hát giao duyên, trai gái Cống thể hiện sự gắn bó, hòa
quyện giữa tình yêu đôi lứa với tình yêu lao động:
‘‘Vào mùa nương anh cùng em đốt nương
Chúng mình cùng nhau đi tra hạt
Đến ngày lúa chin chĩu bông
Anh cùng em đi gặt hái’’.
Những câu hát ấy trước hết thể hiện niềm vui, sự đoàn kết trong lao
động. Nhưng đằng sau đó là cả một quan niệm về tình yêu của đồng bào
người Cống. Trong lao động, những đôi lứa yêu nhau sẽ luôn bên nhau, vui
lao động, không chỉ mong sản phẩm lao động chĩu bông mà ẩn trong đó là
khát vọng tình yêu đơm hoa kết trái.
Trong cuộc hát, trong niềm vui gặp gỡ tràn đầy, chàng trai, cô gái người
Cống mong ước được thành đôi lứa, khát khao nên duyên chồng vợ không chỉ
đơn thuần là khao khát hạnh phúc lứa dôi mà mong thành lứa đôi để cùng
chung tay lao động, lao động để bồi đắp cho tình yêu bền vững:
“Nếu lời ghi lời mà nhớ
Ngày thêm ngày không quên
Đến ngày lúa nương chin
Em nhờ anh về gặt đỡ em’’.
Công việc lao động của người Cống rất vất vả bởi ruộng ít, chủ yếu
phải làm nương rẫy, kiểu thổ canh hốc đá rất vất vả, năng suất lại không cao,
“ Bà mụ cho gia đình đứa con,
Đủ chân tay mặt mũi, nhưng còn bé bỏng,
Xin tổ tiên đón nhận, phù hộ cho cháu bé,
Che chở cho cháu bé.”
Dân ca lễ cưới: Gồm hai loại: hát nghi thức và hát vui chơi. Hát nghi
thức phải do các nghệ nhân thong thuộc các bài hát ướm hỏi, những người
này là đại diện cho nhà trai và đại diện cho nhà gái hát để mô phỏng nghi lễ,
trao đổi với nhau các vấn đề cưới hỏi với những nghi thức cố định. Đồng bào
gọi là ông mối, bà mối:
Ví dụ: Ông mối nhà trai bắt đầu đến nhà gái hát:
“Nắng có quyền của nắng
Mưa có quyền của mưa
Bố mẹ có quyền của bố mẹ
Hôm nay chúng tôi đến đây
Thăm nhà sinnh con gái hay làm
Mong nối đường hai nhà đi lại”.
Nhà gái trả lời:
“Trăng có quyền của trăng
Sao có quyền của sao
Các bác đến thăm nhà
Lời đầu tiên xin mời vào uống nước…”
Trong đám cưới người Cống, các nghệ nhân ngẫu hứng chúc mừng bố
mẹ, chúc mừng cô dâu, chú rể của những người dự cưới. Thậm chí trong đám
cưới trai gái còn ngỏ lời, ướm lời hò hẹn của thanh niên nhà trai với thanh
niên nhà gái trước khi chia tay hoặc những bài than thân hoặc thể hiện nỗi
nhớ nhung của gia đình với con gái sắp đi lấy chồng.
Dân ca, dân vũ trong lễ mừng nhà mới: Khi một gia đình nào đó trong
bản tổ chức lên nhà mới đương nhiên trở thành ngày hội vui của cả bản, ngày
Hát ru: Bài ca ru con của người Cống khá phong phú với những bài hát
ru buổi sáng, buổi trưa, buổi tối và tùy từng đối tượng hát mà có hát ru của bà
ru cháu, mẹ ru con, chị ru em… nội dung chủ yếu là tình cảm mẹ thương con,
dạy con nỗi vất vả của cha mẹ, khuyên con tránh thói hư tật xấu, có khi lời hát
giới thiệu cho trẻ những hình ảnh gần gũi với núi rừng. Bài hát ru thường gồm
ba phần: phần đầu tạo nhịp êm ái ru ngủ, phần sau khuyên răn đứa trẻ, kết
thúc là nhắc đứa trẻ ngủ ngoan. Hát ru con chứa đựng biết bao điều nói về
cuộc sống, về sự hình thành nhân cách của tuổi thơ, của một đời người mà
người mẹ đã gửi gắm trọn vẹn tấm long qua lời hát:
“Con là bông hoa thơm của mẹ
Là cánh nỏ chắc của cha,
Ngủ cho thật ngoan,
Ăn cho thật khỏe,
Mai kia con biết xuống suối bắt cá cho mẹ,
Biết lên nương ngăn khỉ cho cha’’.
Hát ru con truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ
khác, nhằm biểu hiện những trạng thái tình cảm của người phụ nữ mà tuổi thơ
là đối tượng trực tiếp được hưởng thụ, thưởng thức những giai điệu ngọt
ngào, đằm thắm, chan chứa niềm yêu. Nghe mẹ, bà, chị hát đứa bé có hiểu gì
đâu những nội dung sâu sắc của cái hồn ca dao về nhân tình thế thái, vì có lúc
mẹ chúng mượn lời hát để nói về cuộc đời,nói với người thương về một nỗi
cay đắng, bất hạnh:
‘‘Không có con, mẹ như cây không có quả
Không có con mẹ như cây không có hoa
Cây không quả người ta sớm chặt
Cây không hoa người ta sớm nhổ vứt đi’’.
Hay nói về nguồn hạnh phúc tràn trề trong cõi người ta:
‘‘Suối bên nhà đầy cá
trong săn bắt, hái lượm, phổ biến những kinh nghiệm về thời tiết thời vụ.
“Ăn tết xong
Làm mùa thì tốt
(Nhắm mo, ho càng chanh chà
Chả biêu hình ảnh, nhàng gia hề chà)”.
Người Cống giỏi sông suối, họ có thể mò cá dưới nước không cần công
cụ đánh bắt. Trong số hành trang lên nhà mới, nhất thiết phải có bộ tay chài/
công cụ đánh bắt cá chủ yếu trên sông suối. Họ có kinh nghiệm hay có thể nói
là tri thức về chế biến thực phẩm từ song suối:
“Cá nấu măng chua thì ngon
Cua nấu dưa chua thì ngọt
(Sán chu tế né
Lăng tố càng sắn)”.
Trong mọi mối quan hệ xã hội, trong đối nhân xử thế, triêt lý sống,
người ta thường dùng thành ngữ, tục ngữ để tỏ thái độ, để khuyên răn nhắc
nhở:
“Rượu nhạt chớ xem thường
Uống nhiều cũng say
(Tằng khá trỏ lò
G hứ pi me, mà hú tia cạ
G hờ ơ dịa lê ơ xằng)”.
Rất nhiều câu ca ngợi người lao động cần cù, siêng năng, chăm chỉ,
một nắng hai sương mới có ăn, lười biếng thì đói khổ, lới hát mộc mạc và
giản dị như sau:
“Vất vả miếng ăn ngon
Nhàn hạ miếng ăn đói
(Chang xư trá xa
Chang xa chú xà)’’.