Tìm hiểu, mô tả, đánh giá về đề xuất bảo tồn những giá trị văn nghệ dân gian của tộc người ê đê - Pdf 48

MỞ ĐẦU
Nước ta gồm 54 dân tộc anh em đoàn kết, gắn bó với nhau trong suốt chiều
dài lịch sử bảo vệ, xây dựng đất nước. Văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số là
một bộ phận quan trọng tạo nên nền văn hóa Việt Nam đa dạng, phong phú trong
thống nhất. Trong đó văn nghệ dân gian có một vai trò, tầm ảnh hưởng đặc biệt.
Văn nghệ dân gian bao gồm những sáng tác nghệ thuật dân gian, tức là gồm văn
học dân gian và các ngành nghệ thuật dân gian khác như âm nhạc, hội họa, kiến
trúc, điêu khắc dân gian.
Văn nghệ dân gian truyền thống luôn luôn gắn liền với đời sống của cộng đồng
các dân tộc, nó là hơi thở, là máu thịt, là niềm đam mê sáng tạo, hưởng thụ
không bao giờ ngưng nghỉ, vơi cạn trong lòng người dân và trong dòng chảy
chung của một nền văn hoá đa sắc màu trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Trong nền văn hóa văn nghệ dân gian vốn phong phú đa dạng của dân tộc
Việt Nam, không thể không nói đến sự góp mặt của văn nghệ dân gian của đồng
bào Ê Đê. Trải qua quá trình đấu tranh lâu dài chống lại thiên nhiên khắc nghiệt
và xã hội phong kiến bất công để tồn tại và phát triển, người Ê Đê đã sáng tạo
nên những giá trị văn hóa truyền thống giàu bản sắc. Đó là những sáng tác nghệ
thuật của đồng bào truyền từ đời này qua đời khác nó nảy sinh và tồn tại như
một bộ phận hợp thành của sinh hoạt nhân dân.
Sau khi được học xong học phần: ‘‘Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam’’
đã cho tôi những kiến thức vững vàng, những tri thức đầy bổ ích về văn hóa các
dân tộc Việt Nam. Đặc biệt là văn nghệ dân gian của dân tộc Ê Đê đã đưa tôi đến
với những làn điệu trữ tình sâu lắng, những điệu múa nhẹ nhàng nhưng cũng có
phần sôi động, những lời ca ngọt ngào và những truyện cổ đầy sự tích…. Vì vậy,
tôi chọn đề tài: ‘‘Tìm hiểu, mô tả, đánh giá về đề xuất bảo tồn những giá trị văn
nghệ dân gian của tộc người Ê Đê” để cho mọi người khắp mọi miền đều được
biết đến và hòa nhịp trong nền văn nghệ dân gian vốn phong phú của dân tộc Ê
Đê.


NỘI DUNG

Khu vực III: Là các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, các
xã ở vùng sâu, vùng biên giới, xa các trung tâm huyện, thành phố, địa hình bị
chia cắt mạnh, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn; các dịch vụ xã hội còn hạn
chế.
1.1.2 Diện tích
Diện tích tự nhiên: 13.062 km²
1.1.3 Lịch sử hình thành tỉnh Đắk Lắk
Đắk Lắk được thành lập theo nghị định ngày 22 tháng 11 năm 1904 của Toàn
quyền Đông Dương và tách khỏi Lào, đặt dưới quyền cai trị của Khâm sứ Trung
Kỳ. Trước đó, vào cuối thế kỷ 19, Đắk Lắk thuộc địa phận đại lý hành
chính Kontum và bị Pháp nhập vào Lào. Đến ngày 9 tháng 2 năm 1913 thì tỉnh
này trở thành một đại lý hành chính trực thuộc tỉnh Kon Tum được thành lập
cùng ngày. Mãi đến ngày 2 tháng 7 năm 1923 tỉnh Đắk Lắk mới được thành lập
lại. Lúc mới thành lập, Đắk Lắk chưa chia huyện, tổng mà chỉ có đơn vị làng
(còn gọi là buôn hay bon), người Ê Đê có 151 làng, người Bih có 24 làng, người
Gia Rai có 11 làng, người Krung có 28 làng, người M'dhur có 120 làng, người
M'Nông có 117 làng, người Xiêm có 1 làng. Năm 1931, trong cuộc cải cách
hành chính toàn Đông Dương, tỉnh Đắk Lắk được chia làm 5 quận, gồm
có Buôn Mê Thuột, Buôn Hồ, Đăk Song, Lăk và M'Đrăk, dưới có 440 làng.
Trải qua những biến động thăng trầm của lịch sử, địa lý Đắk Lắk cũng có
nhiều thay đổi. Năm 2003, Quốc hội ra Nghị quyết số 22/2003/QH.11 chia tỉnh
Đắk Lắk thành hai tỉnh mới là Đắk Lắk và Đắk Nông. Từ đó, tỉnh Đắk Lắk có
15 đơn vị hành chính gồm thành phố Buôn Ma Thuột, 1 thị xã Buôn Hồ và 12
huyện: Buôn Đôn, Cư M'gar, Ea H'leo, Ea Kar, Ea Súp, Krông Ana, Krông
Bông, Krông Búk, Krông Năng, Krông Pắk, Lắk, M'đrắk.
1.1.4 Kinh tế - văn hóa


Nằm ở vị trí địa lý gần như trung tâm của vùng cao nguyên Tây Nguyên,
Đắk Lắk có những thuận lợi phát triển kinh tế xã hội. Thuận lợi giao lưu kinh tế

tỉnh. Phân bố chủ yếu ở thành phố Buôn Ma Thuật, thị xã Buôn Hồ và các
huyện Krông Bông, Lăk, Buôn Đôn, Cư Kuin.
1.2.3 Đặc điểm kinh tế
Người Ê Đê làm rẫy là chính, riêng nhóm Bíh làm ruộng nước theo lối cổ sơ,
dùng trâu dẫm đất thay việc cày, cuốc đất. Ngoài trồng trọt còn chăn nuôi, săn
bắn, hái lượm, đánh cá, đan lát, dệt vải. Trên nương rẫy, ngoài cây chính là lúa
còn có ngô, khoai, bầu, thuốc lá, bí, hành, ớt, bông. Đặc điểm làm rẫy của người
Ê Đê là chế độ luân khoảnh, tức là bên cạnh những khu đất đang canh tác còn có
những khu đất để hoang để phục hồi sự màu mỡ. Ngày nay người Ê Đê gắn
mình với sản xuất nông sản cây công nghiệp: cà phê, cao su, hồ tiêu, ca cao,...
Nghề trồng trọt ở đây có nuôi trâu, bò, voi. Người dân ở đây còn tự làm ra được
đồ đan lát, bát đồng, đồ gỗ, đồ trang sức, đồ gốm.
1.2.4 Quan hệ cộng đồng của dân tộc Ê Đê
Gia đình Ê Ðê là gia đình mẫu hệ, hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con mang họ
mẹ, con gái út là người thừa kế nhà thờ cúng ông bà và có trách nhiệm nuôi
dưỡng cha mẹ già, đàn ông kết hôn và sinh sống tại nhà vợ . Xã hội Ê Ðê vận
hành theo tập quán pháp truyền của tổ chức gia đình mẫu hệ. Cả cộng đồng
được chia làm hai hệ dòng để thực hiện hôn nhân trao đổi. Làng gọi là buôn và
là đơn vị cư trú cơ bản, cũng là tổ chức xã hội duy nhất. Người trong một buôn
thuộc về nhiều chi họ của cả hai hệ dòng nhưng vẫn có một chi họ là hạt nhân.
Ðứng đầu mỗi làng có một người được gọi là chủ bến nước (Pô pin ca) thay mặt
vợ điều hành mọi hoạt động của cộng đồng.
1.2.5 Phong tục tập quán
1.2.5.1
Nhà ở
Đặc điểm chính của nhà dài Ê Đê là thường rất dài vì là nơi ở chung có khi
của cả một dòng họ và thường xuyên được nối dài thêm mỗi khi một thành viên
nữ trong gia đình xây dựng gia thất. Vì vậy có những huyền thoại nhà dài như



đổ đất nện, sau đó đốt lửa trên đó cả ngày với mục đích giữ lửa và để
chống muỗi và các loại côn trùng khác.
Mái nhà bằng cỏ tranh, vách bằng tre nứa, và Kpan.
Người Ê Đê có tập quán là khi đi ngủ thì đầu quay về hướng Đông và chân
quay về hướng Tây. Do đó nhà dài theo hướng Bắc Nam. Chỗ ngủ được ngăn
đơn giản bằng những thành tre làm nhiều ngăn. Ngăn đầu tiên là ngăn của vợ
chồng chủ nhà, tiếp theo là ngăn người con gái chưa lấy chồng, sau đó đến các
ngăn của vợ chống những người con gái đã lấy chồng, cuối cùng là ngăn dành
cho khách.
Mỗi đầu nhà có một sân sàn. Sân sàn ở phía cửa chính được gọi là sân khách.
Muốn vào nhà phải qua sân sàn. Nhà càng khá giả thì sân khách càng rộng,
khang trang.
Cầu thang nhà của người Ê Đê luôn được đẽo bằng tay và thường được trang
trí bằng hình hai nhũ hoa (trông thể hiện tín ngưỡng phồn thực rõ rệt của người
Ê Đê) và hình trăng khuyết.
Các cột, kèo thường đẽo gọt, trang trí bằng hình ảnh các con vật như voi, ba
ba, kì đà... Cũng như cầu thang, các vật trang trí này luôn được đẽo bằng tay với
cây rìu truyền thống.
1.2.5.2

Trang phục truyền thống

Theo truyền thống, trang phục của người dân Êđê là màu đen hoặc màu
chàm, trên đó có những họa tiết hoa văn sặc sỡ. Phần lớn, đàn bà đều mặc váy,
quấn váy (tiếng địa phương gọi là Ieng), đàn ông thì đóng khố (Kpin), mặc áo.
Đồng bào dân tộc Êđê còn rất thích dùng các đồ trang sức bằng bạc, đồng hay
hạt cườm, họ cũng mang hoa tai và vòng cổ khi ra khỏi nhà thường đeo bên
mình gùi và ngậm tấu.




màu. Hai loại khố dùng thường ngày tring nhà hay đi nương là khố bơng và
mlang, dùng loại này ngắn, ít hoa văn trang trí, không có tua màu.
Về mùa lạnh, đàn ông Êđê thường khoác tầm mềm Abăn dệt bằng sợi bông,
nhuộm chàm, trên đó trang trí những đường hoa văn. Hình ảnh này tạo đã góp
phần tạo nên hình tượng người con trai mạnh mẽ và hùng dũng giữa núi rừng
đại ngàn Tây Nguyên.
Về trang phục nữ: Phụ nữ Êđê mặc loại áo cánh ngắn, may kiểu chui đầu.
Không giống như áo chui đầu của nam giới, áo chui đầu của phụ nữ khoét cổ
cao hơn, mở rộng cổ để chui đầu ở phía vai, có đơm thêm vài hàng khuy để cài.
Bàn tay khéo léo của phụ nữ Êđê được thể hiện qua những đường may sợi
chỉ, họ đã kết hợp những đường viền và các dải hoa văn nhỏ bằng sợi chỉ màu
đỏ, trắng hoặc vàng. Loại áo sang và đẹp gọi là áo đếch theo tên của dải hoa văn
nơi gấu áo. Trang trí trên áo thường ở đường bờ vai, nách bả vai, cửa tay,
thân áo dài đến mông để khi mặc cho ra ngoài váy, trong khi đó, tay áo thường
ngắn và hẹp, gấu áo chỉ chấm thắt lưng nên khi mặc làm nổi những đường nét
khỏe khoắn của cơ thể phụ nữ.
Trang phục truyền thống của người phụ nữ Êđê độc đáo và khá lạ so với
nhiều vùng miền khác ở chỗ phong cách trang trí là không có đường ở giữa thân
áo. Đếch là tên gọi mảng hoa văn chính ở gấu áo. Ngoài ra phụ nữ còn có áo lót
cộc tay (áo yếm).
Hàng ngày, đồng bào dân tộc Êđê thường mặc loại áo băl. Loại áo này không
trang trí hoa văn. Những người già lão ở đây còn ưa mặc một loại áo lót trong
gọi là ao yên, chỉ có phần vải che ngực.
Phụ nữ Êđê diện nhiều loại váy khác nhau. Váy loại tốt là myêng đếch, rồi
đến myêng đrai, myêng piêck. Loại váy này mặc trong những dịp hội hè long
trọng, trong cưới xin, nhất là của những gia đình khá giả. Váy kdruêch piêck
cũng là loại váy sang, nhưng không đẹp bằng hai loại váy kể trên. Còn váy bơng






Luật tục


Để đảm bảo duy trì hôn nhân hạnh phúc cho mọi gia đình, nếu có trường
hợp vi phạm chế độ một vợ một chồng thì bị phạt rất nặng như phạt trâu, bò,
chiêng, ché... tùy theo mức độ vi phạm và khả năng đáp ứng hình phạt của
người vi phạm mà thường do già làng quyết định.



Lễ hỏi chồng Nao Nuh

Trai gái tìm hiểu nhau, quyết định đi đến thành hôn thì trước tiên phải thông
qua đám hỏi. Nhà gái chuẩn bị lễ hỏi gồm một chén rượu và một vòng đồng để
cúng thần, sau đó cô gái cùng ông mối đến nhà trai. Nếu ở khác buôn thì những
người đi hỏi mang theo cơm nếp với ý nghĩa để đôi trai gái gắn bó với nhau như
cơm nếp. ĐămĐêi (anh, em trai bên mẹ) cầm chiếc vòng đã được cúng thần để
hỏi chàng trai, nếu chàng trai ưng thuận thì họ làm lễ trao vòng: Cô gái và
chàng trai chạm tay vào chiếc vòng (đây là lời giao ước hôn thú). Từ đó coi như
hai gia đình trở thành thông gia, mỗi gia đình cử ra Miết Ava (người đỡ đầu) của
mình đại diện cho hai gia đình giúp đôi trai gái nên vợ nên chồng cũng như
tham gia khuyên răn và hòa giải những bất hòa giữa hai gia đình.
Nếu trong trường hợp người con trai không đồng ý thì nhà trai làm một nghi
lễ nhỏ mời nhà gái đến dự để tỏ lòng tôn trọng và duy trì sự hòa thuận với nhau.
Theo quan niệm của người Êđê việc từ chối hôn lễ là từ chối hôn nhân của một
dòng họ, ảnh hưởng và gây tổn thương rất lớn đến lòng tự trọng của không
những một gia đình mà còn cả một dòng họ. Do đó cần thiết phải có sự thể hiện




08 vòng đồng: Tượng trưng 08 lễ cúng trong chu kỳ sống của một con người
trước khi lập gia đình.



01 cái chăn: Trả cho mẹ chồng đã địu chồng lúc còn nhỏ

Ngoài ba lễ vật trên còn có nhiều vòng đồng để phát cho các thành viên của gia
đình cồng.



Lễ rước rể

Nhà trai tiễn con bằng một ché rượu và một con heo. Trên đường về nhà gái,
chú rể được tặng nhiều vòng đồng - coi đó là lời cam kết thủy chung và lời chúc
tụng hạnh phúc (thường thường, trong khi rước rể, một tốp thanh niên tinh
nghịch sẽ đón đường té nước vào chú rể để thay lời chúc phúc cho đôi bạn trẻ).
Trong nghi lễ, khi chủ nhà và khách đã yên vị, mọi người tiến hành lễ cúng cho


mẹ chồng 01 ché rượu, 01 con heo. Sau đó là lễ cúng tổ tiên gồm 05 ché rượu
và 01 con heo. Một Đăm Đêi lấy máu con vật hiến sinh bôi lên chân đôi vợ
chồng mới cưới, chúc cho hai người 2 miếng cơm với 3 sừng rượu. Vị trưởng
họ nhà gái đại diện hai bên trao vòng đồng cho đôi vợ chồng trẻ chạm tay và
nhắc nhở lòng chung thủy ở mỗi người. Khách dự lần lượt đi qua mặt hai vợ
chồng chúc tụng và tặng quà.

tộc. Cùng với đàn klongput, đàn t’rưng, sáo ... tạo nên sự phong phú, đa thanh
sắc trong lễ hội, trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Đàn đá là loại nhạc cụ cổ
nhất.
Càng đi sâu vào lễ hội của dân tộc càng thấy rõ tính văn hóa lễ hội quyện
vào trong cuộc sống hàng ngày: Văn hóa cồng chiêng, văn hóa sử thi, văn hóa
gia tộc, văn hóa lễ hội, sinh hoạt cộng đồng. Tiêu biểu là lễ hội Cúng Bến nước.
Có thể nói nghi lễ và lễ hội của dân tộc Ê Đê là rào chắn tốt nhất để bảo vệ
bản sắc văn hóa, gìn giữ phong tục tập quán và nếp sống tốt đẹp của cộng đồng.
Thực tế chó thấy, ở những nơi hẻo lánh, xa xôi, nghi lễ - lễ hội được gìn giữ và
thể hiện ở dạng nguyên sơ hơn vùng trung tâm thị trấn, thị tứ. Các nghi lễ - lễ
hội dân gian ở đây thương được phân theo hai hệ thống: lễ nông nghiệp vè lễ
dòng đời người.
Lễ nông nghiệp thường được tổ chức trước và trong mùa rẫy (mùa mưa).
Các lễ vòng đời thường tổ chức sau mùa rẫy (vào mùa khô và dịp đầu xuân).
Tùy theo từng lễ, có thể tổ chức theo từng gia đình riêng lẻ, rộng ra nữa là dòng
hộ, hoặc trong buôn làng. Tất nhiên lễ nào cùng phải thể hiện đủ ba yếu tố: thời
gian, địa điểm, quy mô. Nghi lễ - lễ hội dân gian người Ê Đê không mang tính
tôn giáo mà mang tính chất tâm ling đa thần. Hình thức của của lễ thường gắn
với việc cúng thần và lễ vật hiến thần. Lễ vật hiến thần nhỏ nhất là con gà, chén
rượu, cao hơn là hiến heo, bò trâu cùng hàng chục chén rượu. Lễ nhỏ thường tổ
chức trong một ngày, lễ lớn từ ba đến bảy ngày. Tùy theo từng loại lễ mà thu hút
cả dòng họ, cả buôn, hoặc nhiều buôn tham gia.


Lễ hội mùa xuân là lễ hội tiêu biểu nhất của người Ê Đê. Lễ hội được tổ
chức sau mùa gặt hái, đón năm mới. Theo phong tục của các dân tộc Ê Đê, hàng
năm vào dịp kết thúc một mùa rẫy là các dân tộc nơi đây cùng tổ chức lễ hội
đón năm mới (gọi là mùa ăn năm, uống tháng). Sau lễ ăn cơm mới, các buôn
làng tổ chức lễ cúng bến nước, để cầu mong mưa thuận, gió hòa, nguồn nước
dồi dào, trong lành, mọi người khỏe mạnh, nhà nhà nhiều lúa, bắp, trâu, bò, heo,

Lễ cúng cầu mưa, cúng thần gió, cầu một năm mưa thuận gió hòa, làm ăn
phát đạt, nhà nhà no ấm, hạnh phúc.

Những giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc Ê Đê
2.1 Truyện cổ

2.


Truyện cổ Ê Đê chiếm một vị trí đáng kể trong kho tàng phônclo của dân
tộc này. Là thể loại tự sự, nó phản ánh khá rộng hiện thực cuộc sống và những
nhận thức của người Ê Đê về tự nhiên, xã hội cũng như những mong muốn của
họ về một cuộc sống hạnh phúc và tốt đẹp hơn.
Người Ê Đê gọi các câu chuyện xưa kia của mình là klei đưm. Trong vốn từ
vựng Ê Đê, klei nghĩa là lời, đưm nghĩa là xa xưa. Klei đưm chỉ được truyền
bằng miệng từ đời này sang đời khác, từ vùng này qua vùng khác. Trong quá
trình sáng tác và lưu truyền, nó mang sắc thái từng địa phương và biến đổi trong
điều kiện không gian, thời gian mà nó tồn tại.
Truyện kể Ê Đê được lưu hành dưới hình thức văn xuôi, đôi khi xen vào một vài
câu duê (văn vần), làm cho truyện kể thêm hấp dẫn, gợi cảm. Truyện khá phong
phú về tình tiết nhưng cốt truyện thường đơn giản, ngắn gọn.
Căn cứ vào nội dung phản ánh và hình thức thể hiện, chia truyện cổ Ê Đê thành:
thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn.
2.1.1 Truyền thuyết
Truyền thuyết Ê Đê và quan niệm hiện thời của đồng bào vẫn cho rằng họ từ
“thế giới khác” chui qua hang Ađrênh đến sinh sống ở thế giới chúng ta. Quan
niệm phi thực tế và mơ hồ này chừng mực nào đó vẫn phản ánh quá trình sinh
sống, làm ăn và sự hình thành buôn làng người Ê Đê trên vùng đất Tây nguyên.
Sự hình thành các dòng sông, ngọn núi đều gắn với sức lao động bền bỉ của các
chàng trai Ê Đê cần cù, thông minh, tình nghĩa (sự tích núi Yang Mao, sự tích

xuất hiên ở các vùng, người ta cho rằng đấy là do tù trưởng Lửa và tù trưởng
Nước gây ra.
Truyện tù trưởng Lửa và tù trưởng Nước, nếu bỏ đi màn sương thần linh, thì đó
là hình ảnh của các tù trưởng hùng mạnh ở vùng Tây Nguyên.
Khi sáng tạo các truyền thuyết, các nghệ nhân Ê Đê thường có xu hướng lấy
một vât thể (dòng sông, mặt trời, mặt trăng, suối,..) trong vũ trụ, trong địa vực
mình cư chú để gắn tên nhân vật hoặc chi tiết điển hình nhất của nhân vật cho
các vật thể đó. Trong truyền thuyết về Dòng Krông Buc, nghệ nhân đã lấy chi
tiết “tóc” của hai người con gái để đặt tên cho dòng sông (krông buc, tức là tóc).
Vì thế, dù truyền thuyết có chứa đựng nhiều yếu tố hoang đường đi nữa, nhưng
người ta vẫn tin rằng điều truyền thuyết kể là có thật.
2.1.2 Truyện cổ tích
Truyện cổ tích Ê Đê giải thích một số phong tục tập quán của họ. Truyện
Sự tích Kèn đinh năm (sáu ống) đã nói đến một trong những phong tục của


người Ê Đê. Truyện kể rằng, ngày xưa có hai vợ chồng nọ ăn ở với nhau đã lâu
mà vẫn không có con... Nay nhờ vào sự linh dị siêu nhiên mà người vợ sinh một
lúc sáu đứa con (ba trai, ba gái). Người cha lên rừng chặt về sáu ống nứa dài
ngắn cho các con và dự định rằng, đứa nào lấy ống dài hơn sẽ là chị, là anh.
Người con trai út lấy ống nứa đó cắm vào một quả bầu khô thành kèn đinh năm,
thổi thật buồn thương, sầu não. Ngày cha mất, người con út đem kèn ra thổi,
những người dự đám tang, người thì khóc, người thì hát theo tiếng ken... Từ đó,
mỗi khi trong buôn làng có người chết, người con trai út kia lại lấy kèn ra thổi
để bày tỏ lòng nhớ cha, nhớ người đã khuất.
Truyện cổ tích Ê Đê là tấm gương phản chiếu khá phong phú và chân thực
đời sống của người Ê Đê. Một bức tranh đại thể về đời sống xã hội Ê Đê: từ váy,
khố, bầu nước, bến nước, nhà dài, nương rẫy, từ những nhạc cụ tự tạo như đinh
năm, tù và cho đến những đồ vật quý như chiêng ché; từ giấc mơ, cầu khấn đến
nghi lễ, tín ngưỡng mà bây giờ vẫn còn lưu hành... Đời sống xã hội Ê Đê, dù ít

2.2 Sử thi
Người Ê Đê có tập sử thi rất phong phú, gần 80 sử thi, nổi bật là các sử thi
như Đam San, Đăm Di, Khinh Dú, Đăm Đơ Roăn, Y Prao, Mhiêng, Đăm Di đi
săn, Đăm Tiông, Đăm Trao – Đăm Rao… Người Êđê gọi sử thi là klei khan.
Klei nghĩa là lời, bài; khan nghĩa là hát kể. Hát kể klei khan không phải là hát kể
thông thường mà bao gồm ý nghĩa ngợi ca. Thực chất đây là một hình thức kể
chuyện tổng hợp được thông qua hát kể. Hát kể sử thi là loại hình sinh hoạt văn
hóa dân gian đã có từ lâu đời của cộng đồng người Ê đê, được tồn tại bằng hình
thức truyền miệng từ đời này qua đời khác.
2.2.1 Nội dung
Nội dung cơ bản của sử thi Êđê chủ yếu ca ngợi, tôn vinh những người có
công với cộng đồng buôn làng; đề cao sự sáng tạo, sự mưu trí tài giỏi, ca ngợi
tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau lúc khó khăn hoạn nạn, đề cao chính
nghĩa, phản kháng những điều trái với đạo lý, luật tục; đề cao cái đẹp về sức
mạnh hình thể lẫn sức mạnh tâm hồn. Sử thi còn ca ngợi tình yêu đôi lứa, tình
cảm gia đình, chế độ nô lệ sơ khai, mong muốn chinh phục thiên nhiên để cuộc
sống tốt đẹp hơn. Ngoài ra, sử thi còn miêu tả cuộc sống sinh hoạt, lao động
bình thường giản dị của buôn làng; thể hiện những nguyện vọng, ước mơ chính
đáng của con người về một thế giới tốt đẹp hơn giữa người với người, giữa con
người với thế giới tự nhiên và giữa con người với các đấng thần linh...


2.2.2 Cốt truyện
Cốt truyện của sử thi Ê Đê tuy lặp lại các sự kiện, hành động trong nhiều cốt
truyện, nhưng mỗi cốt truyện tồn tại độc lập và có kết cấu khá hoàn chỉnh.
Kết cấu cốt truyện sử thi Ê Đê ở phần mở đầu và kết thúc các tác phẩm cơ
bản là khác nhau. Cấu trúc cốt truyện khan sử thi Ê Đê, nhìn chung theo trục
sau: sự xuất hiện thần kỳ của nhân vật chính, người con gái đi hỏi chồng, trai
gái gặp nhau trong rừng và yêu nhau, ... Qua các sự kiện này, các nhân vật sẽ
thực hiện hành động của mình, rồi đến việc các mtao đi cướp đoạt vợ của nhân

những nhọc nhằn của cuộc sống lao động thường ngày; đồng thời tiếp thêm
nghị lực để họ vững tin vào tương lai, giúp con người tránh xa những điều tầm
thường để vươn lên sống tốt đẹp hơn.
Sử thi thường được diễn xướng trước đám đông. Sự có mặt đông của công
chúng càng làm cho nghệ nhân có thêm sự hứng khởi. Thông thường sử thi
được hát kể tại các địa điểm: Trong chòi, ở trên rẫy, lễ bỏ mả và trong gian
khách của ngôi nhà dài. Khi hát kể, nghệ nhân thường nằm, một tay gác lên
trán, mắt như vô giác hoặc nhắm lại để tập trung trí nhớ nhằm thể hiện bài sử thi
sao cho đầy đủ và sinh động nhất.
Sử thi là một cốt truyện dài được các nghệ nhân hát kể, kết nối các sự kiện
trong sử thi một cách linh hoạt, sáng tạo và sinh động, tạo sự thống nhất về nội
dung và có sức lôi cuốn người nghe, vì thế một sử thi có thể được hát kể nhiều
ngày đêm mới kết thúc.
2.3 Lời nói vần
Trong kho tàng phônclo Ê Đê, kei duê là một thể loại văn học ý vị: Những ai có
tài duê được cộng đồng ca ngợi:
Người có lưỡi thần cho
Có môi thần tạo
Tai dính chặt với đầu
Là người tài kưt, mmuin
Trong ngôn ngữ Ê Đê, klei duê là một hợp từ. Trong đó, klei có nghĩa là lời, bài;
duê có nghĩa là nối kết. Klei duê là sự nối kết có âm có cùng vần hoặc các âm
tiết tương đồng.
Klei duê là những câu có độ dài ngắn khác nhau được diễn đạt theo lối nói
vần. Nó phản ánh sự vật, hiện tượng một cách trực tiếp hoặc dùng hình tượng để
biểu đạt một ý tưởng nào đó.


Klei duê có mặt trong hầu hết các hình thức phônclo ngôn từ của người Ê
Đê. Từ các bài cúng thần, tập quán pháp, câu đố, truyện cổ, nhất là khan sử thi

Bầy vẹt kêu là mua tuốt lúa
Nhiều kinh nghiệm sản xuất từ thực tế đã được đồng bào tổng kết trong klei duê
Kinh nghiệm canh tác: Phía bắc trồng đu đủ, phía nam trồng dừa
Kinh nghiệm cải tạo đất: Đất trắng thì đào lên, đất đen thì đào xuống
Một bài học qua klei duê: Bắp không đầy hạt là di thiếu nước
Và một kinh nghiệm được phổ biến: Mùa nắng thì trồng bắp vùng thấp


Klei duê về kinh nghiệm thời tiết, sản xuất là những bài học bổ ích thiết thực
trong cuộc sống lao động nương rẫy của người Ê Đê. Đó là những kinh nghiệm
dân gian được phổ biến qua các thế hệ và thật sự hữu ích trong cuộc sống của
họ.
2.3.2 Klei duê về sinh hoạt cộng đồng
Trong những ngày nhàn rỗi, lúc thảnh thơi, các ông già và những người Ê Đê
đứng tuổi thường đến một gia đình nào đó trong buôn làng để uống rượu cần.
Đặc biệt, khi có bạn cũ, có khách quý đến thăm buôn, chơi nhà hoặc hai người
bạn thân lâu ngày không gặp lại, bên chén rượu, người Ê Đê lại mượn lời duê
hát với nhau. Dưới đây là phần lời của làn điệu mmuin, nói về cuộc gặp gỡ và
chia tay với hai người bạn:
Người bạn thứ nhất:
Anh ở làng xa, tôi ở buôn gần
Lâu ngày chưa gặp mặt nắm tay
Bữa nay cầm tay sát mặt
Người bạn thứ hai:
Tôi đến đây không phải vì rượu
Tôi đến thăm bò lúa của anh
Tôi đến đây không phải vì gà
Trời thuận gió hòa là cái bụng vui
Người bạn thứ nhất:
Anh buộc con dao, đi ra

Tinh thần cộng đồng đó rất gần gũi với cách cư xử “chín bỏ làm mười” của
người Việt.
Trong cuộc sống, người Ê Đê rất coi trọng và tuân theo các quy định của cộng
đồng: Ai làm đúng đạo đức của cộng đồng thì người đó được bênh vực, ai làm
trái thì bị xử phạt hoặc quở trách. Những lời khuyên răn trong klei duê dù ở
hình thức nào cũng nhằm củng cố mối quan hệ cộng đồng.
Từ cái thường tình trong thực tế đến lời nhắc nhở
Qua chỗ người ta cắm chông thì trúng chông
Qua lời cha mẹ thì bị phạt
Từ lời nói cụ thể đến lời nói ví von
Trồng cây phải hỏi chú bác
Đừng như con hươu trong rừng
Với cặp sừng dậm chân một mình
Bên cạnh những lời khuyên bảo chung, những kỉ niệm của tình yêu và hạnh
phúc lứa đôi trong klei duê cũng nhằm vào việc củng cố sự gắn bó cộng đồng:
Mẹ sinh ra em
Mẹ sinh ra anh
Cùng năm cùng tháng
Cùng buôn Êa Ya
Dưới gốc ktu
Em ơi đừng quên
Mồ hôi đã thấm
Hai mình vào nhau!
Lời khuyên răn trong klei duê là tiếng nói tâm tình thủ thỉ. Mượn hình ảnh con
vật, người Ê Đê nhắc nhau sống phải có đầu có đuôi:
Ơ con vẹt cánh dài


Mày đậu cây nào
Mày đậu cây ktu

Một cái bắp cũng dành cho nhau
Và đặc biệt là chiếc vòng – motip phổ biến trong các bài ca về tình yêu:
Anh với em
Vòng đã trao
Lời thề giữ trong lòng...



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status