MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc sinh sống trên cùng một lãnh thổ.
Cộng đồng các dân tộc Việt Nam sống đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau
như anh em ruột thịt trong đó có dân tộc Mảng. Mỗi dân tộc có một nét đăc
trưng riêng, bản sắc riêng của mình góp phần làm cho nền văn hóa của các dận
tộc thiểu số của Việt Nam ngày cang phong phú và đặc sắc hơn.
Và bài tiểu luận này tôi muốn nói tới một trong 54 dân tộc anh em ở Việt
Nam, sinh sống chủ yếu ở phía bắc Việt Nam và phái nam Trung Quốc (tỉnh
Vân Nam), đó là dân tộc Mảng.
Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu về người Mảng, tôi mang muốn
được hiêuỏ hơn về con người cũng như về văn hóa dân gian của họ. Từ đó có cái
nhìn mới hơn vầ góp một phần nhỏ của mình vào việc giữ gìn và bảo tồn nét văn
hóa truyền thống của họ.
2. Mục đích nghiên cứu.
Hiểu rõ thêm về nét văn hóa nghệ thuật dân gian của người Mảng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Dân tộc Mảng ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Những nét đặc sắc về văn hóa nghệ thuật dân gian,
đời sống, sinh hoạt, văn hóa của người Mảng từ trước cho tới nay.
4. Nguồn tài liệu.
Thực tế: thu thập từ một số ngươi am hiểu về dân tộc Mảng.
Nguồn tài liệu công bố: Trên sách, báo, mạng …
2
PHẦN NỘI DUNG
nương có rìu, dao, gậy chọc lỗ.
Năng suất lúa thường thấp do đất đai cằn cỗi, rừng non, đời sống bấp
bênh, thiếu ăn quanh năm. Mấy năm gần đây họ đã biết làm nương cuốc; một số
nơi làm ruộng bậc thang, năng suất lúa ổn định hơn.
Chăn nuôi, thủ công... chưa phát triển. Hái lượm, săn bắt trong suốt 4 mùa
vẫn giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế.Người Mảng nuôi trâu, bò,
dê, gà, lợn. Nghề thủ công truyền thống của người Mảng không phong phú như
các dân tộc khác, chủ yếu và phát triển nhất là nghề đan lát, nhiều sản phẩm đan
lát của người Mảng như bem, cót, gùi rất được các dân tộc khác ưa chuộng.
Hình 1: Cái gùi của dân tộc mảng
4
1.2. Đặc điểm về trang phục và nhà ở
Mặc:Y phục truyền thống vẫn được giữ gìn mặc dù nhiều người mặc
giống người Thái hoặc Việt. Nét độc đáo trong trang phục phụ nữ Mảng là tấm
choàng quấn quanh thân được cắt may bằng vải thô màu trắng, ở giữa thêu hàng
chỉ đỏ. Khi mặc để hở yếm trắng và dây chuyền. Váy màu chàm đen có đường
viền đỏ ở gấu. Ðầu để trần, tóc buộc thành chỏm trên đầu bằng dây có tua khá
đẹp, chân quấn xà cạp bằng tấm vải màu..
Trang phục Nam mặc quần, áo xẻ ngực.
Hình 2: Trang phục của dân tộc mảng
Nhà ở: Sống quãy quần thành từng bản nhỏ. Nhà sàn, gỗ tạp, kỹ thuật thô sơ.
Hình 3: Nhà ở của dân tộc mảng
5
tháng10 âm lịch. Hàng năm, dân bản còn cúng ma bản và ma nhà để yêu cầu
yên. Ðặc biệt ở họ tồn tại hàng loạt nghi lễ liên quan đến nông nghiệp: lễ gieo
nương; cúng hồn lúa, mẹ lúa; cúng sau vụ thu hoạch...
Hình 6: Người Mảng đang làm lễ
Thờ cúng: Ma nhà được cúng vào dịp tết hoặc khi trong nhà có người đau
ốm.
Trời là đấng sáng tạo tối cao. ở đây có cả truyền thuyết về sự xuất hiện
loài người theo mô típ truyện quả bầu. Người ta quan niệm vũ trụ có bốn tầng:
Trên trời là thế giới thần linh sáng tạo, mặt đất là thế giới người và các loại ma,
dưới đất là người lùn xấu xí và dưới nước là thế giới thuồng luồng. Người Mảng
tin có nhiều ma, trong đó ma nhà có vị trí đặc biệt quan trọng. Bên cạnh đó họ
cũng thờ ma Ðẳm- tổ tiên, dòng họ,Lễ cúng hồn lúa của người Mảng …..
Người Mảng hiện vẫn giữ được những lễ hội, nghi thức của cư dân làm
8
nông nghiệp.
Điển hình nhất trong số đó là lễ cúng hồn lúa.
Hình 7: Lễ cúng hồn lúa của người Mảng
Lễ cúng hồn lúa của người Mảng thường diễn ra vào dịp lúa trên nương
chín. Trước khi gặt, các gia đình chọn ngày tốt của bà chủ nhà để làm lễ cúng
hồn lúa (lúa mới).
Vào buổi sáng ngày đã chọn, hai vợ chồng chủ nhà lên đám nương của gia
đình để làm lễ cúng. Lễ vật mang theo là: một nắm xôi nếp, đuôi cá suối nướng
(hoặc một miếng thịt gà, hay một quả trứng gà luộc) được để trong một cái cà tá.
Hai vợ chồng chủ nhà chọn một khóm lúa có ba cây lúa, bông chắc hạt.
Bà chủ nhà vặn các thân lúa quấn vào nhau rồi cuộn tròn từ gốc lên ngọn khóm
lúa, tiếp đó lấy hép cắt 3 bông lúa bỏ vào cà tá. Sau đó bà lấy một hòn đá đè lên
Lễ gọi hồn lúa và lễ ăn cơm kiêng của người Mảng diễn ra trong 3 ngày.
Trong 3 ngày ấy, người phụ nữ đi mời hồn lúa về phải kiêng ăn muối, kiêng rau
xanh, phải đun nước lá thơm để tắm rửa. 3 ngày sau, gia đình, khách khứa mới
được ăn cơm gạo mới. Nếu nhà nào không kiêng, hồn lúa sẽ giận, không về nhà
đó nữa. Hồn lúa mà không về thì vụ sau sẽ mất mùa, đói kém…
2.2.điểm về ngôn ngữ và chữ viết
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam
- Á). Nhiều người Mảng biết tiếng Thái.
2.3.Đặc điểm về văn hóa xã hội
2.3.1.Quan hệ xã hội:
10
Người đứng đầu tổ chức xã hội truyền thống là Pơgia. Ông ta cùng Hội
đồng các trưởng họ điều khiển mọi hoạt động văn hoá tôn giáo, xã hội trong bản.
Về sau tổ chức xã hội này bị phá vỡ, chịu sự chi phối của tổ chức xã hội Thái.
Tuy nhiên tổ chức Bản (Muy) vẫn duy trì theo tập quán truyền thống. Bản có
trưởng bản trông coi về thu thuế tạp dịch. Trong bản thường có một dòng họ lớn,
các trưởng họ cùng với hội đồng già làng điều hành mọi hoạt động xã hội, tôn
giáo theo tập quán. Người Mảng có năm họ chính, mỗi họ lấy một con vật làm
vật tổ.
2.3.2.Ma chay:
Tang lễ của người Mảng gồm nhiều nghi thức phức tạp, từ khâm liệm cho
đến khi chôn cất. Xưa, quan tài chủ yếu dùng vỏ cây hoặc tre ghép. Sau này,
người ta dùng thân cây khoét rỗng hay dùng hòm ván gỗ.Trong gia đình có
người chết, khi đưa đi chôn thì phải đưa ra cửa phụ, nếu nhà một cửa thì phải dỡ
bỏ một lối đi đối diện với cửa chính để mang người chết ra. Người Mảng quan
niệm, đầu của người ngủ luôn hướng dọc ra cửa chính, chân thì hướng ra cửa
phụ, nên khi chết cũng đưa ra theo chiều của chân.
2.3.3.Nhà mới:
Một số nét độc đáo trong đám cưới của người Mảng là tục châm thuốc
mời gia đình hai họ và khách khứa; hất nước, rượu, bôi nhọ nồi… vào mặt
những người trong đoàn đưa, đón dâu cho may mắn… Ở nhà trai, mọi thủ tục cơ
bản giống như khi cưới bên nhà gái, song cặp vợ chồng trẻ không phải ăn riêng
ở riêng như bên nhà gái.
Nhà gái sẽ tìm mọi cách mời rượu, bôi nhọ nồi vào mặt ông mối và những
người trong đoàn đón dâu để mong điều may mắn.
Ngày nay, quan niệm hôn nhân của người Mảng còn rất lạc hậu. Người
Mảng quan niệm rằng: “Khi con gái đi lấy chồng sinh con, những đứa con ấy
mang họ khác thì không còn là con ma của nhà mình, nên con của anh em trai và
con của chị em gái được quyền tự do tìm hiểu xây dựng gia đình”. Chính hôn
nhân cận huyết, cùng với sự thiếu hiểu biết của người Mảng nên nạn tảo hôn rất
nhiều, dẫn đến suy thoái giống nòi.
2.3.6.Tục xăm cằm của người Mảng:
Tục xăm cằm là một trong những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Mảng.
Cùng với thời gian và cuộc sống, tục này dần bị mai một. Tại Tỉnh Lai Châu,
năm 2013, đã tiến hành phục dựng tục này tại xã Bum Nưa, huyện Mường Tè.
để bảo tồn và phát huy nét văn hóa này.
Tục xăm cằmcủa người Mảng xưa đã trở thành nét văn hóa tâm linh độc
đáo và là nghi lễ không thể thiếu đối với mỗi thanh niên, nam nữ người dân tộc
Mảng khi đến tuổi trưởng thành.
Tục xăm cằm của người Mảng bắt nguồn từ truyền thuyết sau: Ngày xưa
ở bản Mảng nọ có đôi vợ chồng trẻ chịu thương, chịu khó, biết thương yêu nhau,
sống rất hạnh phúc. Họ sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng cũng từ khi sinh
con chị vợ lại sinh thêm căn bệnh lười, tham lam và ngoa ngoắt. Mọi công việc
nặng nhẹ chị đều dồn hết lên vai người chồng, nhà có gì ngon chị ta ăn bằng no,
bằng chán mà không để ý đến chồng. Đã thế mỗi khi không hài lòng chị ta lại lu
loa, đay nghiến, ăn vạ ầm ĩ…
14
người.
Nó thể hiện sự trưởng thành trong suy nghĩ, trách nhiệm hơn trong hành
động của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Đồng thời, nó cũng thể hiện tinh thần,
trách nhiệm, niềm tự hào của bậc làm cha, làm mẹ đối với các thành viên. Họ
cũng quan niệm, bất cứ người nào, khi trưởng thành nếu không xăm cằm, ngoài
việc không khẳng định được sự trưởng thành của mình, khi chết sẽ không qua
được cổng trời.
Với những quan niệm tâm linh đó, thanh niên dân tộc Mảng khi đến tuổi
trưởng thành (từ 12 – 18 tuổi) đều được các cao niên có uy tín hay bố mẹ nhắc
nhở và tổ chức xăm cằm theo một nghi lễ chứa đựng những bí ẩn không thể lý
giải.
Tuy tập tục xăm mặt của người Mảng đã thất truyền từ mấy chục năm
trước nhưng dù sao nó cũng là một tục lệ độc đáo được lưu truyền trong dân
gian còn ẩn chứa nhiều điều bí ẩn
Xăm cầm một tục lệ độc đáo của người Mảng được lưu truyền trong dân
gian.
15
Hình 10:Tục xăm cằm của người Mảng
2.4.Một số quan niệm của người Mảng
Bên cạnh đó người Mảng có những điều kiêng kị và tục lệ rất phong phú
như:
Trong cuộc sống thường nhật, người Mảng có nhiều thứ kiêng kị mang
màu sắc tâm linh, chẳng hạn, trong gia đình có người chết, khi đưa đi chôn thì
phải đưa ra cửa phụ vì bà con quan niệm, đầu của người ngủ luôn hướng dọc ra
là phong tục tập quán, lễ nghi tín ngưỡng, kĩ thuật - mĩ thuật trang trí nhà cửa,
dệt, trang phục, nhạc cụ, truyện kể dân gian, ca dao dân ca tục ngữ, hò vè... Qua
đấy, có thể hình dung khá đầy đủ sự phát triển của thế giới quan, nhân sinh quan,
cũng như những biểu hiện văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số nói chung
và dân tộc Mảng nói riêng từ những biểu hiện vật chất phương tiện đến những
biểu hiện về tinh thần, tâm linh.
Từ rất lâu đời, cùng với các dân tộc khác, dân tộc Mảng đã có nét văn
hóa, phong tục đặc sắc riêng. Đến nay, dân tộc Mảng vẫn còn lưu truyền: tục
xăm cằm, lễ ăn hỏi, các làn điệu dân ca… Để phát huy và bảo tồn bản sắc văn
hóa dân tộc Mảng, thời gian qua, huyện Nậm Nhùn đã tổ chức các hoạt động cụ
thể như: lễ hội văn hóa dân tộc Mảng, sưu tầm các câu truyện dân gian dân tộc
Mảng, các trò chơi, làn điệu dân ca...
Dân tộc Mảng sống chủ yếu ở tỉnh Lai Châu. Riêng tại huyện Nậm Nhùn,
dân tộc Mảng có 619 hộ với 2.942 nhân khẩu (chiếm 12,8% dân số toàn huyện)
sinh sống chủ yếu ở 6 xã: Trung Chải, Nậm Ban, Hua Bum, Nậm Pì, Mường Mô
và Nậm Hàng. Đời sống kinh tế của bà con dân tộc Mảng chủ yếu làm ruộng,
chăn nuôi nhỏ lẻ nhưng dân tộc Mảng cũng đã có ý thức lưu giữ những nét văn
hóa đặc sắc của dân tộc mình.
Ông Hà Văn Sơn – Phó Chủ tịch UBND huyện Nậm Nhùn cho biết: “Dân
tộc Mảng là dân tộc ít người nhất, cần được bảo tồn bản sắc văn hóa. Để lưu giữ
những nét truyền thống, trong năm nay, chúng tôi đã tổ chức Ngày hội văn hóa
dân tộc Mảng tại xã Trung Chải. Bên cạnh đó, giao cho Phòng Văn hóa và
Thông tin huyện lưu giữ những làn điệu dân ca, dân vũ, các trò chơi dân gian,
trang phục truyền thống để bảo tồn”.
Phòng Văn hóa và Thông tin huyện cử các cán bộ đến từng bản của các
xã: Nậm Pì, Trung Chải, Nậm Ban vận động bà con lưu giữ văn hóa truyền
thống, phụ nữ mặc trang phục truyền thống của dân tộc. Đối với những phong
tục tập quán có từ lâu đời cần phải lưu giữ không để mai một theo thời gian, khó
văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Mảng nối riêng
19
đang còn rất nhiều những khó khăn, tồn tại.
Cùng với sự phát triển kinh tế và quá trình hội nhập đã phần nào kéo theo
sự phá vỡ tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp của đồng bào, tạo nên môi trường văn
hóa mới pha trộn gồm văn hóa truyền thống của đồng bào kết hợp với văn hóa
của các dân tộc ở miền xuôi và văn hóa các tôn giáo khác truyền vào trong thời
gian gần đây. Một số lễ hội truyền thống mang tính cộng đồng ít được bà con
quan tâm như các lễ nghi liên quan đến nông nghiệp; sự linh thiêng của những
khu rừng cấm, dòng sông, con suối để hạn chế sự phá hại của con người đối với
môi trường sinh thái đã phai nhạt như việc tôn thờ thần núi, thần rừng thần sông,
thần suối... một số thanh thiếu niên do ảnh hưởng của môi trường sống đã không
tích cực tham gia học tập lao động sản xuất mà rượu chè và một số tệ nạn mê tín
vẫn còn tồn tại trong đồng bào, nhất là việc tin vào ma quỷ để chữa bệnh, bói
toán, yểm bùa, ma chay, nạn tảo hôn; việc quan tâm đến sức khỏe thể hiện trong
việc ăn uống, phòng và điều trị bệnh chưa được người dân quan tâm đúng mức;
tập quán du canh, du cư và phá rừng làm nương rẫy tuy có nhiều tiến bộ nhưng
vẫn còn tồn tại trong tâm lý của nhiều người; một số cán bộ công tác ở vùng dân
tộc chưa thực sự quan tâm nhiều về phong tục, tập quán, tín ngưỡng của đồng
bào nên có những hạn chế trong quá trình công tác.
Nguyên nhân của những tồn tại nêu trên đó là: Các huyện miền núi dân
tộc thiểu số hầu hết đều có địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, xuất
phát điểm nền kinh tế thấp, phát triển còn chậm và thiếu bền vững; các chương
trình, dự án đầu tư của nhà nước tuy được tăng cường nhưng hiệu quả chưa cao,
chưa đáp ứng được thực tế ở cơ sở; còn tồn tại tư tưởng trông chờ ỷ lại sự đầu tư
của nhà nước; trình độ học vấn, nhận thức của đồng bào nhìn chung thấp; một số
cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương chưa nhận thức đầy đủ vai trò của công
tác bảo tồn văn hóa dân tộc, chưa chú trọng và có biện pháp chỉ đạo tích cực,
đoàn kết xây dựng đời sống vă hóa” ở khu dân cơ mà trọng tâm là xây dựng làng
văn hóa, gia đình văn hóa.
Ba là, tổ chức nghiên cứu, sưu tầm, phục hội nâng cao các làn điệu dân
ca, dân vũ của đồng bào các dân tộc thiểu số đặc biệt là dân tộc Mảng, để đáp
21
ứng nhu cầu thực tế; xây dựng các tổ, đội văn nghệ truyền thống, nhân rộng các
mô hình điểm và tiến tới hướng dẫn con em người dân tộc biết sử dụng các nhạc
cụ cổ truyền dân tộc. Phát động việc sáng tác các bài hát, điệu múa cho đồng
bào sử dụng trong các buổi lễ, ngày hội, mừng được mùa nhằm từng bước thay
thế những phong tục tập quán lạc hậu.
Bốn là, tiếp tục tổ chức các hoạt động lớn như ngày hội văn hóa thể thao
các dân tộc, liên hoan ca múa nhạc dân gian, triển lãm văn hóa dân tộc, hội thi
giọng hát của người dân tộc thiểu số. Cần có biện pháp giúp đồng bào bảo tồn
các di sản văn hóa, bảo tồn phát huy nghề và làng nghề truyền thống, các loại
hình ngữ văn dân gian và văn học nghệ thuật truyền thống giữ gìn sắc phục của
dân tộc, khuyến khích mặc trang phục dân tộc mình vào các ngày lễ, tết...
Năm là, có định hướng trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức các lễ
hội truyền thống, lễ hội dân gian, hạn chế, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị
đoan. Nghiên cứu phát huy các giá trị tiến bộ của luật tục trong công tác xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Phục hồi và nâng cao một số lễ hội tiêu
biểu để có thể tổ chức định kỳ hàng năm.
Sáu là, tăng cường, đẩy mạnh hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ ở địa phương, có kế hoạch sử dụng các học sinh, sinh viên dân tộc được đào
tạo cơ bản ở các trường chuyên nghiệp đã tốt nghiệp ra trường để họ được về
phục địa phương và dân tộc mình.
Bẩy là, tăng cường, đẩy mạnh việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ
thuật, giao lưu, hợp tác với các địa phương trong và ngoài nước trong hoạt động
bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. http://vov4.vov.vn/TV/gioi-thieu/dan-toc-mang-cgt2-52.aspx (1)
2. https://www.youtube.com/watch?v=RMtvAJ-i75w (1)
25