MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cấu trúc tộc người được tạo nên không chỉ bởi lãnh thổ tộc người, các
hoạt động sản xuất vật chất và những thiết chế xã hội tương ứng, mà sâu xa
hơn là văn hóa tộc người. Một thể chế chính trị nhân danh quyền dân tộc
chân chính không chỉ quan tâm nhu cầu vật chất - kinh tế của dân cư, mà còn
phải chăm lo đầy đủ đời sống văn hoá tinh thần của các cộng đồng tộc người -
với tính cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Trên ý nghĩa
đó, chính sách bảo tồn, phát huy văn hoá các tộc người thiểu số chiếm một vị
trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản
Việt Nam.
Nguyên lý chung là như vậy, nhưng đi vào tình tiết cụ thể chính sách
văn hoá tộc người của Đảng Cộng sản Việt Nam ở từng nơi, từng lúc không
phải không có những thiếu sót. Đã có lúc chúng ta cường điệu hoá tính thống
nhất mà quên đi tính đa dạng của văn hoá từng tộc người, văn hoá địa
phương, ít chú ý bảo tồn, khai thác giá trị văn hoá của các tộc người thiểu số
để phục vụ cho quá trình phát triển xã hội mới. Thậm chí, có những giá trị văn
hoá truyền thống của các tộc người thiểu số đã bị lãng quên, xói mòn hoặc bị
xâm hại nghiêm trọng dưới áp lực cơ chế thị trường. Điều đó đã dẫn tới sự
phá vỡ hoặc đứt gãy kết cấu văn hoá truyền thống tộc người và tạo ra những
"khoảng trống" cho sự xâm nhập các văn hoá ngoại sinh, mà tình hình bành
trướng của đạo Tin Lành ở Tây Nguyên trong thời gian qua là một minh
chứng sinh động. Yếu tố văn hoá ngoại sinh xâm nhập đã phá vỡ đời sống
buôn/làng vốn yên tĩnh từ hàng ngàn đời nay và một khi bị kẻ thù lợi dụng đã
chuyển thành "điểm nóng" chính trị - xã hội. Thiếu sót trong hoạch định và
thực thi chính sách văn hoá tộc người ở Tây Nguyên đến nay đã được Đảng
nhận thức và sửa sai, nhưng phải cần một thời gian dài mới có thể khắc phục
được di chứng của nó. Những kết quả bước đầu bảo tồn, phát huy văn hoá tộc
người ở Tây Nguyên rất cần được tổng kết đúc rút kinh nghiệm để không
1
ngừng hoàn thiện chính sách văn hoá tộc người của Đảng trong thời gian tới.
Đồng" (1983); Đặng Nghiêm Vạn với "Các dân tộc tỉnh Gia Lai - Kon Tum"
(1981); Khổng Diễn với "Các dân tộc vùng Trường Sơn - Tây Nguyên"
(1984)… Có thể thống kê nhiều hơn nữa các công trình loại này, song đây là
những nghiên cứu tổng hợp, nên chỉ mang đến những nhận thức khái quát về
đặc điểm văn hoá các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, ít đề cập đến chính sách
văn hoá tộc người của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhóm 2: Những nghiên cứu về văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam
nói chung và văn hoá các dân tộc Tây Nguyên nói riêng. Tiêu biểu trong số này
là công trình của Ngô Đức Thịnh: "Văn hoá và phân vùng văn hoá Việt Nam"
(1993) đã xác định "không gian văn hoá Tây Nguyên" không đồng nhất với
"không gian lãnh thổ Tây Nguyên". Phan Hữu Dật, Ngô Văn Thịnh, Lê Ngọc
Thắng với: "Sắc thái văn hoá địa phương và tộc người trong chiến lược phát
triển đất nước" (1999) đã khu biệt hoá những đặc điểm của văn hoá các dân tộc
vùng Trường Sơn - Tây Nguyên. Có nghiên cứu đi sâu lý giải một khía cạnh
văn hoá - xã hội cổ truyền các dân tộc Tây Nguyên như Lê Ngọc Thắng (chủ
biên), Lâm Bá Nam: "Thiết chế xã hội cổ truyền các dân tộc thiểu số Việt
Nam" (1990); Ngô Đức Thịnh với: "Luật tục M'nông" (2000); Lưu Hùng:
"Buôn làng cổ truyền xứ Thượng" (1994); Chu Thái Sơn: "Vai trò của các tầng
lớp người già trong các xã hội truyền thống ở Trường Sơn - Tây Nguyên"
(1997);… các nghiên cứu loại này bước đầu định dạng, phân loại các giá trị
văn hoá tộc người ở Tây Nguyên và gắn với nó cũng nêu bật lên nhiều vấn đề
về thiếu sót trong bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá các tộc người của Đảng ta từ
sau năm 1975.
Nhóm 3: Những nghiên cứu về chính sách dân tộc của các thể chế cầm
quyền Việt Nam từ xưa tới nay đối với khu vực Tây Nguyên, trong đó có đề
cập đến chính sách văn hoá tộc người của Đảng Cộng sản Việt Nam. Về
chính sách dân tộc dưới thời phong kiến, gắn liền với quá trình hình thành dân
tộc và phát triển của chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam, có nghiên cứu
của Phan Hữu Dật và Lâm Bá Nam: "Chính sách dân tộc của các chính
3
Tây Nguyên, chưa có điều kiện đi sâu phân tích từng chính sách của Đảng về
bảo tồn, phát huy văn hoá cộng đồng tộc người thiểu số ở Tây Nguyên.
Nhóm 5: Những nghiên cứu chuyên biệt về tín ngưỡng tôn giáo ở Tây
Nguyên. Đây là vấn đề dành được mối quan tâm sâu sắc của giới nghiên cứu,
vì nó đe doạ trực tiếp đến yêu cầu bảo vệ văn hoá truyền thống các dân tộc
cũng như củng cố an ninh quốc gia. Đáng chú ý là nghiên cứu của Đỗ Quang
Hưng: "Kitô giáo trước buôn làng" (2002); của Trương Minh Dục: "Nhu cầu
tín ngưỡng, tôn giáo và thay đổi niềm tin tôn giáo của đồng bào các dân tộc
thiểu số Tây Nguyên hiện nay" (2003); của Ban Tôn giáo Chính phủ: "Tình
hình tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Tây Bắc,
Tây Nam Bộ" (2004);… Những nghiên cứu này bước đầu phân biệt giữa nhu
cầu khách quan về tín ngưỡng - tôn giáo của đồng bào với âm mưu lợi dụng
nhu cầu đó để truyền đạo trái phép, gây bất ổn về an ninh tôn giáo ở Tây
Nguyên mà Đảng cần nắm bắt trong quá trình hoạch định chính sách văn hoá
tộc người.
Cả năm nhóm nghiên cứu nêu trên đều rất quan trọng cho quá trình
thực hiện đề tài này, gồm cả cung cấp tiếp cận và một số tư liệu thứ cấp cần
thiết. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình riêng nào nghiên cứu về
chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo tồn, phát huy văn hoá các tộc
người thiểu số ở Tây Nguyên từ 1996 đến 2006.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích:
Làm rõ chính sách bảo tồn, phát huy văn hoá vùng Tây Nguyên của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
* Nhiệm vụ
- Làm rõ các yếu tố tác động đến quá trình hoạch định và thực thi
chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo tồn, phát huy văn hoá các
cộng đồng tộc người thiểu số ở Tây Nguyên từ 1996 đến 2006.
5
- Phân tích hệ thống chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo
6
* Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của đề tài là các phương pháp tiếp cận chung
liên ngành, gồm có phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, phương pháp
hệ thống và phân hệ.
* Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu cụ thể là phân tích và tổng hợp, so sánh,
chuyên gia,… sử dụng trong phân tích, đánh giá các nguồn tư liệu, văn kiện,
nghiên cứu liên quan, đối chiếu giữa các thời kỳ, giữa thực tế với văn bản.
6. Đóng góp của luận văn
* Về mặt tư liệu
Xây dựng một tập hợp tư liệu về chính sách bảo tồn, phát huy văn hoá
các cộng đồng tộc người thiểu số ở Tây Nguyên của Đảng Cộng sản Việt
Nam từ 1996 đến 2006.
* Về mặt nhận thức luận
+ Làm rõ chính sách của Đảng ở cấp độ vùng (phân biệt với chính sách
quốc gia và chính sách địa phương) trên một lĩnh vực cụ thể (văn hoá).
+ Rút ra một số nhận định, kết luận góp phần vào phát triển khoa học
lịch sử Đảng, nhất là nghiên cứu về chính sách vùng về văn hóa.
* Về mặt thực tiễn
Đúc kết một số kinh nghiệm về hoạch định và thực thi chính sách của
Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo tồn và phát triển văn hoá các cộng đồng tộc
người thiểu số ở Tây Nguyên.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kiến nghị và kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Chủ trương của Đảng về bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá
các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên từ năm 1996 đến năm 2000.
Chương 2: Chủ trương của Đảng về bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá
các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên từ năm 2001 đến năm 2006.
Chương 3: Ý nghĩa và kinh nghiệm lịch sử.
Nói tới Tây Nguyên là nói tới rừng, tuy đến nay đã suy giảm nhiều do
chiến tranh, do khai thác quá giới hạn của con người, nhưng độ che phủ của
rừng vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất cả nước. Cùng với rừng là thế giới động thực
vật vô cùng phong phú và quý hiếm, tạo nên một hệ sinh thái rất đặc trưng
của các dân tộc ở đây. Có thể nói, rừng là môi trường sống gần gũi và thân
thiết của cư dân các dân tộc ở đây, văn hoá của người Tây Nguyên là "văn
hoá rừng".
Sống trong môi trường sơn nguyên, khí hậu nhiệt đới gió mùa như vậy,
hoạt động sản xuất của con người hướng vào canh tác nương rẫy trồng lúa
khô là chính, chăn nuôi gia súc lớn như trâu, bò, voi khá phát triển, kết hợp
với săn bắt, hái lượm các sản phẩm rừng núi, tạo nên một lối sống nương rẫy,
tuỳ thuộc nhiều vào hoàn cảnh tự nhiên. Đời sống kinh tế mang tính tự cung
tự cấp. Tuy nhiên, mấy thập kỷ gần đây, do chuyển đổi sang trồng cây công
nghiệp (chè, cà phê, tiêu, điều…), khai thác rừng, nên kinh tế thị trường đã và
đang thâm nhập và tác động mạnh vào cơ cấu kinh tế của vùng cũng như đời
sống vật chất và tinh thần của con người các dân tộc Tây Nguyên.
Tây Nguyên và vùng phụ cận là địa bàn sinh tụ từ lâu đời của gần 20 tộc
người nói các ngôn ngữ thuộc hai dòng chính là Môn - Khmer và Malayu-
Polinesien. Từ thế kỷ XIX, đặc biệt từ thập niên 70 của thế kỷ XX tới nay,
nhiều tộc người ở các địa phương trong cả nước đã di dân đến sinh sống ở Tây
Nguyên, làm cho không chỉ dân số tăng mạnh (hơn 4 triệu người vào năm
1999) mà thành phần dân tộc cũng đa dạng hơn, với trên 40 tộc người khác
nhau gồm cả đa số và thiểu số, thiếu số tại chỗ và thiểu số nhập cư.
Trên địa bàn năm tỉnh Tây Nguyên có các tộc người: Bana, Xơ-đăng,
Giẻ-triêng, Brâu, Rơmăm, M nông, Mạ, Cơho thuộc nhóm Môn - Khmer và
các tộc người Gia-rai, Êđê, Chu-ru, Raglai thuộc nhóm Nam Đảo. Tuy nhiên,
9
không thể không kể đến các tộc người cư trú ở các vùng kề cận năm tỉnh Tây
Nguyên, có mối quan hệ gần gũi về nguồn gốc và văn hoá với các dân tộc kể
trên, như Hrê, Co, Chăm-hroi (ở phía Bắc và phía Đông) và các tộc Xtiêng,
Từ khoảng giai đoạn bản lề trước và sau công nguyên, khi mà các tộc
người lớn ở Đông Nam Á bước vào giai đoạn tiếp xúc văn hoá, một bên với
thế giới Ấn Độ (Thái Lan, Lào, Miến Điện, Mã Lai, Chămpa…) và một bên
với thế giới Trung Hoa (Đại Việt…), thì ở Đông Nam Á lục địa, các tộc người
Tây Nguyên hầu như còn đứng ngoài ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ và Trung
Hoa. Cho tới gần đây đồng bào Tây Nguyên còn bảo lưu khá nguyên vẹn văn
hoá truyền thống của mình, một nền văn hoá ít nhiều cho ta thấy "nguyên
bản" văn hoá bản địa Đông Nam Á cổ đại trước khi tiếp xúc với hai nền văn
hoá láng giềng kể trên.
Cũng phải nói thêm rằng, việc phát hiện ra thánh địa Cát Tiên giáp ranh
giữa Lâm Đồng và Bình Phước - một trung tâm tôn giáo đã bị Ấn Độ hoá -
chứng tỏ vùng rìa phía Nam Tây Nguyên cũng đã nằm trong quỹ đạo ảnh
hưởng văn hoá Ấn Độ, đấy là chưa kể chúng ta đang đứng trước câu hỏi lớn:
Ai là chủ nhân thành địa Cát Tiên này?
Tuy không trực tiếp chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh Ấn Độ và
Trung Hoa, nhưng ít nhiều từ cuối thiên niên kỷ thứ nhất tới thế kỷ XVII -
XVIII, Tây Nguyên nằm giữa vùng tranh chấp và ảnh hưởng của quốc gia
Chămpa và các vương triều Campuchia. Biên niên sử Campuchia đã từng ghi
các quan hệ phụ thuộc và cống nạp giữa các bộ lạc Tây Nguyên với vương
triều Campuchia. Những ảnh hưởng của Chămpa đối với Tây Nguyên còn rõ
rệt hơn, kể cả việc người Chăm của quốc gia này đã từng đặt chân tới Tây
Nguyên và xây dựng các mộ táng và tháp Chàm rải rác ở Tây Nguyên. Có
người cho rằng, hiện tượng vua Lửa (Mtao pui) và vua Nước (Mtao Ea) của
người Gia-rai và Êđê cũng có di vết của những ảnh hưởng của người Chăm
11
trên mảnh đất này. Từ khoảng thế kỷ XVII - XVIII tới nay, các dân tộc Tây
Nguyên gắn bó mật thiết với các triều đại phong kiến Việt Nam và với người
Việt ở duyên hải miền Trung. Triều Nguyễn đã từng áp dụng chế độ thuộc
quốc và "Thuộc Man" đối với các dân tộc Tây Nguyên thông qua chế độ thần
thuộc và cống nạp. Đến trước khi người Pháp xâm lược nước ta, cả vùng cao
tộc
Dân số
(người)
Dân tộc
thiểu số
(người)
Tỷ
lệ
(%)
Tây
Nguyên
35 2.376.854 1.050.569 44,2 46 4.668.142 1.181.337 25,3
Nguồn: Vũ Đình Hoè (12/2008), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
dự án: Khảo sát đánh giá chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số ở các
tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Hà Nội, tr.62.
12
Trước nhất, tuy thuộc hai dòng ngôn ngữ, dân tộc khác nhau, nhưng
mối quan hệ về nguồn gốc và lịch sử giữa chúng lại khá mật thiết, khiến một
số nhà ngôn ngữ đưa ra giả thuyết rằng, hoặc các tộc Nam Đảo ở đây vốn là
Môn - Khmer sau đó bị Nam Đảo hoá hoặc ngược lại. Tuy giả thuyết này hay
kia chưa được chứng minh, nhưng có một thực tế là hai dòng ngôn ngữ - tộc
người này có sự tương đồng rõ rệt về văn hoá, đấy là chưa kể hàng nghìn năm
sống cạnh nhau giữa họ có những mối quan hệ giao lưu, ảnh hưởng qua lại
khá sống động.
Mặt khác, quá trình phân ly và hội nhập tộc người hay nhóm tộc người
vốn xưa kia cùng nguồn gốc nay đang trong quá trình phân ly. Cũng có
trường hợp những nhóm tộc người nhỏ đang trong quá trình đồng hoá vào tộc
người lớn sống kề cận, do vậy những tương đồng văn hoá giữa họ là khá rõ
nét; trong không ít trường hợp nết xét về văn hoá thuần tuý thì giữa họ không
Mỗi buôn làng như vậy bao gồm nhiều gia đình lớn hay nhỏ cư trú
trong một số nóc nhà, thậm chí cả làng có một nóc nhà của đại gia đình. Theo
các nhà nghiên cứu, ở các dân tộc Tây Nguyên tồn tại mấy hình thức gia đình,
đó là gia đình mẫu hệ, phụ hệ và song hệ, trong đó gia đình mẫu hệ là tiêu
biểu và đặc trưng cho các tộc người ở khu vực này. Cơ cấu xã hội theo mô
hình làng buôn, trong đó nổi bật là quan hệ cộng đồng, là đặc trưng nổi bật
của xã hội Tây Nguyên. Quan hệ cộng đồng làng buôn thể hiện trên bốn mối
liên kết, đó là liên kết trên cơ sở cộng đồng cư trú (cộng cư), cộng đồng sở
hữu đất đai và các nguồn tài nguyên thiên nhiên (cộng lợi), cộng đồng về đời
sống tâm linh (cộng mệnh) và cộng đồng văn hoá (cộng cảm). Trong môi
trường xã hội như vậy, tồn tại quan hệ dân chủ thuần phác dựa trên chế công
hữu và phân phối bình quân của xã hội thị tộc, chưa hoặc chớm phân hoá giai
cấp, phân tầng xã hội.
14
Cũng do kinh tế nương rẫy và trình độ phát triển xã hội tương ứng mà
nền văn hoá các dân tộc ở đây chưa vượt qua trình độ văn hoá "phi chữ viết" và
"phi nhà nước", nên toàn bộ văn hoá tộc người vẫn cơ bản là văn hoá dân gian,
một nền văn hoá do mọi người tạo ra và phục vụ cho mọi người trong cộng
đồng, chưa có văn hoá chuyên nghiệp, bác học, chưa có những người chiếm
hữu các giá trị văn hoá dân tộc cho cá nhân và giai cấp, tầng lớp mình. Bởi vậy,
văn hoá Trường Sơn - Tây Nguyên là mẫu hình của một trình độ phát triển văn
hoá của các dân tộc Việt Nam ở giai đoạn tiền nhà nước, tiền giai cấp.
Với trình độ phát triển kinh tế - xã hội như vậy, nên trình độ tư duy và
thế giới tâm linh ở đây cũng mang sắc thái riêng. Nguyễn Tấn Đắc trong công
trình nghiên cứu của mình về Tây Nguyên đã có lý khi cho rằng, tư duy các
dân tộc Tây Nguyên còn ở trình độ "tư duy thần bí" Tuy nhiên, cũng cần nói
thêm rằng, con người Tây Nguyên với quá trình lâu dài thích ứng và đấu tranh
sinh tồn với hoàn cảnh tự nhiên, đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu,
như kinh nghiệm về bảo vệ rừng, chống xói mòn, luân canh, xen canh… nhưng
những kinh nghiệm đó nhiều khi được thần bí hoá, khoác ngoài lớp áo linh
con cháu dưới hình thức giọt nước hay giọt sương. Bởi vậy, trong lễ đặt tên
cho đứa trẻ, người ta thường lấy chiếc lá trên đó có giọt nước đặt trước mặt
đứa trẻ và trong khi làm lễ nhắc lại lần lượt tên của tổ tiên. Tới khi đứa trẻ giơ
tay hoặc liếm môi, tức là đứa trẻ đã nhận linh hồn của tổ tiên có tên gọi như
vậy, thì tên đó đã được đặt chính thức cho nó. Trong thời gian chưa làm lễ bỏ
mả, theo quan niệm dân gian, hồn người chết vẫn còn luẩn quẩn quanh người
sống phải cúng cơm, chăm sóc phần mộ người chết và việc đó chỉ kết thúc
sau lễ bỏ mả. Lễ bỏ mả là cả một lễ hội lớn và tiêu biểu nhất của các tộc
người Tây Nguyên. Từ đây cũng sáng tạo ra nghệ thuật trang trí nhà mồ,
tượng nhà mồ, các bài hát, điệu múa, các nhạc cụ dành riêng cho sinh hoạt lễ
hội nhà mồ.
16
Lễ hội là sinh hoạt tín ngưỡng - văn hoá thường thấy ở các dân tộc Tây
Nguyên, nó là mốc đánh dấu những hoạt động sản xuất nương rẫy từ chặt cây,
gieo hạt tới khi thu hoạch mang lúa về kho; là mốc đánh dấu những sinh hoạt
đời sống của con người từ khi đẻ, cưới xin, mừng sức khoẻ, tới lúc chết; là
sinh hoạt cộng đồng từ gia tộc tới cả làng buôn, như nghi lễ cúng bến nước, lễ
cầu no đủ và sức khoẻ, lễ lên nhà mới… Không như một số vùng dân tộc
khác, ở Tây Nguyên không nhất thiết có nghi lễ là phải có hội, mà nhiều khi
chỉ là nghi lễ thuần tuý. Hệ thống nghi lễ gắn chặt với sản xuất nông nghiệp,
nó chưa bị những nội dung xã hội, lịch sử hay tôn giáo xen vào. Trong các lễ
hội ở Tây Nguyên, nghi thức hiến sinh trở thành quan trọng và không thể
thiếu được. Ngày nay người ta còn thấy một vài dấu vết của hiến sinh người,
hay vào những năm đầu thế kỷ XX, người ta còn quan sát thấy tục săn đầu
người khi thực hiện nghi lễ gieo hạt của người Katu. Ngày nay, nghi lễ hiến
sinh được thay bằng con vật, trong đó quan trọng nhất là hiến sinh trâu. Bởi
vậy, lễ hội đâm trâu là lễ hội lớn và đặc trưng cho các dân tộc Tây Nguyên,
mà ở người Việt hay các dân tộc thiểu số khác nay không còn thấy nữa.
Như trên đã nói, văn hoá dân tộc Tây Nguyên cơ bản là văn hoá dân
gian, sinh hoạt văn hoá nghệ thuật cũng là văn hoá nghệ thuật dân gian mang
Đêm hát kể sử thi bao giờ cũng có những hũ rượu cần, người ta thay nhau, từ
già tới trẻ vừa thưởng thức vị rượu ngọt nồng vừa nghe lời kể Khan trầm bổng
chan hoà trong ánh lửa bập bùng giữa căn nhà sàn. Đó là sinh hoạt kể Khan -
một hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng tiêu biểu của người Êđê và các hình
thức diễn xướng hát kể khác của các dân tộc Tây Nguyên.
Trong kho tàng tự sự dân gian cũng như trong đời sống hàng ngày của
các dân tộc Tây Nguyên, hình thức lời nói vần rất phát triển. Người Êđê gọi là
Klaayduee, còn người Mnông gọi là Nao Dring. Lời nói có vần thâm nhập
vào hầu hết các loại hình tự sự dân gian, như truyện cổ, sử thi, dân ca, tục
18
ngữ, truyện cười, luật tục, gia phả dòng họ… Nó cũng là câu nói dùng để ví
von, ẩn dụ được người ta dùng để xen ghép.
1.1.2. Nhận thức của Đảng về bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc
thiểu số trước năm 1996
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ngày 23-11-1945, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65 quy định nhiệm vụ của Đông Phương Bác Cổ
Học viện với "nhiệm vụ bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam".
Tháng 8-1952, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở giai đoạn
quyết liệt, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về chính sách dân tộc thiểu số của
Đảng, trong đó có nhấn mạnh vấn đề: Tôn trọng tín ngưỡng, phong tục, tập
quán của các dân tộc. Giúp đỡ các dân tộc thiểu số phát triển những phần tốt
đẹp trong phong tục, tập quán cũ và giúp họ tự giác bỏ dần những cái có hại;
cần phát triển những hình thức văn nghệ như thơ ca, nhạc, nhảy múa của các
dân tộc. Trong công tác tuyên truyền cũng như tổ chức phải biết lợi dụng
những hình thức cũ mà đưa nội dung mới vào cho phù hợp với tâm lý và trình
độ của nhân dân thiểu số. Tổ chức việc trao đổi văn hoá giữa các dân tộc để
tăng cường đoàn kết… Việc vận động cải cách phong tục, tập quán của đồng
bào thiểu số không nên làm hấp tấp vội vàng; tuyệt đối không được dùng
mệnh lệnh bắt buộc. Phải hết sức thận trọng và tiến hành từng bước một [9,
tr.275-276].
nói riêng khi nêu lên: "Sự nghiệp đẩy mạnh ba cuộc cách mạng ở vùng đồng
bào dân tộc thiểu số đòi hỏi tăng cường công tác nghiên cứu về dân tộc học
và công tác điều tra xã hội học, hiểu biết đầy đủ những khác biệt cụ thể của
từng vùng, từng dân tộc. Trên cơ sở đó, bổ sung, cụ thể hoá và thực hiện tốt
hơn chính sách dân tộc, tránh những sai lầm rập khuôn hoặc chủ quan áp đặt
những hình thức tổ chức không phù hợp trong quá trình xây dựng và phát
triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở các vùng dân tộc" [10, tr.102]. Quan điểm trên
20
đây có ý nghĩa rất quan trọng tạo khuôn khổ thể chế lãnh đạo cho những đổi
mới về công tác dân tộc nói chung và vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc văn
hoá các dân tộc thiểu số nói riêng. Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị (ngày 27-
11-1989) đã thẳng thắn chỉ ra một trong những nguyên nhân dẫn tới phát triển
kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số còn yếu kém là do: Chưa nhận thức sâu
sắc vị trí quan trọng cũng như những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của
miền núi; chưa thật sự coi trọng sự nghiệp xây dựng miền núi là bộ phận hữu
cơ trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, chưa gắn bó, liên
kết chặt chẽ việc phát triển kinh tế ở miền núi với miền xuôi. Chưa tổ chức
nghiên cứu một cách toàn diện, tổng thể các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá,
xã hội, quốc phòng, an ninh của miền núi gắn với vấn đề dân tộc trong việc
xác định chủ trương, chính sách đối với miền núi" [8, tr.842]. Giải pháp đề ra
của Nghị quyết 22, bên cạnh các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội đã chú trọng
đến vấn đề bảo tồn và phát triển văn hoá các dân tộc: "Tăng cường các
phương tiện thông tin đại chúng, kể cả các phương tiện hiện đại như máy thu
thanh cát séc, máy thu hình, băng ghi hình, để cải tiến và nâng cao các
chương trình phát thanh, truyền hình ở địa phương, phổ biến các văn hoá
phẩm và tài liệu có nội dung thiết thực, phù hợp với yêu cầu và truyền thống
của đồng bào các dân tộc. Chú trọng sử dụng ngôn ngữ dân tộc (và chữ viết
nếu có) trong công tác thông tin tuyên truyền" [8, tr.858].
Quyết định số 72/HĐBT ngày 13-3-1990 của Hội đồng Bộ trưởng "Về
một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi" đã
chức thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của nhà nước ở địa phương [59,
tr.806]. Dù không có những nội dung riêng chỉ đạo bảo tồn và phát triển văn
hoá các dân tộc, nhưng các vấn đề nêu trên đều gián tiếp yêu cầu phải chú ý
đặc điểm văn hoá dân tộc trong giáo dục - đào tạo, trong bố trí và sử dụng cán
bộ Quyết định 25/TTg ngày 19-1-1993 của Thủ tướng Chính phủ về một số
chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hoá, văn nghệ, có điều
khoản: Đầu tư 100% cho việc sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn, quản lý lâu dài các
22
sản phẩm văn hoá tinh thần, như: văn học dân gian, các điệu múa, các làn
điệu âm nhạc của các dân tộc, giữ gìn các nghề thủ công truyền thống, các
loại nhạc cụ dân tộc.
Những đổi mới nhận thức ban đầu theo tinh thần Nghị quyết 22 của Bộ
Chính trị đã nhấn mạnh đến vai trò địa phương trong thực hiện các chính sách
phát triển kinh tế - xã hội vùng. Đó là: "Phát triển kinh tế - xã hội miền núi là
một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển nền kinh tế quốc dân. Một mặt,
các địa phương miền núi có trách nhiệm góp phần thực hiện chủ trương
chiến lược phát triển kinh tế, xã hội chung của cả nước. Mặt khác, việc cụ thể
hoá và tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách chung ở miền núi phải
tính đầy đủ đến những đặc điểm về tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hoá,
phong tục, tập quán của miền núi nói chung và của riêng từng vùng, từng dân
tộc; trong việc này cần đặc biệt nhấn mạnh vai trò năng động, sáng tạo của
địa phương và cơ sở" [8, tr.844]. Vấn đề bảo tồn, phát huy văn hoá các dân
tộc Tây Nguyên được giải quyết trong tổng thể các giải pháp phát triển văn
hoá - xã hội với yêu cầu: "Tăng cường các phương tiện thông tin đại chúng,
kể cả cá phương tiện hiện đại như máy thu thanh cát xét, máy thu hình, băng
ghi hình, để cải tiến và nâng cao các chương trình phát thanh, truyền hình ở
địa phương, phổ biến các văn hoá phẩm và tài liệu có nội dung thiết thực, phù
hợp với yêu cầu và truyền thống của đồng bào các dân tộc. Chú trọng sử dụng
ngôn ngữ dân tộc (và chữ viết nếu có) trong công tác thông tin tuyên truyền
Đối với đồng bào có nhu cầu học chữ dân tộc, phải tạo mọi điều kiện thuận
tộc thiểu số. Điều này được lý giải ở ba chiều cạnh sau đây: thứ nhất, các thể
chế lãnh đạo của Đảng lúc này nhấn mạnh mặt thống nhất hơn là mặt đặc thù,
trong đó có cả tính đa dạng của văn hoá ở từng vùng miền, từng tộc người; thứ
hai, sự phát triển nhận thức về vùng và lãnh đạo - quản lý cấp vùng còn rất hạn
chế; thứ ba, trong phát triển vùng thì vẫn chủ yếu hướng trọng tâm vào phát
24
triển kinh tế mà chưa chú ý đầy đủ vấn đề văn hoá tộc người, mà chính yếu tố
văn hóa mới thể hiện rõ nét nhất đặc tính vùng và địa phương.
Trên cơ sở những định hướng chung nêu trên, các địa phương vùng Tây
Nguyên đã có có nhiều nỗ lực thể chế hoá các vấn đề bảo tồn và phát huy bản
sắc văn hoá các dân tộc.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Gia Lai - Kon Tum lần thứ IX (10-
1986) xác định: chú trọng quan tâm đầu tư cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y
tế; nhất là chăm lo đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa,
vùng căn cứ kháng chiến cũ. Thực hiện chủ trương đó, các hình thức sinh hoạt
văn hoá, văn nghệ, lễ hội truyền thống của các dân tộc được phát huy; các đội
văn nghệ, đội cồng chiêng được củng cố, xây dựng làm nòng cốt sinh hoạt
văn hoá của quần chúng. Nhiều đội văn nghệ, đội cồng chiêng của buôn/làng
đã tham dự các hội diễn văn nghệ, hội diễn cồng chiêng ở huyện, tỉnh và được
cử đi tham gia các lễ hội do Trung ương tổ chức ở Thành phố Đà Lạt, Thành
phố Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh,
góp phần mở rộng và tăng cường tình đoàn kết các dân tộc. Năm 1987, tỉnh
Gia Lai - Kon Tum có 150 xã được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận là xã
có đời sống văn hoá. Các đội chiếu phim lưu động được củng cố đưa đi phục
vụ đồng bào ở vùng đồng bào dân tộc. Xoá mù chữ tiếng Việt được tiến hành
song song với bảo tồn tiếng mẹ đẻ của các dân tộc tại chỗ, trong đó huyện
Chư Prông có phong trào khá nhất với 100 lớp, 3.112 học sinh. Năm 1990,
tỉnh đầu tư 103 triệu đồng nhằm duy trì và nâng cao chất lượng xoá mù chữ
[3, tr.307-308].
Tính đến năm 1995, các hoạt động văn hoá, thông tin, phát thanh,