ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
PHẠM THỊ LAN ANH
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN
TỘC Ở TỈNH HẢI DƯƠNG TRONG BỐI CẢNH KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội-2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
PHẠM THỊ LAN ANH
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN
TỘC Ở TỈNH HẢI DƯƠNG TRONG BỐI CẢNH KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60.22.80
Người hướng dẫn khoa học: TS.Nguyễn Thị Phi Yến
2.2.1. Phương hướng ........................................................................................................ 62
2.2.2 Giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc ở Hải Dương. .......... 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ....................................................................................................... 86
KẾT LUẬN CHUNG ............................................................................................................. 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 90
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã nhấn
mạnh quan điểm “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa
là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội”.
Chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội .Thiếu
nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan
hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không có sự phát
triển kinh tế- xã hội bền vững.
Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội
công bằng, văn minh, con người mới có điều kiện phát triển toàn diện. Văn hóa
là kết quả của kinh tế đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế. Các nhân
tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi
phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương…biến thành nguồn
lực nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển.
Giá trị văn hóa là tài sản của dân tộc do lịch sử để lại, là cốt lõi của bản
sắc dân tộc bao gồm các di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Di
sản văn hóa là tài sản, là của cải quý báu kết tinh sự sáng tạo lâu dài của dân tộc,
phản ánh trình độ, diện mạo, bản sắc và bản lĩnh của dân tộc. Đồng thời di sản
văn hóa là cơ sở để liên kết cộng đồng, là nền tảng để sáng tạo các giá trị văn
cảnh kinh tế thị trường”. Trên cơ sở nghiên cứu của đề tài góp phần tìm ra
những giải pháp để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong việc giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc nói chung và giá trị văn hóa dân tộc ở Hải Dương
nói riêng, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức và năng lực vận dụng sáng tạo
đường lối, chủ trương chính sách phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước cho
cán bộ quản lý, lãnh đạo ở địa phương nhằm đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ
đổi mới và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề văn hóa đã có nhiều tác giả và công trình nghiên cứu lớn bàn về
vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc. Tập trung theo hai hướng cơ bản được các tác
giả quan tâm, đã có một số tác giả viết bài và luận văn nghiên cứu ở từng khía
cạnh khác nhau:
3
1.Giá trị văn hóa dân tộc:
- “Các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở
Thăng Long- Hà Nội” –Tác giả: PGS-TS Võ Quang Trọng- Bảo tàng dân tộc
học Việt Nam.
- “Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở
vùng núi Đông Bắc nước ta” – Tác giả: Nguyễn Văn Lãng.
- “Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam trước tác
động của toàn cầu hóa”, Tác giả: Nguyễn Đình Tường, Viện khoa hoc xã hội
Việt Nam.
- “Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số”,
Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 7/2000.
- “Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở tỉnh
Gia Lai trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay” ” – Tác giả: Đỗ văn Hòa
2. Bản sắc văn hóa.
-“Bản sắc văn hóa Việt Nam”, Phan Ngọc, Nxb Văn học, 2002.
- Phân tích làm rõ thực trạng giữ gìn và phát huy giá tị văn hóa dân tộc ở
tỉnh Hải Dương trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm gìn giữ có hiệu quả giá trị văn hóa dân
tộc ở tỉnh Hải Dương trong điều kiện hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc tiêu
biểu ở tỉnh Hải Dương.
Phạm vi nghiên cứu: Văn hóa là một vấn đề rộng, giá trị văn hóa dân tộc
rất đa dạng và phong phú, luận văn không trình bày toàn bộ giá trị văn hóa dân
tộc nói chung mà chỉ trình bày giá trị văn hóa dân tộc ở Hải Dương, chủ yếu
khai thác đề tài này theo khía cạnh triết học .
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
+ Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc tiêu biểu ở tỉnh Hải Dương,
nhất là trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa.
+ Mối quan hệ biện chứng giữa giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc
với sự phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp luận: đề tài được thực hiện trên quan điểm của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
+ Phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu.
5
+ Phương pháp điều tra xã hội học.
+ Phương pháp thống kê và xử lý số liệu.
+ Phương pháp quan sát và tìm hiểu địa phương.
6. Đóng góp của đề tài.
- Luận văn đã đi sâu nghiên cứu việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa
dân tộc ở tỉnh Hải Dương.
- Luận văn đã luận giải vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc
PGS Trường Lưu cho rằng, nhìn một cách tổng quát các nhà khoa học
thường dựa vào mức độ khái quát và phạm vi đối tượng để chia ra 3 cấp độ tiếp
cận:
Thứ nhất: cấp độ khái quát nhằm đạt tới khái niệm chung về đặc điểm
một lĩnh vực mang tính bao trùm.
Thứ hai: cấp độ giá trị tinh thần được chi phối bởi bản chất văn hóa.
Thứ ba: cấp độ hệ thống từng lĩnh vực cụ thể của giá trị tinh thần được
thể hiện thành sản phẩm vật chất 46.tr.37.
Hướng tiếp cận thứ ba dựa vào cấu trúc hệ thống của sự vật để hiểu sự vật
qua một biểu tượng nào đó, lựa chọn những biểu tượng tượng trưng cho một nền
7
văn hóa. Thí dụ Kim tự tháp là biểu tượng cho văn hóa Ai Cập, tháp Epphen là
biểu tượng của văn hóa Pháp, trống Đồng Đông Sơn là biểu tượng của văn hóa
Việt Nam…Nhưng rõ ràng biểu tượng chỉ mới là giai đoạn cao của nhận thức
cảm tính, mới chỉ ở cấp độ tượng trưng, là đại diện chứ chưa phải là toàn bộ bản
chất văn hóa.
Hướng tiếp cận thứ hai chính là khuynh hướng của học thuyết giá trị.
Nhưng phải thấy tính hai mặt của học thuyết này, mọi giá trị đều thể hiện mối
quan hệ giữa người với vật, chỉ khi nào sự vật khách quan có ích cho con người
thì mới gọi là giá trị. Nhưng giá trị không chỉ quyết định bởi ban thân sự vật mà
còn quyết định bởi con người đang chịu chi phối của giai cấp, dân tộc, tôn giáo,
thời đại…do đó một giá trị có thể đưa ra nhiều cách nhìn khác nhau. Giá trị mới
chỉ là thước đo của văn hóa chứ chưa phải là bản thân văn hóa.
TSKH Đỗ Văn Khang nhận xét rằng, lâu nay nghiên cứu văn hóa người ta
thường tiếp cận theo khuynh hướng giá trị luận, ít chú ý đến bản thể luận, nặng
về mối quan hệ giữa giá trị văn hóa và chủ thể chứ chưa phải là bản thân văn
hóa.
GS Phan Ngọc quan niệm rằng, một khi văn hóa không phải là một đồ
quam hệ con người với con người, con người với xã hội. C.Mác vạch rõ nguồn
gốc của văn hóa gắn liền với những năng lực sáng tạo của con người. Sự sáng
tạo đó bắt nguồn từ lao động. Văn hóa là sự “Thăng hoa” của sản xuất vật chất.
Ông cho rằng người ta có thể căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người khai
thác chuyển biến thành bản chất con người như thế nào để đánh giá trình độ văn
hóa. C.Mác viết “Súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo thước đo và nhu cầu của
giống loài nó, con người chỉ có thể áp dụng thước đo thích dụng cho đối tượng.
Do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp” 7, tr.10.
C.Mác cho rằng việc con người tạo ra “thiên nhiên thứ hai” theo quy luật của cái
đẹp là thuộc tính bản chất, chính nó là cái văn hóa trong hoạt động của con
người. Như vậy theo C.Mác, hoạt động của con người không chỉ thỏa mãn nhu
cầu ăn, mặc, ở…mà còn là kết tinh năng lực sáng tạo, là cách sống, phương thức
sống, phương thức bộc lộ nhân tính, biểu hiện ra trong toàn bộ sản phẩm vật
chất, tinh thần do chính con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn lịch sửxã hội của mình. Con người là thước đo của mỗi giá trị, còn văn hóa là thước đo
nhân tính sự sáng tạo và thái độ của con người trước hiện thực. Vì vậy
9
Ph.Ăngghen đã nói “Mỗi bước tiến lên trên con đường văn hóa lại là một bước
tiến tự do” 7,tr.164.
Khi bàn về văn hóa, V.I.Lênin cho rằng, trong xã hội có giai cấp, luôn
luôn tồn tại hai nền văn hóa, nền văn hóa của giai cấp thống trị và nền văn hóa
của nhân dân lao động. Ông khẳng định tính tất yếu của cách mạng văn hóa,
cuộc cách mạng này hết sức khó khăn vì trình độ dân trí và cơ sở hạ tầng lạc hậu
song phải chủ động tạo ra các tiền đề căn bản của nền văn hóa cách mạng, là
yếu tố rất quan trọng để xây dựng xã hội mới.V.I.Lênin đã gắn văn hóa với phát
triển, chỉ ra mục tiêu quan trọng nhất của văn hóa là hoàn thiện con người mọi
mặt.
GS Đào Duy Anh cho rằng: “Người ta thưởng cho ta rằng văn hóa chỉ là
những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hóa vốn có tính
một xã hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác.
Nói đến văn hóa là nói đến con người. Lịch sử văn hóa là lịch sử của con
người và loài người. Con người tạo ra văn hóa và văn hóa làm cho con người trở
thành người. Điều đó có nghĩa là tất cả những gì có liên quan đến con người,
đến mọi cách thức tồn tại của con người đều mang trong nó cái gọi là văn hóa.
Có thể nói, văn hóa là sự phát triển lực lượng vật chất và tinh thần, là sự
thể hiện những lực lượng đó trong lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vực sản
xuất tinh thần của con người. Thông thường người ta chia văn hóa thành hai lĩnh
vực cơ bản: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Tuy nhiên, sự phân chia này
chỉ có tính chất tương đối, bởi cái gọi là “văn hóa vật chất” về thực chất cũng
chỉ là sự “vật chất hóa” các giá trị tinh thần, và các giá trị văn hóa tinh thần
không phải bao giờ cũng tồn tại một cách thuần túy tinh thần, mà thường được
“vật thể hóa” trong các dạng tồn tại vật chất. Ngoài ra, còn các giá trị tinh thần
tồn tại dưới dạng phi vật thể, nhưng vẫn mang tính tồn tại vật chất khách quan
như văn hóa trong các lĩnh vực đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lối sống, phong tục
tập quán...
Văn hóa của dân tộc là sự biểu hiện tập trung nhất ở bản sắc dân tộc,
đồng thời các hoạt động văn hóa có tác dụng giáo dục, phổ biến sâu rộng bản
sắc dân tộc đó. Đã bao đời nay các thế hệ người Việt Nam đã nuôi dưỡng về tinh
thần bằng kho tàng văn hóa dân gian, bằng những áng văn thơ tuyệt tác, bằng
những phong tục và lễ hội, bằng những di tích lịch sử oai hùng. Bản chất đôn
11
hậu, giàu tình thương, trọng lao động, khát vọng cuộc sống hòa bình, gắn bó mật
thiết với non sông, đất nước…đã làm nên nội dung cơ bản của văn hóa Việt
Nam.
Như vậy, văn hóa trước hết là các hoạt động nhằm phát huy những nhu
cầu và năng lực tinh thần cơ bản của con người, tạo ra các chuẩn mực, các giá
trị, nâng cao khả năng hiểu biết và sáng taọ của con người. Do đó, Tổ chức văn
trình tư duy, sản xuất tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lõi nhất của văn
hóa. Giá trị, giá trị văn hóa là một hình thái của đời sống tinh thần, nó phản ánh
và kết tinh đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của con người.
Giá trị, trước hết là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con
người về tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái gì là cần, là tốt, là hay,
là đẹp, nói cách khác đó chính là những cái được con người cho là chân, thiện,
mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất người. Do vậy, giá trị văn hóa nói ở
đây là giá trị xã hội, nó gắn bó mật thiết với hoạt động sống của con người, sự
tồn tại và phát triển của mỗi xã hội.
Với mỗi dân tộc, các giá trị văn hóa nền tảng là “căn cước dân tộc” của
nó. Hiện nay, lý do tồn tại của mỗi dân tộc, hay nói một cách khác cái làm cho
mỗi dân tộc tồn tại, xét cho cùng, thuộc về văn hóa. Nói đến văn hóa dân tộc
theo nghĩa đầy đủ của nó, người ta phải nói đến toàn bộ sự hình thành, định hình
và phát triển của mỗi dân tộc với tất cả những tình huống thăng trầm của lịch
sử mà nó đã trải qua, bao gồm toàn bộ những gì làm cho nó là nó với tính cách
là một dân tộc. Do vậy, nếu sự hy sinh một phần các giá trị văn hóa truyền thống
là điều cần thiết để mỗi dân tộc hay mỗi xã hội đạt tới tiến bộ, thì quá trình đó
bao giờ cũng được kiểm soát nghiêm ngặt trong giới hạn khắt khe. Ý thức tự
nhiên của mỗi dân tộc thường chỉ tìm cách khuyến khích những quá trình theo
chiều ngược lại: ưu tiên du nhập những nhân tố của sự tiến bộ không làm tổn hại
đến văn hóa dân tộc; sẵn sàng tiếp thu những giá trị mới nếu chúng hài hòa với
các giá trị truyền thống, tạo điều kiện cho các giá trị truyền thống thích ứng với
đòi hỏi hiện đại của tiến bộ xã hội; tìm cách “đóng cửa” hoặc hạn chế đối với
các nhân tố mới của tiến bộ xã hội nếu chúng đi kèm nguy cơ làm cho văn hóa
dân tộc bị “ đánh mất mình”.
Giá trị văn hóa do con người trong mỗi xã hội sáng tạo ra trong quá trình
lịch sử, nhưng một hệ giá trị văn hóa hình thành thì nó lại có vai trò định hướng
13
14
Hải Dương thuộc vùng đất cổ ở đồng bằng sông Hồng, một trong những
nơi phát tích nền văn minh sông Hồng. Đó là vùng đất tiếp giáp từ kinh đô
Thăng Long kéo dài tới bờ biển Đông. Trong suốt chiều dài lịch sử từ khi dựng
nước tới nay Hải Dương có nhiều tên gọi khác nhau:
Lúc mới thành lập, Hải Dương là một tỉnh rộng lớn từ Bình Giang đến
Thủy Nguyên. Năm 1888 tách dần một số xã của huyện Thủy Nguyên, huyện
Tiên Lãng khỏi tỉnh Hải Dương để thành lập tỉnh Hải Phòng. Năm 1968 Hải
Dương nhập với tỉnh Hưng Yên trở thành Hải Hưng. Năm 1997 Hải Hưng lại
được chia thành hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên. Hải Dương hiện nay bao
gồm 12 huyện thị, là tỉnh nằm trong khu vực tam giác kinh tế giữa Hà Nội - Hải
Phòng – Quảng Ninh, là nơi giao thoa kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng.
Vài nét về nền văn minh sông Hồng ở Hải Dương: Theo kết quả nghiên
cứu những di chỉ khảo cổ khai quật được trên đất Hải Dương từ thời kỳ đồ đá,
trên vùng đất Hải Dương đã có con người sinh sống. Qua các cuộc khai quật ở
khu vực sông Kinh Thầy (Kinh Môn) người ta đã tìm thấy những di vật cách đây
3000- 4000 năm. Ở Tứ Thông, Ngọc Uyên, Đồng Niên (TP Hải Dương) cũng
tìm thấy những mộ táng trong đó co những vật tùy táng bằng gốm từ thời Hùng
Vương. Năm 1965, tìm thấy được trống đồng ở làng Hữu Chung (Tứ Kỳ) có
niên đại cách đây khoảng 2500 năm. Ngành khảo cổ học còn tìm thấy ở Ngọc
Lặc ( Tứ Kỳ) và ở Nam Sách nhiều mộ táng các quan lại người Việt và người
Hán thời đầu công nguyên. Trong các ngôi mộ đều có chôn theo tùy táng như vò
nậm rượu, cối giã trầu, rìu, cung nỏ, dao kiếm, khuôn đúc đồng...bằng sành sứ,
bằng đồng hoặc sắt. Những kết quả khai quật trên đã phần nào phản ánh đời
sống vật chất, tinh thần phong phú, đa dạng với trình độ kĩ thuật và thẩm mỹ cao
của cư dân Việt Cổ sống trên vùng đất Hải Dương xưa.
Vùng đất Hải Dương ở bất kể thời đại nào cũng xuất hiện người tài, có
công với nước, là đất học nổi tiếng Bắc Hà. Chỉ tính trong triều đại Lý, Trần, Lê
Động Kính Chủ (Kinh Môn) là di tích lịch sử, đồng thời là một thắng
cảnh đẹp, hấp dẫn, nơi đây còn lưu giữ nhiều văn bia ghi lại lịch sử văn hóa dân
tộc.
Trên núi An Phụ (Kinh Môn) có tượng đài Hưng Đạo Đại Vương Trần
Quốc Tuấn uy nghi, hoành tráng và đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu, người
sinh thành ra Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.
16
Trên đất Hải Dương có nhiều lễ hội truyền thống, những trò chơi dân gian
ở khắp các làng xã làm nổi bật sắc thái riêng của từng địa phương. Tiêu biểu là
lễ hội chùa Côn Sơn vào dịp rằm tháng Giêng âm lịch, lễ hội đền Kiếp Bạc từ
ngày 15 đến ngày 20/8 âm lịch, hàng năm thu hút đông đảo du khách thập
phương đến dự, vừa có dịp thăm cảnh đẹp nơi đây và vui chơi du lịch, vừa tỏ
lòng tưởng nhớ công lao to lớn của người anh hùng dân tộc. Ngoài ra còn có
một số lễ hội chùa Muống (Kim Thành), lễ hội đền Sượt (TP Hải Dương), lễ hội
đền Tranh (Ninh Giang), lễ hội xứ đạo Kẻ Sặt (Bình Giang).
Làng Bồ Dương (Ninh Giang) vẫn duy trì nghệ thuật múa rối nước, một
số xã như Minh Đức, Quang Khải (Tứ Kỳ), Nghĩa An, Tân Hương (Ninh Giang)
vào tháng 3, tháng 4 âm lịch hàng năm còn tổ chức hội trò chơi đánh pháo đất,
một trò chơi vui dân gian độc đáo, lâu đời.
Những di tích lịch sử, những nét truyền thống văn hóa trên đây cho thấy
nhân dân Hải Dương đã có đóng góp không nhỏ vào sự phát triển văn hóa, khoa
học, nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc của đất nước.
1.2 Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc ở Hải Dương trong nền kinh
tế thị trường.
Giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc là hướng tới một nền văn hóa dân tộc đa
dạng, phong phú về sắc thái, chứ không phải là một nền văn hóa nghèo nàn,
giống nhau, cùng khuôn mẫu. Đa dạng, phong phú về giá trị là một thuộc tính
của văn hóa thể hiện ở khả năng sáng tạo của một dân tộc trong điều kiện lịch sử
Hải Dương là vùng đất địa linh nhân kiệt, cùng với lịch sử mấy nghìn năm
dựng nước và giữ nước của dân tộc, nơi đây đã sản sinh biết bao người con ưu
tú. Họ là những vĩ nhân, anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự, nhà chính trị, nhà
ngoại giao kiệt xuất; những nhà khoa học, nhà sư phạm, nhà toán học; những
nhà danh y, những bậc đại khoa, những danh nhân văn hóa, nhà văn hóa, nhà
văn, nhà thơ, văn nghệ sĩ tài ba. Cuộc đời và sự nghiệp của họ đã làm rạng danh
quê hương đất nước, góp phần hun đúc lên tâm hồn, trí tuệ và bản lĩnh của dân
tộc Việt Nam. Sau đây là một số danh nhân tiêu biểu nhất trong số các danh
nhân của Hải Dương và cũng là danh nhân tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.
- Mạc Đĩnh Chi (1272-1346)
Danh sĩ đời Trần Anh Tông, tự là Tiết Phụ, sinh năm Nhâm Thân đời
Trần Thiệu Long (1272), tại làng Lũng Động, huyện Chí Linh, nay thuộc xã
18
Nam Tân, huyện Nam Sách. Ông thuộc dòng dõi Mạc Hiển Tích, người đỗ đầu
khoa Bính Dần năm 1086, và là tổ 7 đời của Mạc Đăng Dung. Ông là người học
rộng, thông minh tráng việt, thẳng thắn, liêm khiết, làm quan to nhưng rất thanh
đạm,nhưng người nhỏ bé, tướng mạo xấu xí. Khoa thi Thái học sinh năm
GiápThân, niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1304), ông đỗ đầu Đệ nhất giáp, tức
Trạng nguyên. Vua Trần Anh Tông có ý chê ông xấu xí, ông bèn làm bài phú
“Ngọc tỉnh lên” để tự ví mình với cây sen,Vua Trần Anh Tông khen hay, cất
nhắc ông lên làm Thái học sinh dũng thư và sung chức Nội thư gia. Đời Hiến
Tông (1329-1341),ông làm đến chức Đại liêu ban, Tả bộc xạ, Nhập nội hành
khiển.
Mạc Đĩnh Chi là một nhân vật nổi tiếng đời Trần, cuộc đời và văn thơ của
ông chứng tỏ là đại biểu cho sự thanh cao của Nho sĩ đương thời. Sau khi về trí
sĩ, ông mở trường dạy học, nơi ấy thời sau gọi là Trạng nguyên Cổ đường, được
xếp vào hàng Chí Linh bát cổ. Trải qua nhiều biến cố, Cổ đường bị hư hại, nay
đã được khôi phục. Ông mất năm Bính Tuất, niên hiệu Thiệu Phong thứ 6
người trồng cây đức được quả phúc cho đời. Tuệ Tĩnh Thiền sư được tôn thờ là
Thánh sư nam dược (Vị Thánh thuốc Nam).
Hiện nay vùng Cẩm Giàng còn một số di tích về Nguyễn Bá Tĩnh như:
đền Xưa (làng Nghĩa Phú), đền Bia (làng Văn Thai) thờ Tuệ Tĩnh trong đền có
câu đối:
Thi đậu Hoàng giáp tiếng lừng đất Bắc
Chữa bệnh thần diệu tài quán Nam Bang.
Nhiều di tích có quan hệ đến ông đã được xếp hạng quốc gia và từng bước
được tôn tạo để xứng đáng với vị thế của ông trong lịch sử. Năm 2005 được sự
hỗ trợ của tỉnh và Trung ương, nhân dân địa phương đã trùng tu đền Bia nơi thờ
Tuệ Tĩnh. Bài vị của ông được thờ phụng tại Văn miếu Mao Điền.
- Nguyễn Đại Năng (Thế kỷ XV)
Nguyễn Đại Năng, quê ở Giáp Sơn, tỉnh Hải Dương (nay là xã Hiệp An,
huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương) không rõ năm sinh, năm mất, ông là một võ
tướng của triều Hồ, đồng thời còn là một danh sĩ, chuyên tâm nghiên cứu phép
chữa bệnh bằng châm cứu. Khoảng năm Qúi Mùi 1403, nhà Hồ xây cất bệnh
viện Trung ương phục vụ nhân dân, gọi là Quảng tế thự, ông được Hồ Qúy Ly
20
trọng dụng, giao cho cai quản cơ quan y tế Trung ương với cương vị là Quảng tế
tự thừa (Giám đốc viện y tế Trung ương) vì ông là người giỏi về khoa châm cứu.
Ông cũng giỏi về quân sự, có tài bắn nỏ nên cũng được nhà Hồ cử kiêm
coi việc quân sự, và về sau coi sóc Quân y viên.
Ông đã viết tập sách về y học: Châm cứu tiếp hiệu diễn ca, ghi lại cách
chữa 130 loại bệnh chứng, 140 huyệt châm cứu trong đó có 11 huyệt do tổ tiên
chúng ta tìm ra. Ông là người đầu tiên ở Việt Nam viết sách về khoa châm cứu.
Đến nay tác phẩm “ Châm cứu tiếp hiệu diễn ca” vẫn là một tài liệu khoa học có
giá trị đối với nền y học dan tộc nước nhà.
tội thủ mưu cho vợ ông là Nguyễn Thi Lộ giết vua, rồi bắt ông giam vào ngục.
Ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất (1442). Nguyễn Trãi bị giết cùng 3 họ, thọ 62
tuổi.
Đời Lê Thánh Tông (1460 – 1497), năm 1464, niên hiệuQuang Thuận thứ
5 nỗi oan của ông được giải: vua truy phong ông là Tế Văn Hầu, các con cháu
còn sót lại (Nguyễn Anh Võ, Tô Giám, Tô Kiên) đều được trọng dụng.
Qua nhiều thế kỷ, Nguyễn Trãi luôn được đánh giá là anh hùng dân tộc,
một thiên tài trong nhiều lĩnh vực như tư tưởng chính trị, quân sự, ngoại giao,
văn học. Tài bang tế thế, cuộc đời sáng ngời phẩm chất cao quý là niềm tự hào
của cả dân tộc. Năm 1980 Tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục của Liên hợp
quốc (UNESCO) đã công nhận Nguyễn Trãi là Danh nhân văn hóa thế giới.
Năm 2003 tỉnh Hải Dương đã tổ chức khánh thành đền tưởng niệm
Nguyễn Trãi tại khu di tích Côn Sơn huyện Chí Linh. Tượng Nguyễn Trãi thờ ở
Văn miếu Mao Điền.
- Nguyễn Thị Duệ (1574- ?)
Nguyễn Thị Duệ sinh năm 1574, còn có tên là Nguyễn Thị Ngọc Toàn,
Nguyễn Thị Du, hiệu là Diệu Huyền, tự Tinh Phi. Bà người làng Kiệt Đắc,
huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là xã Văn An, huyện Chí Linh).
Nguyễn Thị Duệ học hành tiến bộ, nhân lúc triều đình mở khoa thi, bà
cũng lều chõng như những sĩ tử khác về Kinh đô ứng thí, bằng cách ăn mặc giả
trai, bà lọt vào kỳ thi và đỗ Tiến sĩ. Trong buổi tiếp tân khoa, vua Mạc Kính
Cung phát hiện ra vị Thủ khoa Tiến sĩ mặt hoa da phấn, tay búp măng thì sinh
nghi, tra hỏi mới biết đó là gái giả trai, nhưng nhà vua không những không khép
tội mà còn khen ngợi và mời vị nữ Tiến sĩ đầu tiên của nước Việt vào cung dạy
22
các phi tần, sau vua lấy làm vợ, đặt tên là Tinh Phi (bà Chúa Sao Sa). Cuộc
chiến tranh giành ngôi vị Lê – Mạc xảy ra, nhà Mạc bị nhà Lê tiêu diệt, bà đành
lui về làng quê ở ẩn và mở trường dạy học. Trọng dụng người tài, vua Lê lại cho