Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc trong xây dựng văn hóa gia đình việt nam hiện nay - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------

AN THỊ NGỌC TRINH

GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG XÂY DỰNG
VĂN HÓA GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH – 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------

AN THỊ NGỌC TRINH

GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG XÂY DỰNG
VĂN HÓA GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành : CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
Mã số
: 62.22.80.05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

: Cao đẳng

CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CNH

: Công nghiệp hóa

CNXH

: Chủ nghĩa xã hội

CT/TW

: Chỉ thị của Trung ương

ĐH:

: Đại học

EU

: Liên minh Châu Âu

GDCD

: Giáo dục công dân

GDP

: Tổng sản phẩm quốc nội

TS:

: Tiến sĩ

UNESCO

: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc

WHO

: Tổ chức Thương mại thế giới

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


M CL C
PH N M

Đ U ...................................................................................... 01

Chương 1. KHÁI LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA, VĂN HÓA DÂN
TỘC VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG VĂN HÓA GIA
ĐÌNH VIỆT NAM ................................................................................... 14
1.1. Quan niệm về văn hóa và giá trị văn hóa dân tộc ............................. 14
1.1.1.Quan niệm về văn hóa .................................................................... 14
1.1.2. Quan niệm về giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam ........................... 21
1.2. Gia đình Việt Nam và những giá trị văn hóa dân tộc trong
văn hóa gia đình Việt Nam ......................................................................... 39

huy các giá trị văn hóa dân tộc ................................................................. 145
3.1.2. Xây dựng giá trị văn hóa gia đình mới trên cơ sở kế thừa những giá
trị của văn hóa gia đình truyền thống và tiếp thu những giá trị tiến bộ của
gia đình hiện đại. ....................................................................................... 148
3.2. Những giải pháp cơ bản nhằm giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân
tộc trong xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay ......................... 151
3.2.1. Đảm bảo những điều kiện vật chất và tinh thần cơ bản cho
gia đình .............................................................................................................. 151
3.2.2 Tăng cường hơn nữa vai trò của pháp luật trong quản lý
gia đình…………………………………………………………………..156
3.2.3 Củng cố và xây dựng các chuẩn mực mới về văn hóa gia đình
Việt Nam ……………………………………………………………………166
KẾT LUẬN ................................................................................................ 175
PH L C ................................................................................................... 179


DANH M C TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................. 189


1

PH N M

Đ U

1. Tính cấp thi t của đề tài
Văn hóa dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển gắn liền với
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, là một chỉnh thể đồ sộ, phong
phú bao gồm tri thức, tư tưởng, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật,
phong tục, tập quán và truyền thống… Văn hóa dân tộc vừa là “trầm tích”

thống văn hóa gia đình không những là niềm tự hào của mỗi thành viên trong
gia đình mà còn là nhân tố tác động đến sự hình thành nhân cách của mỗi cá
nhân, tạo ra những nét đặc trưng riêng của từng gia đình. Từng gia đình ấy hợp
lại với nhau thành cộng đồng, xóm làng, quê hương, Tổ quốc. Trong xu thế hội
nhập hiện nay, văn hóa gia đình nổi lên như một tiêu điểm trọng tâm nhất
được các nhà khoa học và giới chính trị quan tâm. Đông Nam Á nói chung
và Việt Nam nói riêng, việc giữ gìn và phát huy những giá trị của văn hóa
dân tộc trong quá trình xây dựng văn hóa gia đình, cộng đồng, xã hội là vấn
đề quan trọng được đặt lên hàng đầu. Cùng với sự biến đổi của xã hội, giá trị
quan hệ mang tính truyền thống trong đời sống gia đình từng bước thay đổi,
điều đó làm suy giảm việc tuân thủ và chấp nhận những quy chuẩn cũ trong
các quan hệ gia đình, làm nảy sinh nhiều quan niệm chưa thống nhất về gia
đình, văn hóa gia đình cũng như sự định hướng phát triển gia đình trong tương
lai. Từ đó, những nhu cầu mới trong việc nhận thức đúng đắn, khoa học về gia
đình và văn hóa gia đình ngày càng cần thiết, góp phần quan trọng trong việc
giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng vai trò của gia đình
và văn hóa gia đình. Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về Xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã nêu rõ:
“Giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Nêu cao
vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ. Coi trọng xây dựng gia đình văn hóa.


3

Xây dựng mối quan hệ khắng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội” [19,
tr.48]… Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X của Đảng nhấn mạnh: “Phát huy
những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với
những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xây dựng gia
đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là

khảo luận, phân tích lý luận và thực tiễn về văn hóa dân tộc, văn hóa gia đình
đã được đề cập đến từ rất lâu trong lịch sử. Có thể khái quát các kết quả công
trình nghiên cứu trên theo hai hướng sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về văn hóa, văn hóa dân tộc và các
giá trị của văn hóa dân tộc. Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa
trước đây là công việc của nội bộ mỗi quốc gia, nhưng từ những năm 60 của thế
kỷ XX, nó đã trở thành vấn đề mang tính quốc tế. Đặc biệt sau Thập kỷ Quốc tế
Phát triển văn hóa (1988-1998) do UNESCO phát động với mục tiêu là thức
tỉnh nhân loại về nhân tố văn hóa trong phát triển xã hội, khuyến khích các nhà
lãnh đạo quốc gia đưa các nhân tố văn hóa vào các chương trình phát triển đất
nước. Thập kỷ văn hóa này đã được nhiều nước, nhiều dân tộc trong đó có Việt
Nam đón nhận và đạt kết quả khả quan.
Bước vào thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng
công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) và toàn cầu hóa (TCH); sự đa
dạng về sinh học và sự đa dạng văn hóa trên hành tinh ngày một suy giảm
nghiêm trọng, năm 1993 Hội nghị về môi trường thế giới của Liên Hiệp
Quốc họp ở Brazin đã ra lời tuyên bố về bảo vệ đa dạng sinh học. Ngày
2/11/2001 UNESCO đã ra “Tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hóa” đến
ngày 17/10/2003, UNECSO đã công bố “Công ước về bảo vệ di sản văn hóa
phi vật thể”. Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ký vào công ước
này và đã có nhiều hoạt động triển khai đạt kết quả.
Trước xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa đã hình thành các tổ chức


5

liên minh khu vực như EU, ASEAN, Liên minh châu Phi..., yếu tố quốc tế
đang chiếm một vị trí quan trọng so với chủ quyền dân tộc. Đặc biệt trước
nguy cơ cuộc xung đột trên thế giới đa sắc màu như xung đột văn hóa, xung
đột tôn giáo... thì vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc, vấn đề đối thoại giữa các

tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, nhiều công trình vẫn
nặng về miêu tả các hiện tượng văn hóa, phần lớn các công trình chưa nhìn
nhận những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong khung cảnh chung của
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa để từ đó xem xét
vấn đề giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa đó.
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về gia đình, văn hóa gia đình và sự
biến đổi của văn hóa gia đình Việt Nam với tư cách là một bộ phận của văn
hóa dân tộc. Có thể nói các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác là những người
đóng góp to lớn cho vấn đề nghiên cứu gia đình. Các ông cho rằng gia đình
là một tổ chức xã hội đặc biệt và mang tính xã hội hóa cao. Sự ra đời của gia
đình gắn liền với sự hình thành xã hội với những cấu trúc chặt chẽ và logic...
Tác phẩm nổi tiếng Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà
nước của Ph. Ăngghen được coi là một trong những tác phẩm dẫn đường cho
trào lưu nghiên cứu về gia đình của thế kỷ XIX. Trong tác phẩm này, vấn đề
nguồn gốc gia đình được phân tích một cách sâu sắc, đặc biệt là quá trình
phát sinh của chế độ một vợ một chồng. Quá trình này bị chế định - như Ph.
Ăngghen đã nêu – không phải bởi tình yêu nam nữ – yếu tố được coi là sản
phẩm của một quá trình phát triển lâu dài và đầy mâu thuẫn của lịch sử - mà
bởi sự hình thành chế độ tư hữu và nhà nước. Ph. Ăngghen đặt lên hàng đầu
nhiệm vụ nghiên cứu nguồn gốc của gia đình bằng cách xem xét sự vận động
khách quan của quá trình đó đi từ chế độ quần hôn tới gia đình một vợ một
chồng. Ở mức độ cao nhất của nó, như Ph. Ăngghen đã đặc biệt nhận xét, là
tình yêu có chọn lọc giữa các cá nhân với nhau, với niềm hưng phấn bởi một
thứ tình cảm cao quý.


7

Ở Việt Nam, những khảo luận và phân tích về gia đình cũng đã được
chú ý từ rất lâu. Trong lịch sử phát triển của Việt Nam, cha ông ta đã không

(1998), Hôn nhân và gia đình ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhận diện và dự
báo, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Công Hoàn (1993), Tâm lý học
gia đình, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Vũ Tuấn Huy (1996), Những khía
cạnh của sự biến đổi gia đình, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội; Giáo sư Lê Thi
(2006), Cuộc sống và biến động của hôn nhân gia đình Việt Nam hiện nay,
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội; … Các tác phẩm trên tập trung khẳng định gia
đình là một tế bào của xã hội, là một nhóm xã hội cơ sở kiến tạo nên xã hội
rộng lớn. Do đó, sự trường tồn của quốc gia, dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào
sự tồn tại và phát triển của mỗi gia đình. Gia đình phải là điểm xuất phát và
trở về của mọi chính sách xã hội.
Giáo sư Lê Thi (2002) với các tác phẩm Gia đình Việt Nam trong bối
cảnh đất nước đổi mới, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội; Vai trò của gia đình
trong xây dựng nhân cách con người Việt Nam, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội hay Vũ
Ngọc Khánh (1998) với tác phẩm Văn hóa gia đình Việt Nam, Nxb. Khoa học
xã hội, Hà Nội;… nghiên cứu gia đình Việt Nam đang trong quá trình biến
đổi mạnh mẽ từ truyền thống sang hiện đại. Nhiều giá trị văn hóa quý báu
của gia đình truyền thống, nhiều giá trị văn hóa tiên tiến của gia đình hiện
đại đang cùng hiện diện trong đời sống gia đình.
Trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn với các công trình
nghiên cứu của nhiều tác giả (1991), Những nghiên cứu xã hội học về gia đình
Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội; Nguyễn Văn Kiều (1983), Gia đình
và những vấn đề của gia đình hiện đại, Nxb. Sự thật; Nguyễn Minh Hòa
(2000), Hôn nhân và gia đình trong xã hội hiện đại, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ
Chí Minh; Trần Thị Kim Xuyến (2002), Gia đình và những vấn đề của gia
đình hiện đại, Nxb.Thống kê, Hà Nội;… trình bày những tranh luận về những
vấn đề chung nhất có liên quan đến những thành quả nghiên cứu xã hội học


9



của GSCMALER MISCMAN và Vũ Mạnh Lợi (Tạp chí xã hội học số
3/1994 – Dự án VIE/88/PO5); Vấn đề gia đình trong sự biến đổi và phát
triển của xã hội của Tương lai (Tạp chí Xã hội học số 3/1998); Đề tài: Bạo
lực giới trong gia đình: thực trạng và giải pháp ngăn chặn của Hoàng Bá
Thịnh (Tạp chí Lý luận chính trị số 3/2003) khẳng định bạo lực gia đình là
một trong những hiện tượng đáng lo ngại nhất của tình trạng khủng hoảng
gia đình hiện nay.
Một số đề tài khác như đề tài: Sự biến đổi của gia đình Việt Nam của
Viện xã hội học (Chủ nhiệm đề tài Vũ Tuấn Huy và Vũ Mạnh Lợi năm 2004);
Đề tài: Phát huy vai trò của gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước của Nguyễn Thị Vân (Tạp chí Phát triển nhân lực số 1/2007);
Đề tài: Những yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong phân công thực
hiện công việc nội trợ giữa vợ và chồng của Phạm Thu Trang (Thông tin
Khoa học xã hội, Hà Nội số 4/2008); Võ Nguyên Du (2000), Một số nội dung
và biện pháp giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ em trong gia đình, Luận án
Tiến sĩ giáo dục, Hà Nội…. nghiên cứu những nhân tố tác động đến biến đổi
gia đình trong thời kỳ CNH, HĐH, gia đình mới ở Việt Nam hiện nay và vấn
đề bình đẳng giới trong gia đình Việt Nam…
Qua các công trình nghiên cứu cho thấy có nhiều quan điểm lý giải
khác nhau về vấn đề gia đình trong đó văn hoá gia đình là chủ đề được nhiều
tác giả đề cập đến. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác
nhau về văn hóa gia đình, do đó việc xác định nội dung, phạm vi, phương
pháp nghiên cứu của văn hóa gia đình cũng khác nhau. Các tác giả xem văn
hóa gia đình thuộc phạm trù những cái đúng, cái đẹp, cái đáng mong ước,
đối lập với cái sai, cái không tốt, cái xấu… Theo hướng tiếp cận này, các
tác giả tập trung nghiên cứu vai trò của gia đình trong việc giữ gìn và phát
huy các giá trị truyền thống của dân tộc, coi văn hóa gia đình truyền thống




12

Nhiệm vụ của luận án: để đạt được mục đích đặt ra, luận án thực hiện
các nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là, trình bày khái luận chung về văn hóa dân tộc và văn hóa gia
đình Việt Nam hiện nay.
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với
việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc trong xây dựng văn hóa gia
đình Việt Nam hiện nay
Ba là, xác định mục tiêu, phương hướng và giải pháp nhằm phát huy
giá trị văn hóa dân tộc trong xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án được trình bày trên cơ sở vận dụng các quan điểm lý luận,
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các
quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời tham khảo, tiếp
thu có lựa chọn những thành tựu lý luận của thế giới về văn hóa dân tộc, gia
đình và văn hóa gia đình.
Trên cơ sở các tài liệu tham khảo, số liệu về giá trị văn hóa dân tộc,
văn hóa gia đình… tác giả đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác
nhau, trong đó phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử và
lôgic, phương pháp khái quát hóa được sử dụng như là phương pháp nghiên
cứu chủ đạo nhằm làm rõ thực trạng việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa
dân tộc trong xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay.
5. Những cái mới của luận án
- Luận án khái quát những giá trị văn hóa dân tộc được thể hiện trong
văn hóa gia đình ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng của việc giữ gìn và phát huy giá trị của văn hóa dân
tộc trong việc xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.


KHÁI LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA,
VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC
TRONG VĂN HÓA GIA ĐÌNH VIỆT NAM
1.1. QUAN NIỆM VỀ VĂN HÓA, GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC

1.1.1. Quan niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm đa tầng, đa nghĩa với ngoại diên rất rộng và
nội hàm phong phú. Cho đến nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về
văn hóa. Mỗi định nghĩa đều góp phần làm rõ khía cạnh khác của văn hóa,
song không phải định nghĩa nào cũng được chấp nhận một cách rộng rãi.
Thuật ngữ "văn hóa" xuất hiện từ rất sớm trong ngôn ngữ nhân loại
(xuất phát từ gốc chữ latinh "Cultura" - có nghĩa là trồng trọt, canh tác). Qua
các thời kỳ lịch sử, khái niệm văn hóa được bổ sung thêm những nội dung
mới. Trong khoảng vài chục năm trở lại đây đã có rất nhiều định nghĩa về
văn hóa. Các định nghĩa đó được hình thành trên cơ sở các phương pháp tiếp
cận khác nhau (như phương pháp nghiên cứu hệ thống - cấu trúc, hay
phương pháp nghiên cứu chức năng của văn hóa); hoặc cũng có thể xuất phát
từ quan điểm lịch đại xem xét văn hóa với tư cách là tiêu chí để phân định
các bước tiến bộ xã hội, hay từ quan điểm đồng đại xem xét văn hóa như là
một trong những tiêu chuẩn để so sánh (phân biệt) trình độ phát triển của các
quốc gia, v.v... Cho đến nay, đánh giá một cách tổng thể, văn hóa vẫn là một
trong những khái niệm phức tạp và khó xác định. Do vậy, mỗi người, từ các
góc độ chuyên môn riêng hay do những mục đích nhận thức khác nhau mà
có những quan niệm hay định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Khái niệm văn hóa thường được tiếp cận ở hai cấp độ lý luận và thực
tiễn. Ở cấp độ lý luận, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần


15


“Mệnh Trời”, ít chú ý tới khuyến khích và giải phóng nhu cầu sáng tạo, cải
tạo hiện thực, mà chỉ lo noi gương, giữ gìn ổn định, kỷ cương phục cổ. Vì
vậy, một phương diện cơ bản của văn hóa là sáng tạo khoa học, phát triển
công nghệ cải tạo hiện thực, phát huy tính tích cực chủ động của con người
bị hạn chế. Do đó, khi giao lưu với phương Tây, khái niệm văn hóa hiểu theo
cách của phương Tây mới du nhập nhanh chóng vào phương Đông, bổ sung
cho những thiếu hụt này.
Thuật ngữ văn hóa, theo quan niệm của châu Âu thì mãi thế kỷ XIX
mới du nhập vào châu Á, đầu tiên là từ Nhật Bản. Nhật Bản, từ thế kỷ VI và
VII đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Trung Quốc, trong đó có cả việc
tiếp nhận rất nhiều ngôn ngữ và văn tự Hán, rồi đồng hóa nó trong ngôn ngữ
và văn tự Nhật Bản.Từ sau phong trào Minh Trị duy tân [1868] cùng với
phát triển kinh tế - xã hội theo con đường tư bản chủ nghĩa phương Tây,
Nhật Bản đã tiếp nhận nhiều thành tựu nghiên cứu khoa học của châu Âu.
Các nhà khoa học, các tri thức Nhật Bản đã dịch nhiều thuật ngữ khoa học của
châu Âu ra tiếng Nhật Bản, vốn có nguồn gốc từ tiếng Hán. Thấm sâu quan
niệm của phương Đông về văn hóa, Yukichi (1835 – 1910) là người đầu tiên đã
dùng từ văn hóa để dịch thuật ngữ Culture của Châu Âu sang tiếng Nhật.
Ở phương Tây, thuật ngữ văn hóa có gốc từ tiếng Latinh là “Cultus”.
Văn hóa có nghĩa là: “Trồng trọt” được dùng theo hai nghĩa: trồng trọt ngoài
đồng ruộng và trồng trọt tinh thần. Như vậy, ngay từ thời cổ đại, văn hóa đã
được quan niệm là những hoạt động gắn liền với giáo dục, đào tạo con
người, bồi dưỡng, chăm sóc để con người ngày càng hoàn thiện hơn về
nhân cách (của cá nhân và của cộng đồng). Mặc dù vậy, từ thời kỳ phục
hưng của phương Tây trở lại đây, khái niệm văn hóa mới được quan tâm
nghiên cứu như một thuật ngữ khoa học mới. Thời kỳ phục hưng là thời kỳ
xuất hiện một cuộc vận động văn hóa rộng lớn và sâu sắc lôi cuốn cả châu


17

18

của mình về văn hóa. Tuy nhiên toàn bộ tư tưởng của C. Mác về vấn đề này
tự nó lại được khái quát lên và thể hiện ra trong hệ thống các quan điểm duy
vật biện chứng của C.Mác về con người và xã hội. Trong triết học Mác, bản
chất của văn hóa được thể hiện trong mối quan hệ biện chứng với bản chất
của con người và xã hội. Đến Lênin, vấn đề văn hóa và vai trò của văn hóa
càng được chú ý hơn. Lênin nhận thức rõ vị trí to lớn của vấn đề văn hóa.
Người nhận thức sâu sắc rằng mọi sự trì trệ yếu kém trong tổ chức kinh tế,
trong quản lý xã hội của đất nước đều bắt nguồn từ trình độ văn hóa thấp kém
trong đội ngũ cán bộ và nhân dân. Người đòi hỏi phải quan tâm đến sự nghiệp
giáo dục, và nếu cần thì phải cắt giảm kinh phí của các bộ, các ngành để dành
cho giáo dục.
Thuật ngữ văn hóa có rất nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái
niệm có nội hàm hết sức khác nhau. Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng
theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống
văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn
(văn hóa Đông Sơn),... “Đề cương về văn hóa Việt Nam của Đảng Cộng
sản Đông Dương năm 1943 đã xếp văn hóa bên cạnh kinh tế, chính trị và
xem nó bao gồm cả tư tưởng, học thuật (khoa học, giáo dục), nghệ thuật. Ủy
ban UNESCO của Liên hiệp quốc thì xếp văn hóa bên cạnh khoa học và giáo
dục, tức là đặt hai lĩnh vực này ra ngoài khái niệm văn hóa.Văn hóa không
chỉ gắn liền với xã hội, với tự nhiên mà còn gắn với sự phát triển của chính
bản thân con người; gắn với các phương thức hoạt động, các thiết chế nền
tảng của đời sống xã hội như thiết chế lao động, thiết chế tín ngưỡng, thiết
chế gia đình… ederico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: Đối với
một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác trong các lĩnh vực tư duy
và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm
cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status