chủ trương của đảng về bảo vệ môi trường tu nam 1996 den nam 2010 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

MAI THỊ DUYÊN

CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG VỀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Hà Nội-2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

MAI THỊ DUYÊN

CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG VỀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Vũ Quang Hiển

Hà Nội-2012

1


Tiểu kết ................................................................................................ 94
Kết luận ........................................................................................................ 96
Tài liệu tham khảo ...................................................................................... 98
Phụ lục

2


DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

ADB

Ngân hàng phát triển Châu Á

AFTA

Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á

APEC

Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình
Dƣơng

ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á



Chƣơng trình Liên hợp quốc về phát triển

UNEP

Chƣơng trình Liên hợp quốc về môi trƣờng

UNIDO

Tổ chức Liên hợp quốc về phát triển công
nghiệp

WB

Ngân hàng thế giới

WTO

Tổ chức thƣơng mại thế giới

WWF

Quỹ Quốc tế bảo vệ động vật hoang dã

3


Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Môi trƣờng có vai trò rất quan trọng đối với đời sống con ngƣời, ảnh

Đảng và Nhà nƣớc sớm nhận thức rõ tầm quan trọng và mối quan hệ
gắn kết giữa phát triển kinh tế - xã hội và công tác BVMT, đặc biệt là trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH đất nƣớc.
Chỉ thị 36 - CT/TW, ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị Trung
ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường
trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” đã chỉ rõ:“Bảo vệ môi
trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ có tính
xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xoá đói giảm nghèo ở mỗi nước, với
cuộc đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới”.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh chủ trƣơng BVMT của Đảng là hoàn
toàn đúng đắn, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Nhờ có những
chủ trƣơng đó nên chất lƣợng môi trƣờng đã có nhiều thay đổi và đạt nhiều
kết quả, góp phần nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho nhân dân.
Việc đánh giá đầy đủ, khách quan, sự lãnh đạo của Đảng về BVMT là
một việc làm rất cần thiết. Từ đó tổng kết, rút kinh nghiệm, góp phần tiếp tục
hoàn thiện hơn nữa đƣờng lối của Đảng đối với nhiệm vụ BVMT, góp phần
quan trọng vào mục tiêu phát triển bền vững của đất nƣớc. Vì lý do đó, tôi
chọn đề tài "Chủ trương của Đảng về bảo vệ môi trường từ năm 1996 đến
năm 2010" làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản
Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay có một số công trình nghiên cứu về vấn đề môi trƣờng
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH đất nƣớc nhƣ:
Môi trường những kiến thức phổ cập của Hội BVMT Giao thông vận
tải, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội, 2002. Ngoài những kiến thức cơ bản về

5


môi trƣờng và những vấn đề chung, cuốn sách còn dành một phần cho những

Nam của TS. Trần Hồng Hà - Quyền Cục trƣởng Cục Bảo vệ Môi trƣờng- Bộ
Tài nguyên và Môi trƣờng. Báo cáo này đã nêu lên vai trò của BVMT trong
sự nghiệp PTBV và công tác BVMT của Việt Nam trƣớc năm 2004. Hai báo
cáo trên đây xoay quanh vấn đề PTBV và đề cập rất ít đến chủ trƣơng, chính
sách của Đảng về BVMT.
Tuyển tập các báo cáo khoa học hội nghị môi trường toàn quốc 2005,
Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng; Tuyển tập các báo cáo khoa học hội nghị môi
trường toàn quốc 2010, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng. Những tuyển tập này
đã tập hợp các báo báo của các ban, ngành về từng lĩnh vực môi trƣờng cụ
thể, mang tính chuyên ngành, chủ yếu phản ánh hiện trạng môi trƣờng chứ
không đề cập đến những chủ trƣơng, chính sách của Đảng về vấn đề BVMT.
Ngoài ra có một số bài viết của các nhà nghiên cứu đăng trên các tạp
chí lý luận nhƣ: Bảo vệ môi trường trước những yêu cầu mới của thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước của Chu Thái Thành- Tạp chí
Cộng sản, số 1 năm 2005. Bài viết đã nêu lên những thách thức trong vấn đề
môi trƣờng ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH, đồng thời nêu
quan điểm của Đảng về vấn đề BVMT trong Nghị quyết 41- NQ/TW và đề ra
những nhiệm vụ cụ thể.
Nhìn chung, cho đến nay chƣa có một công trình nghiên cứu nào đề cập
đến “Chủ trương của Đảng về bảo vệ môi trường từ năm 1996 đến năm
2010”, vì vậy, ngƣời viết hy vọng luận văn sẽ góp một phần nhỏ bé làm sáng
tỏ vấn đề mới này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích
Nghiên cứu chủ trƣơng của Đảng về BVMT từ năm 1996 đến năm
2010 nhằm mục đích rút ra một số bài học kinh nghiệm và sự lãnh đạo của
Đảng đối với nhiệm vụ BVMT trong giai đoạn hiện nay.

7




- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phƣơng pháp chuyên ngành nhƣ:
+ Phƣơng pháp lịch sử đƣợc sử dụng để trình bày nội dung vấn đề
nghiên cứu.
+ Phƣơng pháp lôgíc đƣợc sử dụng trong các phần khái quát, tổng kết,
đánh giá của luận văn.
Ngoài ra luận văn còn kết hợp các phƣơng pháp nhƣ phân tích, tổng
hợp, thống kê, so sánh, …
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Hệ thống hoá chủ trƣơng của Đảng trong lãnh đạo BVMT từ năm
1996 đến năm 2010.
- Phân tích đánh giá một cách khách quan, khoa học thành tựu và hạn chế
trong công tác lãnh đạo của Đảng về BVMT, góp phần đẩy mạnh phát triển bền
vững trong quá trình đẩy mạnh CNH- HĐH từ năm 1996 đến năm 2010.
- Rút ra một số kinh nghiệm của Đảng về lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ
BVMT.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng tham khảo trong nghiên
cứu lịch sử Đảng trong thời kỳ đổi mới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1. Chủ trƣơng của Đảng về bảo vệ môi trƣờng từ năm 1996 đến
tháng 10/ 2004
Chƣơng 2. Chủ trƣơng của Đảng về đẩy mạnh bảo vệ môi trƣờng từ
tháng 11/2004 đến năm 2010
Chƣơng 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm rút ra

9

10


loại khoáng vật nhƣ sắt đƣợc 173 năm, than đƣợc 150 năm, nhôm đƣợc 55
năm, đồng đƣợc 48 năm, vàng đƣợc 29 năm; các nguồn tài nguyên sinh vật,
rừng rậm trong 170 năm nữa sẽ bị triệt hạ, trong đó rừng mƣa nhiệt đới có thể
hết nhẵn sau 40 năm nữa.
Bƣớc vào thế kỷ XXI, trong rất nhiều thách thức mà nhân loại sẽ phải
đƣơng đầu, tình trạng môi trƣờng suy thoái và biến đổi bất lợi sẽ tiếp tục là
một trong những thách thức nghiêm trọng nhất, trong đó nổi lên một số vấn
đề đặc biệt quan trọng. Đó là vấn đề ô nhiễm và suy thoái về môi trƣờng, vấn
đề nóng lên của trái đất, suy giảm tầng ôzôn, và sự đe doạ đối với sự đa dạng
sinh học.
Tăng trƣởng kinh tế là điều cốt yếu để giảm nghèo khổ. Nhƣng tăng
trƣởng thƣờng gây ra những nguy hại về môi trƣờng rất nghiêm trọng. Cùng
với những lợi ích thu đƣợc, sự thay đổi nhanh chóng này đã và đang gây tác
hại nghiêm trọng trở lại đến môi trƣờng sống của chính con ngƣời. Nguyên
nhân sâu xa của khủng hoảng môi trƣờng bắt nguồn từ mô hình phát triển lấy
tăng trƣởng kinh tế làm trọng tâm, khuyến khích một xã hội tiêu thụ, dựa trên
nền tảng những phát minh công nghệ tiêu tốn năng lƣợng, tài nguyên và gây ô
nhiễm, sự trốn tránh trách nhiệm đối với thế hệ tƣơng lai thông qua việc
không nội bộ hoá các chi phí môi trƣờng và lạm dụng quá mức tài nguyên
cũng nhƣ không gian môi trƣờng.
Nếu các quốc gia không liên kết để chấm dứt sự suy thoái môi trƣờng
thì dự báo đến năm 2030 nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng khoảng 3 0C, sự suy thoái
tài nguyên và môi trƣờng sẽ dẫn nhân loại đến cuộc đại khủng hoảng của thế
kỷ XXI, tạo ra một vòng xoáy làm tan rã xã hội loài ngƣời (theo UNDP,
1990). Cuộc đại khủng hoảng thế kỷ này sẽ là sự chồng chất những vấn đề
nan giải nhƣ nạn đói, ô nhiễm và suy thoái hệ nuôi dƣỡng sự sống, dịch bệnh,
xung đột môi trƣờng và tỵ nạn môi trƣờng hàng loạt, biến động khí hậu khó

tính toàn cầu về dân số, lƣơng thực, năng lƣợng, nguyên liệu cũng đang tác

12


động ngày càng rõ rệt tới thiên nhiên và môi trƣờng của Việt Nam.
Cụ thể là:
1. Thảm rừng, tài nguyên vô giá, nhân tố cơ bản của chất lƣợng môi
trƣờng trong điều kiện của một nƣớc nhiệt đới, đã suy tàn quá mức cho phép
và đang tiếp tục giảm với một tốc độ đáng sợ.
2. Tài nguyên đất, vốn đã vào loại thấp nhất trên thế giới, đang tiếp
tục suy giảm và thoái hoá, trị số diện tích đất bình quân trên đầu ngƣời xuống
tới mức rất thấp do dân số phát triển quá nhanh.
3. Tài nguyên khoáng sản đang bị lãng phí trầm trọng.
4. Tài nguyên thuỷ sản, hải sản vùng cửa sông ven biển đang cạn kiệt,
suy thoái do bị khai thác bừa bãi, quá mức hồi phục tự nhiên.
5. Tài nguyên di truyền trong các loài động vật, thực vật quý hiếm của
Việt Nam đang bị mai một nhanh chóng, khó hồi phục.
6. Môi trƣờng không khí, nƣớc, đất đai các đô thị, khu dân cƣ tập trung,
khu công nghiệp đã có hiện tƣợng ô nhiễm nặng, ảnh hƣởng rõ rệt đến sức
khoẻ của nhân dân.
7. Một số vùng công nghiệp đã có hiện tƣợng ô nhiễm hoá học, gây
nguy hiểm đối với đời sống nhân dân.
8. Một số hậu quả của chiến tranh đối với tài nguyên và môi trƣờng
chậm đƣợc khôi phục. Các chất độc hoá học đã và đang gây ra những hậu quả
nghiêm trọng đối với thiên nhiên và môi trƣờng Việt Nam.
Tình hình nghiêm trọng nói trên đòi hỏi Việt Nam phải có chính sách
quốc gia hợp lý, tích cực về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng,
nhằm kịp thời ngăn chặn xu thế suy thoái tài nguyên thiên nhiên và môi
trƣờng, tận dụng tài nguyên tái tạo đƣợc với yêu cầu bảo đảm cân bằng sinh

trọng của nhà nƣớc.
Trong thời kỳ mới, đẩy mạnh CNH – HĐH đất nƣớc. Trƣớc những yêu
cầu mới của sự phát triển kinh tế xã hội, nhiệm vụ BVMT đặt ra ngày càng
cấp bách. Trong dự thảo chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000

16


của đất nƣớc, vấn đề môi trƣờng đã đƣợc coi là một vấn đề hết sức cấp bách.
Cần phải có các thay đổi cơ bản về chiến lƣợc và chính sách BVMT, phát
triển bền vững đất nƣớc. Để làm đƣợc điều đó đòi hỏi phải tăng cƣờng hơn
nữa sự lãnh đạo của Đảng, đòi hỏi nhận thức của Đảng về nhiệm vụ BVMT
phải đầy đủ hơn nữa, phải có những chính sách, chủ trƣơng đúng đắn, kịp
thời mang tính chất định hƣớng góp phần BVMT, đẩy mạnh quá trình CNH –
HĐH đất nƣớc.
1.1.2. Chủ trương của Đảng
Cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, CNXH tạm
thời lâm vào thoái trào sau sự sụp đổ của Đông Âu và Liên Xô, tuy nhiên, loài
ngƣời vẫn đang trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH.
Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày
càng cao, tăng nhanh lực lƣợng sản xuất, đồng thời thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền kinh tế và đời sống xã hội. Quốc tế hoá
và khu vực hoá nền kinh tế thế giới đã và đang trở thành xu hƣớng chủ đạo,
thu hút nhiều quốc gia tham gia.
Bên cạnh đó, cộng đồng thế giới đứng trƣớc nhiều vấn đề có tính toàn
cầu nhƣ vấn đề môi trƣờng, nguy cơ bùng nổ dân số, ngăn ngừa và đẩy lùi
bệnh tật hiểm nghèo, ...không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết,
mà phải có sự hợp tác đa phƣơng.
Bối cảnh quốc tế nói trên ảnh hƣởng lớn đến công cuộc đổi mới, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

hợp lý tài nguyên và BVMT sinh thái. Tiến hành khẩn trƣơng việc điều tra ô
nhiễm môi trƣờng; điều tra, đánh giá việc khai thác không hợp lý các nguồn
tài nguyên thiên nhiên gây tổn hại đến môi trƣờng và đề ra các biện pháp khắc
phục hữu hiệu. Thực hiện các dự án về cải tạo, BVMT, xây dựng các vƣờn
quốc gia, khu rừng cấm, trồng cây xanh ở đô thị và các khu công nghiệp; áp
dụng các kỹ thuật tiên tiến để xử lý các chất độc hại, chất thải. Các quy hoạch,

18


các dự án phát triển kinh tế - xã hội, các dự án đầu tƣ nƣớc ngoài và các công
trình xây dựng cơ bản đều phải đƣợc xem xét đánh giá về mặt tác động đối
với môi trƣờng và có biện pháp xử lý. Giải quyết dứt điểm tình trạng suy
thoái môi trƣờng do các cơ sở sản xuất gây ra. Ngăn chặn tận gốc việc gây ô
nhiễm môi trƣờng, trƣớc hết là nƣớc và không khí trong quá trình CNH- HĐH
đất nƣớc. Đƣa diện tích phủ xanh đất trống lên đạt mức an toàn sinh thái, bảo
toàn đa dạng sinh học ở đất liền và ở biển. Bảo đảm môi trƣờng lao động, sinh
hoạt cho con ngƣời ở các khu công nghiệp, các đô thị, vệ sinh môi trƣờng
nông thôn. Tăng cƣờng công tác quản lý môi trƣờng ở tất cả các lĩnh vực,
tăng cƣờng điều kiện bảo đảm thực hiện Luật BVMT.
Với đƣờng lối chủ trƣơng của Đảng, hoạt động BVMT của Việt Nam
đã đạt đƣợc những kết quả bƣớc đầu, đã xuất hiện những gƣơng ngƣời tốt,
việc tốt về BVMT. Tuy nhiên, việc BVMT ở Việt Nam hiện chƣa đáp ứng
yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới. Nhìn
chung môi trƣờng vẫn tiếp tục bị ô nhiễm và suy thoái, có nơi nghiêm trọng.
Việc thi hành pháp luật BVMT chƣa nghiêm minh, ý thức tự giác bảo vệ và
giữ gìn môi trƣờng công cộng chƣa trở thành thói quen trong cách sống của
đại bộ phận dân cƣ.
Rừng tiếp tục bị tàn phá nặng nề, khoáng sản bị khai thác bừa bãi. Đất
đai bị xói mòn và thoái hoá; đa dạng sinh học trên đất liền và dƣới biển đều bị

Mục tiêu: Ngăn ngừa ô nhiễm môi trƣờng, phục hồi và cải thiện môi
trƣờng của những nơi, những vùng đã bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học,
từng bƣớc nâng cao chất lƣợng môi trƣờng ở các khu công nghiệp, đô thị và
nông thôn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao chất lƣợng
cuộc sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp CNH - HĐH đất nƣớc.
Phấn đấu đến năm 2000 phải đạt đƣợc các mục tiêu về bảo vệ môi trƣờng mà
Đại hội VIII của Đảng đã đề ra.
Các quan điểm cơ bản của Bộ Chính trị là:

20


- BVMT là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.
- BVMT là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đƣờng lối,
chủ trƣơng và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các
ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi
sự nghiệp CNH- HĐH đất nƣớc.
- Coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo kết hợp
với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trƣờng và bảo tồn thiên nhiên.
- Kết hợp phát huy nội lực với tăng cƣờng hợp tác quốc tế trong BVMT
và phát triển bền vững.
Nhƣ vậy, ngay từ đầu Đảng đã rất quan tâm đến vấn đề BVMT. Thông
qua Chỉ thị số 36-CT/TW, về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Đảng đã xác định cụ thể
quan điểm, mục tiêu cũng nhƣ các giải pháp cụ thể cho công tác BVMT. Đây
đƣợc coi là yêu cầu tất yếu nhằm đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp CNH –
HĐH đất nƣớc. Chỉ thị số 36-CT/TW là văn bản đầu tiên có tính chất định
hƣớng cho công tác BVMT ở Việt Nam.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (19/4-22/4/2001) với mục tiêu:
Đƣa đất nƣớc ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật

mƣơng... Thực hiện các dự án về cải tạo, BVMT: xây dựng vƣờn quốc gia,
khu rừng cấm, trồng cây xanh, giữ gìn đa dạng sinh học, bảo tồn các nguồn
gen di truyền, xây dựng các công trình làm sạch môi trƣờng.
Đảm bảo sử dụng hợp lý tài nguyên, phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp
CNH - HĐH; tiết kiệm và tiết chế sử dụng tài nguyên không tái tạo đƣợc.
Tăng cƣờng kiểm tra và giám sát môi trƣờng trong từng dự án đầu tƣ và từng
quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành, các vùng lãnh thổ. Áp dụng các
công nghệ và quy trình sản xuất ít chất thải, ít gây ô nhiễm môi trƣờng.
Đại hội đã đề ra định hƣớng, cơ chế, chính sách và các giải pháp chủ
yếu thực hiện kế hoạch 5 năm 2001- 2005. Trong đó vấn đề BVMT đƣợc

22


Đảng quán triệt: hình thành khung pháp luật, chính sách về bảo vệ và cải
thiện môi trƣờng theo hƣớng gắn chính sách kinh tế với chính sách BVMT;
huy động sự tham gia và đóng góp của mọi tầng lớp dân cƣ, của doanh
nghiệp và các tổ chức xã hội vào lĩnh vực BVMT; tổ chức thực hiện các quy
định pháp luật về môi trƣờng, các chính sách môi trƣờng thích hợp, nhất là
chính sách thuế, phí môi trƣờng, các loại quỹ môi trƣờng …
Tuy nhiên, tình hình kinh tế xã hội nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn
yếu kém. Nhiều vấn đề xã hội môi trƣờng đặt ra rất bức xúc. Môi trƣờng đô
thị, khu công nghiệp tập trung và một số vùng nông thôn bị ô nhiễm ngày
càng nặng. Cơ chế chính sách về môi trƣờng còn thiếu đồng bộ, nhận thức về
BVMT của cộng đồng dân cƣ còn nhiều hạn chế.
Nếu trƣớc kia nhận thức của Đảng về vấn đề BVMT còn chƣa cụ thể và
chƣa có những đƣờng lối chính sách cụ thể, kịp thời thì ở thời kỳ 1996- 2004
nhận thức của Đảng về nhiệm vụ BVMT từng bƣớc cụ thể và toàn diện hơn.
Những chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng ngày càng phù hợp với tình hình phát
triển kinh tế xã hội của đất nƣớc và xu thế chung của thế giới. Chỉ thị 36 của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status